Nghiên cứu tình hình đái tháo đường ở độ tuổi 30 - 69 của người dân tại phường 1, thành phố tuy hòa - Pdf 19

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh đái tháo đường là một bệnh rối loạn chuyển hoá gây tăng đường
huyết mạn tính do thiếu Insulin tương đối hoặc tuyệt đối của tụy. Theo từ điển
Y học Dorlanhs: Bệnh đái tháo đường là “hội chứng mạn tính về rối loạn
chuyển hoá glucid, Lipid và Protid do thiếu tiết Insulin, hoặc do cả hai” Biểu
hiện rõ ràng nhất của bệnh đái tháo đường là rối loạn chuyển hoá đường, nồng
độ đường trong máu tăng cao liên tục và được thải ra ngoài qua nước tiểu, vì
vậy đào thải đường ra ngoài qua nước tiểu trở thành tên của bệnh ở Việt nam.
Nhưng khi có đường niệu thì bệnh đái tháo đường đã ở giai đoạn muộn và
thường có nhiều biến chứng. Biến chứng của bệnh đái tháo đường là hậu quả
của một phức hợp các rối loạn chuyển hoá Glucid, Lipid, Protid và các chất
điện giải, gây tổn thương hàng loạt các cơ quan, tổ chức trong cơ thể người
đang mắc bệnh đái tháo đường. Trước hết là hệ tuần hoàn, hệ thần kinh, mắt,
thận, bàn chân… nếu không được điều trị kịp thời người bệnh đái tháo
đườngcó thể tử vong hoặc tàn tật suốt đời.
Bệnh đái tháo đường trong đó chủ yếu đái tháo đường typ II chiếm tỷ lệ
từ 85% đến 95% trong tổng số bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường, đây là
một bệnh không lây nhiễm mà lại phổ biến nhất hiện nay trên toàn cầu và là
gánh nặng cho nền kinh tế thế giới trong thế kỷ 21, bởi vì:
- Bệnh đái tháo đường typ II có tốc độ phát triển rất nhanh, theo S.
Colagiury tổng hợp từ nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy: cứ trong vòng
15 năm thì tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường typ II lại tăng lên gấp đôi. Hiện
nay, bệnh đái tháo đường typ II được coi là một dịch bệnh ở nhiều nước đang
phát triển và những nước mới công nghiệp hoá.
- Bệnh đái tháo đường đang là gánh nặng đối với sự phát triển kinh tế và
xã hội vì sự phổ biến của bệnh, các hậu quả nặng nề của bệnh do được phát
hiện và điều trị muộn.
2
Đứng trước “căn bệnh thế kỷ” người ta đã nghiên cứu nhiều vấn đề bệnh
nguyên, cách dự phòng , cơ chế sinh bệnh, cách theo dõi chăm sóc và điều trị

