B GI O D C V O T OỘ Á Ụ À ĐÀ Ạ
Trường Đại học Quản lý và Kinh doanh Hà Nội
ĐỀ TÀI: Các giải phâp nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh của Công ty
Điện tử Sao Mai
1
Lời mở đầu
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), cơ chế quản lý kinh tế nước ta có sự
biển đổi sâu sắc, Nhà nước đã chuyển đổi cơ chế từ một nền kinh tế quan liêu bao cấp
sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.
Chính sự đổi mới đó đã tác động rất lớn tới kinh tế xã hội của đất nước, làm cho kinh tế
nước ta ngày càng phát triển ổn định với tốc độ nhanh. Đất nước đang bước vào thời kỳ
mới, thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hóa theo định hướng XHCN, thì những doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh chiếm một vị trí hết sức quan trọng, nhất là đối với những
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Điện tử - điện dân dụng. Tuy nhiên các mặt hàng đó
hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn do sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp
trong nước và nước ngoài. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các mặt hàng điện tử -
điện dân dụng muốn làm ăn có lãi và không ngừng phát triển thì phải biết nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh của mình bằng những biện pháp đồng bộ và phù hợp.
Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề này, sau một thời gian thực tập và tìm hiểu tại
Công ty Điện tử Sao Mai em đã chọn đề tài “Các giải phâp nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh của Công ty Điện tử Sao Mai” làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
- Chương I: Những vấn đề chung về hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Chương II: Thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty Điện tử Sao Mai
những năm gần đây
- Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất KINH DOANH của
Công ty Điện tử Sao mai .
2
Chương I
Những vấn đề chung về hiệu quả sản xuất kinh doanh
trong quá trình sản xuất và tiêu thụ đảm bảo quá trình tái sản xuất giản đơn. Mặt khác
thông qua tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệp mới có thể thực hiện được giá trị lao động
thặng dư, nghĩa là thu được lợi nhuận từ các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng được xem xét,
đánh giá từ hai quan điểm: chức năng xã hội và chức năng kinh tế.
Từ quan điểm xã hội (chức năng xã hội) các doanh nghiệp phải đảm bảo sản xuất và cung
ứng một lượng sản phẩm nhất định với những yêu cầu cụ thể về chủng loại, chất lượng
cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội bao gồm cả nhu cầu trong sản xuất và nhu cầu trong tiêu
dùng hàng ngày.
Từ quan điểm kinh tế (chức năng kinh tế) các doanh nghiệp không thể thực hiện chức
năng xã hội bằng mọi giá mà phải lấy thu nhập từ tiêu thụ để bù đắp được toàn bộ chi phí
sản xuất đã chi ra và đảm bảo thu được doanh lợi. Như vậy có doanh lợi hay không có
doanh lợi phản ánh việc thực hiện hay không thực hiện được chức năng kinh tế của các
doanh nghiệp.
Cuối cùng các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh được hay không cũng còn tùy thuộc một
phần vào sự can thiệp của Nhà nước trong từng giai đoạn khác nhau và đối với từng loại
mặt hàng khác nhau.
Vì vậy, có nhiều nguyên nhân và nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp có hiệu quả, điều này mới đưa ra được những biện pháp cần thiết, phù
hợp nhằm tăng nhanh khối lượng hàng hoá được sản xuất ra cũng như khối lượng hàng
hoá được tiêu thụ. Như vậy vừa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của xã hội vừa tăng
được lợi ích của bản thân doanh nghiệp.
4
2. Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh
doanh
Có nhiều cách hiểu về khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh, theo em khái niệm sau:
“Hiệu quả sản xuất kinh doanh là chỉ tiêu tổng hợp, đánh giá sự phát triển kinh tế theo
chiều sâu, phản ánh sự khai thác các nguồn lực một cách tốt nhất phục vụ các mục tiêu
kinh tế của doanh nghiệp”, là hợp lý hơn cả.
