LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chúng tôi
dưới sự hướng dẫn và dìu dắt của cô ThS.BS. Lê Thị Cúc. Các kết quả trong
luận văn trung thực được thực hiện tại Trường Mầm Non I và Mầm Non II,
Thành Phố Huế từ tháng 11 - 2007 đến tháng 2 năm 2008 và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
COPD : Chronic obstructive Pulmonary Disease
FEV
1
: Flow Expiratory Volume
FVC : Forced Vital Capacity
MMF : Maximum Midexpiratory Flow
PEF : Peak Expiratory Flow
PFM : Peak Flow Meter
SD : Standard
MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
Ở trẻ em, hen phế quản ảnh hưởng rất nhiều đến sức khoẻ đến sự phát
triển và khả năng học tập nếu như không được phát hiện và điều trị đúng đắn.
Ở nước ta trong những năm gần đây, hen trẻ em có khuynh hướng gia
tăng cả về tần suất mắc bệnh và độ nặng nhưng chưa được chẩn đoán sớm
cũng như chưa được điều trị đầy đủ.
Để chẩn đoán, đánh giá độ nặng của hen và đánh giá đáp ứng của hen
đối với một chế độ điều trị một cách khách quan, dễ thực hiện, có thể sử dụng
máy đo lưu lượng đỉnh (PeaK Flow Meter - PFM). PFM đã được sử dụng từ
lâu trên thế giới và khẳng định được vai trò của nó trong việc đánh giá và theo
dõi tiến triển của bệnh hen.
Gần đây PFM cũng đã bắt đầu được sử dụng ở nước ta. Hiện nay nhiều
Quốc gia trên thế giới người ta có thể sử dụng bảng trị số lưu lượng đỉnh thở
ra (PeaK Expiratory - Flow: PEF) bình thường do Golfrey và cộng sự xây
dựng năm 1970 [28]. Đây là bảng trị số PEF bình thường được Viện Quốc gia
Tim phổi và Huyết học thuộc Bộ Y tế Hoa Kỳ sử dụng. Trong thời gian gần
đây một số tác giả Việt Nam đã khảo sát trị số PEF trên người bình thường ở
khu vực Thượng Đình và Thanh Trì, Hà Nội và ở một số trường học thuộc
2
khu vực Thành Phố Huế [3], [7], [11], [12], [22]. Trong những nghiên cứu
này các tác giả chủ yếu nghiên cứu ở lứa tuổi trên 6 tuổi.
Do đó, chúng tôi nghĩ rằng cần nghiên cứu thêm về PEF ở trẻ 5 - 6 tuổi,
góp phần xây dựng bảng trị số PEF bình thường cho trẻ em Thừa Thiên Huế
với những nét đặc thù riêng.
Vì vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: "Tìm hiểu trị số lưu lượng
đỉnh của trẻ em từ 5 - 6 tuổi tại Trường Mầm Non Thành Phố Huế" với các
mục tiêu nghiên cứu như sau:
1. Xây dựng bảng trị số PEF bình thường ở trẻ em từ 5-6 tuổi thuộc
Trường Mầm Non I và Mầm Non II Thành Phố Huế.
2. Xác định mối tương quan giữa trị số PEF với chiều cao ở trẻ 5 - 6 tuổi.
phế quản. Chiến lược toàn cầu quản lý và dự phòng bệnh hen ra đời là do sự
cố gắng hợp tác giữa Viện Quốc gia Tim phổi và Huyết học (National Heart-
Lung and Blood Institute) ở bang Maryland (Hoa Kỳ) và Tổ Chức Y Tế Thế
4
Giới (WHO) và từ đó đến nay việc khống chế bệnh, hen có sự tiến bộ vượt
bậc và đã đạt được những kết quả quan trọng [17].