Đái tháo đường là một nhóm bệnh lý chuyển hoá đặc trưng bởi tình trạng
tăng đường huyết gây ra do khiếm khuyết quá trình bài tiết Insulin, hoặc tác
dụng của Insulin hoặc cả hai. Tình trạng tăng đường huyết kéo dài sẽ gây ra
các biến chứng mạn tính trên các cơ quan khác như: mắt, thận, thần kinh,
mạch máu…
1.2 . DỊCH TỄ HỌC BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2 VÀ VẤN NẠN
TOÀN CẦU
1.2.1 . Tình hình đái tháo đường typ 2 trên toàn thế giới:
Tỷ lệ đái tháo đường vào năm 2025 sẽ là 7,3% , ảnh hưởng đến khoảng
380 triệu người trên thế giới [87]. Mặc dù sử dụng các phương pháp khác
nhau, các nghiên cứu trên nhiều chủng tộc khác nhau, và cho các kết quả khác
nhau, nhưng tất cả cho thấy một bức tranh chung về tình hình đái tháo đường
toàn thế giới. Một điều quan trọng khác là đại đa số bệnh nhân đái tháo đường
trong hầu hết các nghiên cứu cắt ngang không nhận biết được mình đang mắc
bệnh.
Theo số liệu mới nhất của IDF công bố vào cuối năm 2009, dựa trên các
báo cáo 216 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới và được chia thành 07 vùng
khác nhau do đặc điểm về kinh tế xã hội, vấn đề đo thị hoá .v.v…: Châu Phi
(AFR), Trung Đông - Bắc Phi (MENA), Châu Âu (SEA), Bắc Mỹ - vịnh Ca -
ri - bê (NAC), Nam Trung Mỹ (SACA), Đông và Nam Châu Á (SEA), và Tây
Thái Bình Dương (WP). Tỷ lệ đái tháo đường (nhóm người ừ 20 - 79 tuổi)
trên toàn thế giới năm 2010 ước tính vào khoảng 6,4% và 284 triệu người
mắc đái tháo đường, trong đó 70% người bị đái tháo đường sống ở các vùng
4
có thu nhập trung bình - thấp. Đến năm 2030, con số này sẽ tăng lên thành
7,7%, và 438 triệu người. Sự gia tăng này phần lớn ở các nước đang phát
triển, do sự thay đổi về lối sống, sự đô thị hoá, dinh dưỡng…[86]. Vùng Tây
Thái Bình Dương (bao gồm Trung Quốc), vùng Đông Nam Châu Á (bao gồm
Ấn Độ) có số người bị đái tháo đường cao nhất thế giới. lần lượt là 77 triệu và
59 triệu người, tuy nhiên do dân số đông nên sau khi hiệu chỉnh, tỷ lệ đái tháo

8,1
10,8
12,1
7,8
9,1
5,7
TỔNG CỘNG 6,4 7,7
5
Bắc Mỹ - vịnh Ca ri bê là vùng có tỷ lệ đái tháo đường tương đối cao so
với các vùng khác. Mặc dù có gần 26 quốc gia trên lãnh thổ nhưng đại đa số
sinh sống ở Hoa Kỳ (68%) và Canada (21%). Đây là những nước có nền kinh
tế phát triển nhất thế giới, song song với đó là một nền y học hiện đại, làm
cho dân số ngày càng già đi (khoảng 32% dân số Hoa Kỳ lớn hơn 50 tuổi), và
tỷ lệ các bệnh mãn tính ngày càng gia tăng. Tại Hoa Kỳ, theo số liệu của
NHANES tỷ lệ đái tháo đường năm 1999 - 2000 là 9,3% trong số đó 30%
không biết mình bị đái tháo đường trước nghiên cứu. Sau khoảng 5 năm, đến
năm 2005 - 2006, tỷ lệ đái tháo đường ở người trên 20 tuổi tại Hoa Kỳ là
12,9%, trong đó gần 40% trường hợp không nhận biết đã mắc đái tháo đường,
sự gia tăng chủ yếu ở những người Hipanic [31]. Tại Canada, theo số liệu của
NDSS, tỷ lệ đái tháo đường gia tăng 21% từ năm 2002 đến năm 2007, hiện tại
tỷ lệ lưu hành là 6,2%. Số người mắc đái tháo đường tại Mexico vàp khoảng
5,6% ở nam và 9,7% ở nữ ( theo kết quả điều tra trên 40 ngàn người trong
nước) [91], một kết quả nghiên cứu khác cũng tại Mexico cũng cho thấy tỷ lệ
đái tháo đường vào khoảng 8,8% [14].
Bảng 1.2: Mười quốc gia có số người đái tháo đường cao nhất thế
giới năm 2010- 2030
Quốc gia
Năm 2010
(triệu người)
Quốc gia

9. Indonesia
10. Mexico
87,0
62,6
36,0
13,8
12,7
12,0
11,9
10,4
10,3
8,6
6
Vùng Nam Mỹ và Trung Mỹ tập hợp khoảng 20 quốc gia, hầu hết là các
nước đang phát triển, mặc dù tỷ lệ đái tháo đường tương đối thấp hơn Bắc Mỹ
nhưng vẫn ngày một gia tăng cùng với quá trình đô thị hoá đất nước và là một
trong những vấn đề sức khoẻ chính cần được quan tâm. Tại Braxin, tỷ lệ đái
tháo đường là 7,1% năm 1996 và tăng lên 12,1% năm 2003 [81],[104]. Ở các
nước lân cận như: Argentina, Chile, Bolivia, tỷ lệ đái tháo đường cũng giao
động từ 6,5% đến 8,2% [23], [36], [28].
Bảng 1.3: Mười quốc gia có tỷ lệ đái tháo đường cao nhất thế giới năm
2010- 2030
Quốc gia
Năm 2010
(triệu người)
Quốc gia
Năm 2030
(triệu người)
1. Nauru
2. Các tiểu