3. Phân loại hiệu quả sản xuất kinh
nguồn lực xã hội, công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động
Hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh được thể hiện qua một hệ thống
tiêu sau:
1. Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tổng hợp
Để đánh giá hiệu quả kinh tế thì chỉ tiêu tổng hợp là rất quan trọng và cần thiết, phản ánh
toàn bộ quá trình sử dụng nguồn lực để kinh doanh.
1.1. Chỉ tiêu tương đối
- Sức sản xuất của một đồng chi phí bỏ ra kinh doanh.
H
1
= D/F
Trong đó: H
1
: chỉ tiêu hiệu quả
D = tổng doanh thu trong kỳ.
F = tổng chi phí sử dụng trong kỳ.
Chỉ tiêu này la sự so sánh giữa doanh thu đạt được với toàn bộ chi phí lao động sống và
lao động vật hoá mà doanh nghiệp bỏ ra trong kỳ sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp sử
dụng chi phí một cách có hiệu quả thì chỉ tiêu này sẽ cao.
6
- Sức sinh lợi của 1 đồng chi phí bỏ ra kinh doanh.
H
2
= L/F
Trong đó: H
2
: chỉ tiêu hiệu quả
L : Lợi nhuận đạt được trong kỳ.
Chỉ tiêu này phản ánh khi sử dụng 1 đồng vốn chi phí kinh doanh thì lợi nhuận đạt được
là bao nhiêu. Và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được phản ánh bằng lợi
W = Q
2
/T
Trong đó: Q
2
: giá trị tổng sản lượng (tính theo giá cố định hay giá hiện hành).
T: số lượng công nhân (công nhân viên)
2.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định được tính bằng nhiều chỉ tiêu, nhưng phổ biến là các chỉ
tiêu sau:
- Sức sản xuất của tài sản cố định
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng TSCĐ bình quân đem lại mấy đồng doanh thu thuần (hay
giá trị sản lượng)
- Sức sinh lời của TSCĐ
Chỉ tiêu này cho biết một đồng TSCĐ bình quân đem lại mấy đồng lợi nhuận (hay lãi
gộp).
- Suất hao phí TSCĐ
8
Tổng doanh thu thuần (hoặc giá trị TS
lượng)
Sức sản xuất của TSCĐ =
Giá trị TSCĐ bình quân
Lợi nhuận thuần (hay lãi gộp)
Sức sinh lời của TSCĐ =
Giá trị TSCĐ bình quân
2
: chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn
V : tổng số vốn sử dụng bình quân trong kỳ
L : lợi nhuận
Hai chỉ tiêu trên phản ảnh trình độ sử dụng vốn, cho biết bỏ ra một đồng vốn thì thu được
bao nhiều đồng doanh thu và bao nhiêu đồng lợi nhuận.
9
Chương II
Thực trạng hiệu quả sản xuất KINH DOANH của Công ty Điện tử Sao Mai những năm
gần đây
I. Khái quát về Công ty Điện tử Sao Mai
1. Quá trình hình thành và phát triển
Công ty Điện tử Sao Mai thuộc tổng cục Công nghiệp Quốc phòng - Bộ Quốc phòng,
được thành lập và phát triển từ một cơ sở nghiên cưu linh kiện bán dẫn trực thuộc viện Kỹ
thuật Quân sự - Bộ Quốc phòng. Ngày 15/9/1979, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)
ra quyết định số 329/CP về việc thành lập Xí nghiệp Điện tử với nhiệm vụ sản xuất các
loại linh kiện tích cực như các loại bán dẫn, điốt
Trên cơ sở đó, Bộ Quốc phòng đã ra quyết định số 920/QĐ-QP ngày 15/9/1979 về việc
thành lập nhà máy sản xuất bóng bán dẫn và các linh kiện có ký hiệu là Z181 trực thuộc
Tổng cục Kỹ thuật (nay là Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng). Nhiệm vụ được giao cụ
thể trong giai đoạn này là tham gia trong “Liên hiệp các xí nghiệp điển tử” của Nhà nước.
Khi mới bắt đầu thành lập, Công ty có 305 người với 16 đầu mối, 9 phòng ban, 7 phân
xưởng.