1.1.2. Định nghĩa
Hen phế quản là rối loạn mạn tính do viêm ở đường hô hấp với sự tham
gia của các thành phần tế bào và nhiều loại tế bào như: Bạch cầu ái toan,
dưỡng bào, lympho - T, đại thực bào và tế bào biểu mô ở những người có cơ
địa mẫn cảm. Tình trạng viêm này gây nên những đợt khó thở, khò khè, nặng
ngực và ho, đặc biệt là các triệu chứng hay xảy ra về đêm hoặc gần sáng. Các
đợt khó thở này liên quan với tình trạng tắc nghẽn lan toả đường hô hấp và tắc
nghẽn có thể phục hồi được một cách tự nhiên hoặc dưới tác dụng điều trị của
thuốc. Tình trạng viêm mãn tính của đường hô hấp còn gây nên hiện tượng
tăng đáp ứng phế quản với nhiều yếu tố kích thích khác nhau [16],[18],
[19],[20].
1.1.3. Dịch tễ học
Hen phế quản là một trong những bệnh mạn tính thường gặp ở trẻ em,
xuất hiện ở mọi quốc gia, mọi lứa tuổi. Tỷ lệ hiện mắc (prevalence) ở trẻ em
thay đổi từ 0 - 30% tuỳ theo vùng dân cư (tại Việt Nam khoảng 5-10%). Hen
có mặt ở mọi quốc gia dù ở trình độ phát triển nào, có vẻ trội hơn ở những
nước đã phát triển. Sự gia tăng tỷ lệ hiện mắc đặc biệt đáng kể ở một số nước
như Anh Quốc, xứ Wales, Israel, New Zealand và Australia [9], [23].
Bảng 1.1. Tỷ lệ hen trẻ em
Nước
Năm
NC
Lứa
Papua-N
Guina
1985
6-20
0
Đức
1990
9-11
4,2
Kenya
1991
9-12
3,3
Đan Mạch
1887
7-16
5,3
5
1.1.4. Nguyên nhân
1.1.4.1. Những nguyên nhân chủ yếu
Hen phế quản thường do những nguyên nhân sau đây
- Các dị nguyên hô hấp như: Bụi nhà (chủ yếu là dị ứng nguyên từ loài
ve Acariens) khói, lông súc vật, phấn hoa, các chất hoá học và các chất có
mùi mạnh, các khí lạnh.
1.1.5. Lâm sàng
1.1.5.1. Cơn hen cấp điển hình
Cơn hen cấp điển hình thường gặp là hen dị ứng, có triệu chứng lâm
sàng giống như ở người lớn.
- Giai đoạn khởi phát: Bệnh xuất hiện đột ngột thường là nửa đêm về
sáng, bắt đầu với những triệu chứng báo trước như ngứa mũi, hắt hơi, chảy
mũi nước, nước mắt, ho từng cơn, bồn chồn nhưng các triệu chứng không
phải lúc nào cũng có.
- Giai đoạn lên cơn: Cơn khó thở xảy ra, với khó thở chậm kỳ thở ra.
Trong cơn hen lồng ngực bệnh nhân căng ra, các cơ hô hấp phụ nổi rõ, có thể
có tím ở đầu tay chân sau đó lan ra mặt và toàn thân. Trẻ sò sè nghe phổi có
nhiều rales rít và rales ngáy. Cơn khó thở dài hay ngắn tuỳ theo từng bệnh
nhân.
- Giai đoạn lui cơn: Các triệu chứng trên không còn, lúc này khám lâm
sàng bình thường. Tuy nhiên nếu làm một số trắc nghiệm gắng sức, dùng
acetycholine thì vẫn phát hiện tình trạng tăng phản ứng phế quản [1], [9], [10].
1.1.5.2. Hen không điển hình
Thường gặp ở trẻ nhỏ
- Hen đi kèm nhiễm virus đường hô hấp, khởi đầu bằng ho, sốt, sổ mũi,
sau đó trẻ bắt đầu sò sè, khó thở, ho thành cơn. Khám thực thể phát hiện hội
7
chứng khí phế thủng và nghe phổi có nhiều ran ngáy, ran rít lẫn ran ẩm vừa to
hạt. Triệu chứng thường kéo dài theo diễn tiến của bệnh nhiễm virus hô hấp
và ít đáp ứng với thuốc dãn phế quản.
- Hen ở những trẻ trào ngược dạ dày thực quản. Trẻ hay bị những đợt
sò sè khó thở và ho nhất là ban đêm. Khám phổi vào những lúc lên cơn có
nhiều ran ngáy ,ran rít kèm hội chứng khí phế thủng. Những trẻ này thường
có tiền sử hay bị nôn trớ và chậm lên cân.