9. O man
10. Malaysia
33,4
21,4
19,8
18,9
18,1
17,3
16,9
15,7
14,9
13,8
Châu Âu là vùng đất tương đối đa dạng về mặt dân số, hầu hết các nước
đều giàu có, tỷ lệ người trên 50 tuổi ngày một gia tăng ( chiếm khoảng 1/3
dân số), do đó vẫn phải đối mặt với sự gia tăng của các bệnh mãn tính như:
Hoa Kỳ. Tuy là nước phát triển, nhưng số liệu ở Châu Âu còn hạn chế, ít các
nghiên cứu về tỷ lệ đái tháo đường ở cấp độ quốc gia. Tỷ lệ đái tháo đường
thay đổi rất nhiều tuỳ từng quốc gia, thấp nhất là 2,2% ở Hà Lan [107] và cao
7
nhất tại Đức với tỷ lệ 12,2% [47]. Số liệu tại Thổ Nhi Kỳ cho thấy tỷ lệ đái
tháo đường và RLDN glucose tương ứng là 7,9% và 7,0% [90]. Tại các thành
phố lớn khác của Châu Âu như: Anh, Croatia, Slovakia, Slovenia và Tây Ban
Nha lần lượt là 4,4%, 6,1%, 7%, 9,9% và 11% [42], [72], [74], [73].
Châu Phi là khu vực có tỷ lệ thấp nhất trên thế giới. Đây là vùng phải đối
mặt với hai vấn nạn lớn đói nghèo và nhiễm HIV/AIDS, làm cho tuổi thọ trung
bình không cao (hiện chỉ có 9,8% dân số trên 50 tuổi), điều này làm cho tỷ lệ
đái tháo đường ở khu vực này không cao. Do các đặc điểm về kinh tế xã hội
như vậy, nên có rất ít nghiên cứu dịch tễ học về đái tháo đường trong khu vực.
Các nghiên cứu chủ yếu tập trung ở các nước có nền kinh tế tương đối phát
triển như: Nam Phi, Cameroon và Ghana. Tại Nam Phi, có một vài nghiên cứu