Trong quá trình phát triển từ (1979) Công ty cũng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong giai
đoạn 1979 - 1989 bởi lúc này ngành Công nghiệp điện tử là một ngành hoàn toàn mới
trong nền kinh tế quốc dân. Sản phẩm do nhà máy sản xuất ra lúc này chủ yếu dành cho
xuất khẩu sang Đông Âu. Nhưng dù trong hoàn cảnh khó khăn như vậy cán bộ công nhân
viên trong Công ty vẫn động viên nhau cố gắng hoàn thành nhiệm vụ.
Từ 1990 trở lại đây, do tình hình Đông Âu biến động thị trường xuất khẩu sang Đông Âu
bị cắt đứt. Vì vậy, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ra quyết định số 293/QĐCP ngày
hành chính, đời sống hậu cần
- Phòng Kế hoạch tổng hợp: có nhiệm vụ tham mưu quản lý các mặt công tác, giá thành,
lao động, nhân sự, chế độ tiền lương
- Phòng Tài chính: có nhiệm vụ tham mưu và đảm bảo tài chính cho các hoạt động của
Công ty, theo dõi, kiểm tra, giám sát hoạt động tài chính kế toán của Công ty. Hỗ trợ công
tác tài chính của các đơn vị thành viên.
- Phòng Thị trường - Hợp tác - Đầu tư: có nhiệm vụ tiếp cận thị trường trong và ngoài
nước. Tham mưu cho giám đốc khả năng sản xuất kinh doanh cũng như giới thiệu và phát
triển sản phẩm mới, giới thiệu quảng cáo sản phẩm, tổ chức liên doanh
- Ban Chính trị: có nhiệm vụ tổ chức thực hiện công tác Đảng, công tác chính trị, dân vận
và công tác quần chúng.
2.4. Các đơn vị hạch toán đôc lập
- Viện nghiên cứu điện tử
- Xí nghiệp khí công nghiệp 81
- Xí nghiệp linh kiện điện tử
- Xí nghiệp thiết bị điện tử
- Xí nghiệp trang thiết bị công trình
- Xí nghiệp nhựa xốp
12
2.5. Các đơn vị trực thuộc
- Phân xưởng cơ khí điện tử
- Phân xưởng hoá chất
- Các tổ cơ khí (T1, T3 )
- Phân xưởng sản xuất quạt điện - đồng hồ (T2)
II. Môi trường kinh doanh của công ty
Công ty Điện tử Sao Mai là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động trên địa bàn rất rộng
rãi, nhiều ngành hàng và kết hợp cả sản xuất kinh doanh một cách hiệu quả. Tuy vậy
trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay công ty cũng bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố
khác nhau. Nhưng cán bộ công nhân viên trong công ty cũng đã có những biện pháp phù
hợp nhằm cải thiện môi trường kinh doanh của mình. cụ thể:
tích cực trước những nhà cung cấp chính, cho nên khi thị trường biến động mạnh về giá
cả cũng như khả năng cung cấp thì công ty vẫn đủ hàng để đáp ứng nhu cầu của thị
trường, đảm bảo kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty. Uy tín của công ty ngày một
nâng cao thu hút sự hấp dẫn của khách hàng đối với sản phẩm hàng hóa của công ty. Vì
vậy khách hàng của công ty ngày càng tăng và họ rất tin tưởng vào các sản phẩm của
công ty.
II. Tình hình sản xuất KINH DOANH của
Công ty trong thời gian qua
1. Những mặt hàng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Công ty điện tử Sao Mai là đơn vị sản xuất kinh doanh rất đa dạng với những sản phẩm
chính phục vụ nhu cầu tiêu dùng thường xuyên đặc biệt là các loại xe gắn máy 2 bánh,
tivi màu, máy tính, gia công cơ khí, hàng điện gia dụng với tính chất của sản phẩm được
lắp ráp từ các bộ linh kiện CKD, IKD của nước ngoài, đạt chất lượng tốt và ổn định.