- Hen ẩn với biểu hiện những cơn ho kéo dài về ban đêm. Trẻ chỉ có ho
+ Cơn hen thường không nặng nề nhưng kéo dài.
+ Điều trị ít đáp ứng với thuốc giãn phế quản.
* Chẩn đoán xác định
+ Hen có liên quan đến nhiễm virus đường hô hấp và được xác định khi
đã loại trừ hen dị ứng và các nguyên nhân khác.
+ Hen do trào ngược dạ dày thực quản được chẩn đoán khi bệnh lý trào
ngược dạ dày thực quản được xác định và điều trị bệnh lý này thì tình trạng của
hen cải thiện rõ rệt, chẩn đoán cũng cần dựa vào đo pH thực quản [9], [15].
1.2. ĐÁNH GIÁ CHỨC NĂNG PHỔI TRONG HEN PHẾ QUẢN
Việc đánh giá bệnh hen phế quản phải căn cứ vào triệu chứng và các
dấu hiệu trên lâm sàng. Tuy nhiên việc đánh giá đó còn phụ thuộc vào yếu tố
chủ quan của mỗi cá nhân đánh giá, vào thời điểm đánh giá và các giai đoạn
của bệnh, chưa kể những trường hợp tắc nghẽn phế quản thể ẩn rất khó phát
hiện trên lâm sàng. Do vậy, cần có những phương tiện đo lường chức năng
phổi để có thể đánh giá các bệnh tắc nghẽn phế quản một cách khách quan.
Đối với trẻ em, việc thăm dò chức năng phổi trước đây có thể thực hiện
bằng máy phế dung kế (Spirometer). Chức năng phổi và tình trạng tắc nghẽn
khí đạo có thể được đánh giá thông qua các chỉ số như:
9
- Thể tích phổi (pulmonary volume)
- Sức cản đường dẫn khí (Raw)
- Thể tích thở ra tối đa trong giây đầu bằng FEV1 (Forced Expiratory
Volume in 1 Second) giảm > 15% so với chuẩn.
- Đo lưu lượng đỉnh bằng máy đo PFM (Peak Flow Meter) giảm 20%
so với chuẩn.
- Đo FEV1 và PEF trước và sau phun thuốc giãn phế quản 15 phút. Nếu chỉ
số tăng ≥ 15% so với trước phun thuốc, xác định hen phế quản [2], [8], [20], [30].
- Lưu lượng quãng giữa của FVC.
- Đường biểu diễn lưu lượng theo thể tích
Hình 1.2. Máy đo PFM hiệu Vitalograph sản xuất tại EC
1.2.3. Công dụng của PFM
PFM dùng để đánh giá trị số lưu lượng đỉnh kỳ thở ra (PEF). Trị số này
giảm tỷ lệ với sự giảm thể tích phổi, sự hẹp và tắc nghẽn trong lòng phế quản.
Vậy PFM dùng để đo trị số PEF nhằm:
+ Đánh giá mức độ tắc nghẽn, mức độ nặng nhẹ của hen, của viêm phế
quản tắc nghẽn mạn tính COPD.
+ Nhẹ: PEF > 80%
+ Vừa: PEF 60 - 80%
+ Nặng: PEF < 60% [29]
11
+ Quyết định thời điểm khởi đầu của một chế độ điều trị hen (khi PEF
< 80% trị số bình thường).
Ngoài ra các trị số lưu lượng đỉnh thở ra (PEF) là công cụ quan trọng
trong việc chẩn đoán và theo dõi hen.
Trị số PEF được so sánh lý tưởng nhất là với chính trị số tốt nhất trước
đây của bệnh nhân, sử dụng lưu lượng đỉnh của chính họ [2], [26],[27].