và 15,5% ước tính trên 240 triệu người Trung Quốc bị RLĐH [118]. Tại các
đô thị lớn ở Ấn Độ, tỷ lệ đái tháo đường tăng từ 3% vào những năm 1970 lên
12% vào năm 2000 [84]. Năm 2006, tỷ lệ đái tháo đường ở vùng nông thôn
Ấn Độ đã là 9,2%, trong khi đó tại một số đô thị lớn, tỷ lệ tăng 13,9% năm
2000 lên 18,6% trong vòng 5 năm, từ 1999 đến năm 2004 [92], tại Hàn Quốc,
tỷ lệ đái tháo đường ở thành phố Yonchon năm 1995 là 7,2% [82] đến năm
2005 tỷ lệ đái tháo đường ở Hàn Quốc ước tính vào khoảng từ 5,5% đến
18,6% (nhóm người gốc Mã lai tại Singapore) [21], [88]. Các quốc gia còn lại
trong khu vực đều cho thấy tỷ lệ đái tháo đường gia tăng đáng kể trong nhiều
năm qua. Trung Quốc và Ấn Độ là hai nước có số người cao nhất thế giới
trong khi đó một số đảo quốc ở Thái Bình Dương lại có tỷ lệ đái tháo đường
cao nhất thế giới.
1.2.3. Dịch tễ học đái tháo đường typ 2 tại Việt Nam:
9
Nằm trong bối cảnh chung của thế giới, cũng như của Châu Á, Việt Nam
đang đối mặt với tỷ lệ đái tháo đường ngày một gia tăng. Năm 1991 theo điều
tra ở một số vùng lân cận Hà Nội thì tỷ lệ đái tháo đường vào khoảng 1,0%, tại
thành phố Huế là 0,9%, tại thành phố Hồ Chí Minh, năm 1992 theo kết quả
điều tra ở một số quận nội thành, tỷ lệ đái tháo đường vào khoảng 2,52 ± 0,4%
[9]. Năm 2001, tác giả Lê Nguyễn Trung Đức Sơn và cộng sự đã thực hiện một
nghiên cứu lớn về dịch tễ học đái tháo đường tại thành phố Hồ Chí Minh
nghiên cứu được thực hiện trên 2.932 đối tượng từ 15 tuổi trở lên. Các tác giả
đã chứng minh tỷ lệ đái tháo đường đang tăng nhanh đáng kể, tỷ lệ đái tháo
đường, RLĐH đói trước hiệu chỉnh là 6,6% và 3,2%. Sau khi hiệu chỉnh theo
tuổi và giới, tỷ lệ lần lượt là 3,8% và 2,5%, trong đó 40% đối tượng chưa từng
biết đái tháo đường từ trước [40]. Cũng theo kết quả nghiên cứu, các yếu tố
quan trọng góp phần làm gia tăng tỷ lệ đái tháo đường bao gồm: tuổi, tỷ số
vòng eo/ vòng hông (VE/VH), lối sống tĩnh tại. Bốn năm sau nghiên cứu của
tác giả Đức Sơn , tác giả Tạ Thị Tuyết Mai đã khảo sát tình hình đái tháo
đường ở lứa tuổi trung niên (40 - 60 tuổi) tại thành phố Hồ Chí Minh nghiên

thực hiện theo hướng dẫn của WHO.
HOẶC
4.Bệnh nhân có triệu chứng kinh điển của tăng đường huyết và đường
huyết bất kỳ ≥ 200 mg/dl (11,1mmol/l)
*Nếu kết quả không rõ ràng, có thể lập lại các xét nghiệm 1- 2 lần.
Trong hơn nhiều thập kỷ qua, việc chẩn đoán đái tháo đường chủ yếu
dựa vào tiêu chí đường huyết, hoặc là đường huyết đói hoặc là NPDNG. Năm
2007, Uỷ ban các chuyên gia về chẩn đoán và phân loại đái tháo đường đã
xem xét lại các tiêu chí chẩn đoán đái tháo đường dựa trên các nghiên cứu về
mối tương quan giữa mức đường huyết, HbA-1c và tần suất xuất hiện bệnh lý
11
võng mạc do đái tháo đường. Tất cả các nghiên cứu đều cho thấy nếu đường
huyết vượt trên ngưỡng cho phép, tần suất bệnh lý võng mạc sẽ gia tăng và
ngược lại. Và từ đó, các chuyên gia đã đưa ra ngưỡng đường huyết mới để
chẩn đoán đái tháo đường ≥ 126 mg/dl (7,0 mmol/L) đối với đường huyết đói
và ≥ 200 mg/dl (11,1 mmol/L) đối với đường huyết 2 giờ sau uống 75 gam
glucose.
Trước đây, HbA-1c được xem như một xét nghiệm dùng để theo dõi điều
trị trên những bệnh nhân đái tháo đường, HbA-1c phản ứng mức đường huyết
trung bình 2- 3 tháng trước. Đây là một xét nghiệm có vai trò quan trọng, nó
tương quan mật thiết với các biến chứng của đái tháo đường, đặc biệt là các
biến chứng mạch máu nhỏ, do đó HbA-1c được xem là một trong những tiêu
chuẩn về kiểm soát đường huyết. trong quá khứ, HbA-1c không được khuyến
cáo dùng để chẩn đoán đái tháo đường do các xét nghiệm thời đó chưa được
chuẩn hoá. Nam 2009, sau khi xem xét lại tất cả các bằng chứng về dịch tễ
học, Hội đồng các chuyên gia quốc tế đã khuyến cáo sử dụng HbA-1c làm
tiêu chí chẩn đoán đái tháo đường với ngưỡng chẩn đoán là ≥ 6,5% [106].
Ngưỡng chẩn đoán là 6,5% của HbA-1c cũng tương thích với các ngưỡng
chẩn đoán đường huyết trong tiên đoán tần suất bệnh lý võng mạc. Các
chuyên gia nhấn mạnh xét nghiệm HbA-1c phải được chuẩn hoá theo NGSP