Do yêu cầu của kỹ thuật sản xuất, việc lắp ráp bán thành sản phẩm qua mỗi giai đoạn phải
đúng yêu cầu kỹ thuật để chuyển qua các giai đoạn tiếp sau. Bán thành sản phẩm yêu cầu
14
phải có chất lượng cao, phải đảm bảo các thông số kỹ thuật mới chuyển giai đoạn kế tiếp,
vì vậy sản phẩm của công ty tương đối đồng đều.
Ngoài ra các sản phẩm điện dân dụng, máy tính cũng có yêu cầu bảo quản rất cẩn thận vì
đây là những mặt hàng nguyên chiếc nếu không tuân thủ quy trình bảo quản thì sẽ khó
được khách hàng chấp nhận.
Do tính chất ngành hàng rất đa dạng cho nên tất cả các yêu cầu cụ thể đều được công ty
đáp ứng để thoả mãn nhu cầu của khách hàng, cho dù đó là sản phẩm thời vụ hay thường
xuyên, giá trị to hay nhỏ Do quan tâm đến chất lượng sản phẩm cũng như phong cách
phục vụ nên thị phần của công ty ngày càng nâng cao và thị trường ngày càng mở rộng.
2. Phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
* Tình hình tiêu thụ sản phẩm
Bảng 2: Giá trị hàng hoá dịch vụ bán ra của Công ty trong 2 năm 2002 - 2003
(Đơn vị tính: Triệu động)
TT Tên mặt hàng
thành quả đã đạt được.
Qua bảng 2, ta cũng thấy có 2 mặt hàng của Công ty có doanh thu giảm, đó là sản phẩm
tivi và máy tính, bởi trong thời gian gần đây hầu hết các doanh nghiệp lắp ráp và kinh
doanh sản phẩm tivi ở nước ngoài cũng như các hãng lớn trong nước đã tung ra vô số
chủng loại với giá cả cạnh tranh, thêm vào đó hàng nhập lậu cũng gia tăng nhanh chóng.
Chính vì vậy, Công ty đã chủ động cắt giảm sản lượng tivi, tập trung nguồn vốn để kinh
doanh các sản phẩm khác có lợi nhuận cao và các mặt hàng có khả năng phát triển tốt
hơn, tạo điều kiện phát triển vững chắc cho doanh nghiệp trên mọi lĩnh vực.
Hướng đi của Công ty Điện tử Sao Mai là hoàn toàn đúng và phù hợp với thị trường cũng
như nền kinh tế. Biểu hiện qua doanh thu của các mặt hàng có lợi nhuận cao như xe máy,
dịch vụ xây lắp đường dây và trạm, dịch vụ gia công cơ khí, đặc biệt là sản phẩm hoá chất
Ca(OH)
2
để cung cấp cho công ty bạn và khu chế xuất, khu công nghiệp đang rất cần.
Bảng 3: Giá trị hàng mua vào năm 2002 - 2003
Đơn vị tính: triệu đồng
TT Tên mặt hàng
Thực hiện
2002
Thực hiện
2003
So sánh năm 2002 với 2003
Số tuyệt đối Tỷ lệ (%)
16
1 Linh kiện xe máy 10.702 19.150 8.430 178,6
2 Vôi củ 63 98 35 155,5
3 NVL Gia công cơ khí 725 1.132 407 156,1
4 NVL đường dây và trạm 1.190 2.400 1.210 201,6
5 Điện gia dụng 2.490 3.650 1.160 146,5
6 Nhập khẩu linh kiện TV 16.727 11.000 -5.727 65,7
mặt hàng tivi và máy tính là mặt hàng bị thị trường cạnh tranh gay gắt, Công ty đã chủ
động không đầu tư nhiều thì toàn bộ các mặt khác của Công ty đều đạt doanh thu tăng
đáng kể. Đây là kết quả của việc Công ty đã biết khai thác đúng hướng nhu cầu của thị
trường và từ đó quyết định phát triển các mặt hàng phù hợp với từng điều kiện cụ thể.
Điều này thể hiện rõ qua:
Doanh thu tăng : 9.823 triệu đồng
Nộp ngân sách tăng : 2.643 triệu đồng
Lợi nhuận tăng : 464,533 triệu đồng.