1.2.4. Cách đo PEF với máy PFM
Để có kết quả chính xác khi đo PEF với máy PFM, cần chấp hành
những nguyên tắc sau
Máy được chế tạo chính xác với chất lượng tốt để dùng lâu dài. Tuy
nhiên cần phải giữ máy sạch sẽ, vòi thổi hay các ống nối có thể sát trùng bằng
cách ngâm trong các dung dịch sát trùng thông thường sau khi đã được rửa
sạch bằng nước sạch, không được sát trùng bằng cách đun sôi hoặc hơ nóng
trên 75
0
C.
Sau mỗi đợt sử dụng nên ngâm PFM trong nước ấm có pha một ít chất
tẩy nhẹ khoảng 30 phút để tẩy sạch các chất bẩn có thể đọng lại bên trong
máy (bụi, chất nhầy trong nước bọt ) chất tẩy không được chứa các chất sát
khuẩn hoặc phénol.
13
Khi máy được sử dụng quá nhiều cần định kỳ tháo rời máy để kiểm tra
và lau chùi bên trong. Nếu không được giữ sạch sẽ, nấm mốc sẽ nhanh chóng
phát triển bên trong máy.
1.2.7. Trị số PEF bình thƣờng ở trẻ em
Bảng 1.2. Trị số PEF bình thường ở nam giới theo Godfrey và cộng sự
(1970) Brit. J.Dis chest 64.15 [28]
Tuổi
Chiều cao
(cm)
5
8
11
15
100
24
24
183
135
209
209
209
140
236
236
236
414
145
262
262
262
423
150
289
289
289
432
155
315
315
315
440
160
342
342
115
118
118
118
120
145
145
145
125
171
171
171
130
197
197
197
135
224
224
224
140
250
250
250
348
- Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Trẻ em bị bệnh mãn tính như hen phế quản, viêm phế quản mãn, tim
bẩm sinh
+ Trẻ em đang bị bệnh cấp tính.
+ Trẻ em có dị dạng lồng ngực như: lồng ngực hình phễu, hình ức gà,
gù vẹo cột sống.
+ Trẻ em bị suy dinh dưỡng mạn, chiều cao theo tuổi nhỏ hơn 90% trị
số bình thường.
2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Phƣơng pháp nghiên cứu
Điều tra dịch tễ ngang
2.2.2. Cách thức tiến hành
- Lập phiếu nghiên cứu bao gồm các thông số:
+ Họ và tên
+ Tuổi
+ Giới
+ Chiều cao
+ PEF
- Đo chiều cao 16
- Hƣớng dẫn học sinh cách thổi PEF
Hình 2.2. Máy đo hiệu Vitalograph của EC
2.2.4. Xử lý thống kê:
- Các phương pháp xử lý thống kê:
Số liệu được nhập và xử lý bằng chương trình SPSS for WINDOW
10.0 sử dụng các phép tính thống kê sau:
* Thống kê tổng quát, tính tỉ lệ, tính trị số trung bình và độ lệch chuẩn.
* Phép kiểm định T - test cặp đôi.
* Phép tính tương quan r.
- Các công thức được sử dụng:
+ Công thức tính trị số trung bình:
18
X x / n
+ Công thức tính độ lệch chuẩn:
2
(X X)
SD
n1
Trong đó:
+ x là trị số của biến x, y là trị số của biến y.
Kiểm định hệ số tương quan theo công thức sau:
2
n2
t
1r
19
Tương quan có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.
Đánh giá tương quan như sau:
* Trị số r > 0: gọi là tương quan thuận.
* Trị số r < 0: gọi là trị số tương quan nghịch.
* r ≥ 0,7: tương quan rất chặt.
* 0,5 ≤ r < 0,7 : tương quan khá chặt.
* 0,3 ≤ r < 0,5: tương quan vừa.
* r < 0,3: rất ít tương quan. 20
Chƣơng 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. THỐNG KÊ CHUNG VỀ GIỚI, TUỔI, CHIỀU CAO VÀ PEF
Giới
n
Tuổi tối
thiểu
Tuổi tối
đa
SDX
p
Nam
204
5
6
5,38 ± 0,49
> 0,05
Nữ
174
5
6
5,35 ± 0,48
Chung
378
5
6
5,37 ± 0,48
p
Nam
204
101
125
113,00 ± 4,75
> 0,05
Nữ
174
100
128
112,91 ± 5,73
Chung
378
100
129
112,96 ± 5,22