199 mg/dl = 11,0 mmol/L. Những đối tượng này còn được gọi là “Tiền đái
tháo đường” với nguy cơ cao sẽ phát triển thành đái tháo đường trong tương
lai. Tiền ĐTD có liên quan mật thiết với béo phì (nhất là béo phì vùng
bụng), rối loạn Lipid máu và tăng huyết áp. Những nghiên cứu về thay đổi
lối sống, hoặc một vài loại thuốc có thể làm chậm diễn tiến thành bệnh đái
13
tháo đường trên nhóm đối tượng này. Năm 2009, cùng với việc khuyến cáo
đưa HbA-1c vào tiêu chí chẩn đoán đái tháo đường, các chuyên gia cũng chú
trọng đến nhóm đối tượng có HbA-1c trong khoảng từ 5,7% đến 6,4% và
xếp chung với nhóm đối tượng này với nhóm RLĐH đói và RLDN glucose
thành “ phân loại nguy cơ cao đái tháo đường”. So với đường huyết đói,
HbA-1c với ngưỡng 5,7% có độ nhạy thấp hơn, nhưng có độ đặc hiệu và giá
trị tiên đoán dương cao hơn trong việc dự đoán đái tháo đường xuất hiện
trong tương lai [39]. Do đó chúng ta cần giải thích rõ các nguy cơ, cũng như
có những chiến lượt phòng ngừa thích hợp cho tất cả các bệnh nhân có
HbA-1c trong khoảng từ 5,7% đến 6,4%.
1.4.CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ
1.4.1. Béo phì và đái tháo đường typ 2
Béo phì sự gia tăng khối lượng mỡ tuyệt đối, một yếu tố quan trọng
trong cơ chế bệnh sinh của đề kháng Insulin và đái tháo đường typ 2. Khối
lượng mỡ tuyệt đối được quyết định bởi các yếu tố như gien và các yếu tố môi
trường bao gồm chế độ ăn, hoạt động thể lực.
*Ảnh hưởng của béo phì lên tình trạng đề kháng Insulin: mô mỡ được
quý như một cơ quan nội tiết, vì ngoài chức năng chính là dự trữ năng
lượng, còn ảnh hưởng rất nhiều lên hoạt động của Insulin qua nhiều cơ chế
khác nhau:
- Sự gia tăng khối lượng của mô mỡ liên hệ đến gia tăng ly giải mô mỡ,
và cùng với việc đề kháng tác dụng Insulin tại mô mỡ làm tăng phóng thích
Acid béo tự do vào máu dấn đến tình trạng đề kháng Insulin thông qua cơ chế
ngộ độc acid béo. Trên những bệnh nhân béo phì còn xuất hiện nhiều hiện