Qua tình hình thực hiện sản xuất kinh doanh của Công ty 2 năm 2002 và 2003 ta thấy, các
khoản doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách của Công ty đều tăng dần theo các năm.
Chứng tỏ Công ty Điện tử Sao Mai là một đơn vị kinh doanh có lãi, đạt hiệu quả kinh tế
cao.
Bắt đầu từ năm 1998, Công ty đã cho ra đời xí nghiệp sản xuất nhựa xốp, đây là quyết
định đúng đắn của lãnh đạo Công ty. Bởi từ khi thành lập đến nay, xí nghiệp này đã phát
triển liên tục, thích ứng tốt với điều kiện thị trường và được nhiều doanh nghiệp trong và
ngoài nước quan tâm tích cực bằng cách ký hợp đồng mua hàng dài hạn của Công ty. Đây
là sản phẩm mới rất cần cho công nghệ bao gói, bảo quản, công nghệ xây dựng cũng như
nhiều ngành khác trong nền kinh tế quốc dân. Nó khẳng định được hướng đi, việc nắm
bắt thị trường và tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty là hoàn toàn đúng đắn.
* Tình hình lao động
Công ty Điện tử Sao Mai là một doanh nghiệp có số lao động tương đối đông nhưng rất
ổn định từ 292 - 295 người.
Bảng 5: Phân công bố trí lao động
18
TT Các chỉ tiêu
Thực hiện 2002 Thực hiện 2003 So sánh năm 2003 với
2002
Số LĐ Tỷ trọng Số LĐ Tỷ trọng Số tuyệt đốiTỷ lệ (%)
Tổng số LĐ 292 100 295 100 3 1,01
1 LĐ giántiếp 45 15,4 42 14,2 - 3 - 0.93
trong toàn Công ty đã giảm được lượng lao động mà vẫn tăng năng suất lao động
Bảng 6: Tình hình năng suất lao động năm 2002 - 2003
TT
Các chỉ tiêu
ĐVT
Thực hiện
2002
Thực hiện
2003
So sánh năm 2002 với
2003
Số tuyệt đối Tỷ lệ %
1 Tổng doanh thu Tr.Đ 48.291 58.114 9.823 120,3
2 Tổng lao động Người 292 295 3 101
3 Năng suất LĐ Tr.Đ/Ng 165,38 197 31,6 119
4 Mức hao phí LĐ 0,6 0,5 -0,1 83,3
Qua đây ta thấy rằng, năng suất lao động tăng 19% mà lao động chỉ tăng 3 người (1%),
đồng thời mức hao phí lao động trên 1 đồng doanh thu giảm xuống 16,7%. Điều này nói
lên khả năng, trình độ quản trị của Công ty có hiệu quả tăng dần theo các năm.
Mặc dù, nền kinh tế bị ảnh hướng của cuộc khủng hoảng tài chính Châu á, nguồn hàng bị
cạnh tranh gay gắt nhưng Công ty vẫn tăng được doanh thu, năng suất lao động, đồng thời
giảm được mức hao phí. Đây là nguyên nhân chính giúp Công ty đứng vững và phát triển
trong nền kinh tế thị trường hiện nay cũng như khẳng định vị thế của mình.
* Về tiền lương
Do Công ty là một doanh nghiệp nhà nước nên việc chi trả lương cho cán bộ, công nhân
viên đều thực hiện trên cơ sở chế độ tiền lương, thưởng do nhà nước ban hành, bao gồm:
+ Lương cơ bản: được trả theo hệ số quy định của nhà nước cộng thêm các khoản phụ
cấp.
+ Lương khoán: theo định mức và doanh số người lao động đạt được.
+ Lương theo giờ.
ứng 38,3%, trong khi đó số lao động tăng không đáng kể. Các khoản lương bình quân
tăng 37,02%; thưởng phúc lợi tăng 31,2%. Công ty quan tâm đãi ngộ lao động tạo động
21
lực và ý thức gắn bó làm việc , yên tâm công tác, tạo ra năng suất lao động ngày càng cao
hơn, đem lại lợi nhuận ngày càng nhiều cho doanh nghiệp.