cộng đồng. Tại Châu Á trong đó có Việt Nam, thức ăn truyền thống là gạo
15
được xay kỹ, hoặc lúa mỳ đã tinh chế đây là những loại thức ăn ít chất xơ, có
chỉ số đường huyết cao, và cùng với thói quen mỡ động vật, hoặc các loại bơ
chứa nhiều acide béo dạng trans là những yếu tố nguy cơ gây tăng cân, đề
kháng Insulin và đái tháo đường typ 2. Vấn đề luyện tập thể dục trong vài
thập kỷ gần đây có khuynh hướng giảm trên nhiều quốc gia. Đây cũng có thể
là một yếu tố quan trọng góp phần vào gánh nặng béo phì và đái tháo đường
trên toàn cầu. Những nghiên cứu cắt ngang và những nghiên cứu theo dõi đều
cho thấy lối sống tĩnh tại, ít hoạt động thể lực là một yếu tố nguy cơ độc lập
của đái tháo đường typ 2. Thời gian ngồi tại chổ trên 4 giờ một ngày sẽ làm
gia tăng nguy cơ thừa cân, béo phì, tăng huyết áp và các rối loạn chuyển
hoá[49], [60].
1.4.3. Hút thuốc lá và đái tháo đường
Đã từ lâu hút thuốc lá được xem là một vấn đề sức khoẻ nghiêm trọng
với mức độ ảnh hưởng rộng trên nhiều cơ quan khác nhau và là yếu tố nguy
cơ của nhiều bệnh khác nhau. Mỗi năm tại Hoa Kỳ có gần 400.000 người tử
vong liên quan đến thuốc lá. Mặc dù tỷ lệ hút thuốc lá trong những năm gần
đây có giảm như ở Trung Quốc và Ấn Độ tỷ lệ đàn ông hút thuốc lá cong
khoảng 50 - 60%. Hút thuốc lá làm cho bệnh nhân đái tháo đường xuất hiện
các biến chứng mạch máu nhỏ và mạch máu nhỏ sớm hơn, làm nặng hơn các
biến cố tim mạch và tỷ lệ tử vong. Hút thuốc lá có thể là yếu tố nguy cơ thúc
đẩy đái tháo đường typ 2 xuất hiện [16]. Một phân tích gộp gần đây tổng hợp
gần 25 nghiên cứu khác nhau cho thấy hút thuốc lá là nguy cơ của đái tháo
đường, nguy cơ gia tăng theo mức độ hút thuốc lá [116]. Trên những đối
tượng có BMI như nhau, nhóm hút thuốc lá có khuynh hướng béo bụng nhiều
hơn nhóm không hút thuốc lá [116]. Cơ chế có thể là hút thuốc lá làm tăng
tình trạng đề kháng Insulin và giảm đáp ứng của tế bào beta tụy.
1.4.4. Tuổi và Đái tháo đường
16


=

α
• Với p là tỷ lệ ước đoán mắc bệnh đái tháo đường tính chung toàn quốc
cho các đối tượng từ 30 đến 69 tuổi là 5,7%;
• d là độ chính xác tuyệt đối lấy bằng 0,012.
• Z
1-α/2
là hệ số tin cậy, bằng 1,96 với độ tin cậy 95%.
• Sau khi tính toán có cỡ mẫu 432 làm tròn 450 người cho một cụm.
2.2.3. Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên đơn
- Lập danh sách tất cả những người 30-69 tuổi hiện đang sinh sống tại
Phường I, Thành phố Tuy Hòa.
- Chọn ngẫu nhiên theo danh sách cho đủ cỡ mấu 509
2.3. PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU
18
2.3.1. Mẫu thu thập số liệu
Chúng tôi sử dụng một mẫu KAP điều tra theo chương trình Quốc gia
phòng, chống đái tháo đường (có phụ lục kèm theo).
2.3.2.Tiếp cận thu thập thông tin
Dùng phương pháp phỏng vấn trực tiếp tại hộ gia đình, người phỏng vấn
điền các thông tin thu được vào bộ câu hỏi. Để thực hiện điều tra đạt hiệu quả
cao chúng tôi đưa ra quy trình cụ thể như sau:
- Bước 1: Chọn thời điểm và nơi phỏng vấn thích hợp nhất đối với đối
tượng được phỏng vấn, tốt nhất là lúc họ rảnh rỗi.
- Bước 2: Nhóm phỏng vấn tự giới thiệu và giải thích mục đích của cuộc
phỏng vấn.
- Bước 3: Thực hiện phỏng vấn, đo chiều cao, cân nặng, VB, VM, huyết

( nữ ) ≥ 80 cm
Gầy < 18,5 Yếu tố nguy cơ
của bệnh khác
Trung bình
Bình thường 18,5 – 22,9 Trung bình Có tăng cân
Béo phì:
Có nguy cơ
Độ I
Độ II
≥ 23
23 – 24,5
25 – 29,5
≥ 30
Tăng cân
Béo vừa
Béo nhiều
Tăng cân vừa
Béo nhiều
Quá béo
Đánh giá béo phì vùng bụng dựa vào vòng eo hoặc eo/hông:
Khi vòng eo > 102cm ở nam và nữ > 88cm hoặc tỷ số eo/hông ≥ 0,9 ở
nam và ≥ 0,8 ở nữ. Được xem là nguy cơ cao của các bệnh lý chuyển hoá và
tim mạch.
- Vòng eo (cm): được đo 23 lần ở tư thế thẳng đứng, lấy trung điểm ở
bờ dưới xương sườn 12 và phần cao nhất của mào chậu. Các dối tưọng
nghiên cứu được đo 2 lần, sai số 2 lần đo không quá 2cm, lấy trị số trung
20
bình 2 lần đo.
- Vòng hông (cm): là vòng đo qua 2 mấu chuyển, lấy số đo lớn nhất, đo
2 lần và lấy trị số trung bình 2 lần đo.

+ Ít hơn 4 giờ/ ngày: không có thói quen tĩnh tại.
- Luyện tập thể dục:
+ Thường xuyên tập thể dục: là thời gian tập trung bình 30 phút/ngày và
ít nhất 5 ngày trong 1 tuần ( ≥ 150phút/tuần).
+ Không thường xuyên: không có hoặc ít hơn thời gian trên.
- Tiền sử bản thân sinh con trên 4kg ở phụ nữ.
- Thói quen ăn rau:
+ Thường ăn rau: trong vòng 3 ngày qua đều ăn rau và mỗi ngày ăn ít
nhất 2 chén ăn cơm.
+ Không thường xuyên: Không ăn hoặc ăn ít hơn lượng trên.
- Ăn thịt
+ Ăn nhiều: là ăn mỗi ngày ≥ 200gram và ăn 3 ngày liên tục.
+ Ăn ít: Là không ăn thịt cá hoặc ăn ít hơn lượng trên.
- Phân độ BMI theo khuyến cáo của WHO cho người châu Á
+ Thừa cân: BMI ≥ 23
+ Không thừa cân: < 23
- Béo bụng: vòng eo ≥ 90 ở nam và ≥ 80 ở nữ theo tiêu chí của IDF 2005 [56].
- Chẩn đoán tăng huyết áp theo tiêu chí JNC VII [33]:
- THA khi huyết áp tâm thu ≥ 140mmHg hoặc huyết áp tâm trương ≥
90mmHg hoặc bệnh nhân đang sử dụng thuốc hạ huyết áp.
- Chẩn đoán đái tháo đường theo tiêu ADA 2010 [17]:
22
- Tiêu chuẩn Hội đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) được WHO chấp nhận
năm 2010.
+ Glucose máu lúc đói ≥ 126mg/dl (7mmol/L)
+ Glucose huyết tương bất kỳ ≥ 200mg/dl (11,1 mmol/L)
+ Glucose huyết tương 2h sau NPDND > 200mg/dl (11,1 mmol/L)
2.4.3. Vấn đề y đức
Nghiên cứu được thực hiện với sự sàng lọc đối tượng qua phiếu đánh giá
yếu tố nguy cơ của chương trình Dự án phòng, chống đái tháo đường (có phụ

2
1
1
)(
1
xx
n
S
n
i
−=

=
23
Các biến số định tính và định danh được trình bày dưới dạng tỷ lệ phần trăm.
Dùng phép kiểm định t để só sánh 2 số trung bình của biến số định lượng
phân phối bình thường giữa 2 nhóm đái tháo đường và không mắc đái tháo
đường.
Sự khác biệt được xem là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.
24
Chương 3
KẾT QUẢ
Qua điều tra, khảo sát 509 người về tình hình mắc bệnh đái tháo đường
của người dân ở độ tuổi 30-69 tuổi tại thành phố Tuy Hòa chúng tôi có kết
quả như sau:
3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA MẪU NGHIÊN CỨU
Bảng 3.1. Phân bố theo tuổi
Nhóm tuổi n Tỷ lệ %
30 -44 338 66,4
45 - 69 171 33,6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status