* Hiệu quả sản xuất kinh doanh
Bảng 8: Tổng hợp số liệu về vốn và kết quả sản xuất kinh doanh năm 2002 - 2003
Đơn vị tính: Triệu đồng
TT
Các chỉ tiêu
Thực hiện
năm 2002
Thực So sánh 03/02
Số tuyệt đối Tỷ lệ (%)
1 Tổng doanh thu 48.291 58.114 9.823 120,3
2 Giá vốn hàng hoá 45.224 53.539 8.315 118,4
3 Doanh thu thuần 47.042 56.991 9.949 211,1
4 Lãi gộp 1.818 3.452 1.634 189,9
5 Tổng chi phí 46.916 55.047 8.131 117,3
6 Lãi trước thuế 167 456 289 273
7 Thuế lợi tức 42 158 116 376,2
8 Lãi ròng 125 298 173 238,4
9 Tỷ suất lợi nhuận (%) 0,36 0,8 0,44 222
10 Khả năng sinh lời vốn (%) 0,4 1,5 1,1 375
Bảng số liệu trên cho thấy việc sản xuất kinh doanh của công ty phát triển và đạt hệu quả
tốt. Cụ thể, năm 2003 so với năm 2002 doanh thu tăng 20,3%, trong đó giá vốn hàng chỉ
tăng có 18,4%.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty cũng tăng vì kết quả/ chi phí của năm 2003
tăng hơn so với năm 2002.
Tỷ suất lợi nhuận cũng tăng đáng kể. ở đây ta thấy tỷ suất tăng là 0,44%. Trong bối cảnh
cũng được đổi mới liên tục cho phù hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh trong điều kiện
cơ chế quản lý đổi mới.
Công ty tạo dựng được hệ thống hoàn chỉnh từ đội ngũ cán bộ quản trị cấp trên đến đội
ngũ nhân viên có nghiệp vụ nắm vững chức năng của từng bộ mà mình được giao, tạo
điều kiện cho Công ty ngày càng phát triển về mọi mặt.
Công ty Điện tử Sao Mai là một doanh nghiệp làm ăn luôn có lãi, đặc biệt những mặt
hàng sản xuất kinh doanh mũi nhọn của Công ty rất có điều kiện phát triển mở rộng.
Công ty luôn chấp hành tốt mọi chế độ, chính sách của nhà nước. Đảm bảo sử dụng mọi
nguồn vốn của doanh nghiệp một cách có hiệu quả nhất. Từ đó tạo nền tảng cho sự phát
triển chung của doanh nghiệp theo đúng kế hoạch, mục tiêu mà Công ty đã đề ra.
Tuy nhiên, trong quá trình hình thành và phát triển, Công ty vẫn còn những hạn chế cần
nhanh chóng khắc phục. Đó là: mặc dù quân số lao động liên tục đạt ở mức cao, doanh
thu, lợi nhuận, thu nhập của người lao động kỳ sau cũng thường xuyên được nâng cao
hơn so với kỳ trước nhưng vẫn chỉ ở mức trung bình, chưa thực sự cao hơn hẳn các doanh
nghiệp khác trong khu vực.
Về quân số, lao động hàng năm có tăng lên nhưng không nhiều. Việc huy động vốn sản
xuất kinh doanh cũng chưa thật nhanh khi những dự án đầu tư sản xuất kinh doanh lớn
yêu cầu.
Về lao động, vẫn còn một số công nhân viên có tư tưởng của thời kỳ bao cấp để lại, cho
nên điều này thường hay ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công
ty.
24
Chương III
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
sản xuất
KINH DOANH của Công ty Điện tử Sao
mai
Qua thực tế tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Điện tử Sao Mai những
năm qua cho thấy: Mặc dù hoạt động sản xuất kinh doanh trong điều kiện khó khăn và
biến đổi của nền kinh tế trong và ngoài nước, nhưng do sự nỗ lực của cán bộ, công nhân