ĐẶT VẤN ĐỀ
Chửa ngoài tử cung luôn là một thách thức đối với công tác chăm
sóc sức khoẻ sinh sản cộng đồng, không chỉ riêng ở Việt Nam mà trên
toàn thế giới vì ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, tính mạng và khả năng
sinh sản của người phụ nữ. Tần suất bệnh ngày càng tăng ở Việt Nam
còng nh trên thế giới [12],[14], [22]. Trước đây, điều trị chửa ngoài tử
cung thường là mổ mở cắt bỏ VTC, nh vậy sẽ làm giảm hoặc mất khả
năng sinh sản của bệnh nhân đặc biệt ở những bệnh nhân vẫn còn có nhu
cầu sinh đẻ.
Trong 10 năm trở lại đây, nhờ sự kết hợp giữa βhCG và siêu âm
đầu dò âm đạo có độ phân giải cao có thể phát hiện sớm chửa ngoài tử
cung. Chẩn đoán sớm cùng với soi ổ bụng không những ngăn chặn được
nguy cơ vỡ vòi tử cung, giảm nguy cơ đe doạ đến tính mạng người bệnh
mà còn cho phép bảo tồn vòi tử cung với kết quả cao. Ngoài ra nội soi
còn hạn chế viêm dính vùng tiểu khung sau mổ, tạo điều kiện thuận lợi
cho việc điều trị vô sinh trong tương lai, thời gian nằm viện ngắn cũng
sẽ tiết kiệm về kinh tế cho bệnh nhân và xã hội.
Khi được chẩn đoán sớm, khối thai chưa to, phẫu thuật sẽ đơn giản
hơn, khả năng bảo tồn vòi tử cung cao sẽ mang nhiều cơ may cho những phụ
nữ có nhu cầu sinh sản. Michael J. Heard và John E. Buster đã thực hiện một
nghiên cứu gộp (meta-analysis) bao gồm 32 nghiên cứu được thực hiện từ
năm 1980 - 1997 với tổng số 1614 bệnh nhân chửa ngoài tử cung chưa vỡ
được điều trị bảo tồn VTC bằng nội soi, tỷ lệ thành công là 93,4% (không tính
những trường hợp có điều trị kết hợp sau mổ), trong đó tỷ lệ thông vòi tử cung
qua chụp tử cung – vòi tử cung và qua nội soi là 77,8%, tỷ lệ có thai trong tử
cung là 56,6% và tỷ lệ chửa ngoài tử cung nhắc lại là 13,4%o [ trích 11] .
1
Tại Việt Nam, điều trị bảo tồn chửa ngoài tử cung bằng nội soi chỉ
được đề cập rải rác trong một số bài báo, còn nhiều bất cập và đồng thời
tỷ lệ bảo tồn vòi tử cung còn quá thấp [12] [20], [16]. Đoàn Thị Bích
Ngọc nghiên cứu tại Bệnh viện phụ sản Hải Phòng (2003), chỉ có 72
1,9%. Các vị trí khác không phải vòi tử cung thường hiếm gặp, trong đó
chửa trong ổ bụng chiếm 1,4%, chửa buồng trứng chiếm 0,15% và chửa
ống cổ tử cung chiếm 0,15% .
Năm 1759, John và Huck, những nhà ngoại khoa quân đội, đã
chuẩn đoán đúng và sử trí thành công 1 trường hợp chửa ngoài tử cung ở
NewYork City. Khi mổ, các ông “đã lấy đi cái thai chết, nhưng không
thấy vết tích của bánh rau”, bệnh nhân được cứu sống và vết thương liền
sau 10 tuần nằm viện [57].
3
Năm 1883, Tait là người đầu tiên điều trị thành công chửa ngoài tử
cung bằng phẫu thuật. Tác giả đã cắt vòi tử cung cho 5 bệnh nhân và tất
cả đều sống.
Thế kỷ 19 là kỷ nguyên chuẩn đoán và điều trị chửa ngoài tử cung,
được đánh dấu bởi sự ra đời của cuốn “chửa ngoài tử cung: nguyên nhân,
hình thái, giải phẫu bệnh học, triệu trứng lâm sàng, chuẩn đoán, tiên
lượng và điều trị” được xuất bản năm 1876 của Parry và Lea dựa vào
những kết quả nghiên cứu từ 500 trường hợp chửa ngoài tử cung. Cuốn
sách này đã gây được tiếng vang lớn và gần nh được coi là chuẩn mực về
chửa ngoài tử cung.
Mặc dù kiến thức về chửa ngoài tử cung đã được hiểu biết khá rõ
ràng từ cuối thế kỷ 19, nhưng cho đến giữa thế kỷ 20, các thầy thuốc vẫn
còn gặp nhiều khó khăn trong việc chuẩn đoán chính xác chửa ngoài tử
cung. Breen và Đặng Hoàng Lan thấy 80-87% chửa ngoài tử cung chỉ
phát hiện được khi khối thai đã vỡ, gây chàn máu ổ bụng. Chính điều này
là nguyên nhân gây tử vong cho người phụ nữ. Điều khó khăn nhất của
chửa ngoài tử cung là vấn đề chuẩn đoán sớm khi chưa chảy máu hoặc
mới rỉ một lượng máu nhỏ hơn 50ml trong ổ bụng, cho nên ngay từ đầu
4
thế kỷ 20 các nhà y học đã tìm các phương pháp có giá trị trong chuẩn
đoán tử cung.
- Đoạn bóng hay bóng vòi tử cung tiếp nối giữa đoạn eo và đoạn
phễu hay loa vòi tử cung, dài khoảng 5 – 7 cm chạy dọc bờ trước của
buồng trứng, lòng ống không đều và hẹp lại do những nếp gấp cao của
niêm mạc. Bóng vòi tử cung được ví như một cái buồng để thụ tinh vì
trứng và tinh trùng gặp nhau tại đây để tạo nên hiện tượng thụ tinh.
- Phễu hay loa vòi là đoạn tận cùng của vòi được viền chung
quanh bởi 10 - 12 tua vòi, có một tua dài nhất dính vào dây chằng vòi
buồng trứng gọi là tua vòi buồng trứng (tua Richard). Các tua này có
nhiệm vụ hứng lấy noãn khi được phóng ra khỏi buồng trứng.
Về mô học, vòi tử cung được cấu tạo bởi 4 lớp, lần lượt từ ngoài
vào trong:
- Ngoài cùng là lớp thanh mạc nhẵn bóng tạo bởi lá tạng của
phúc mạc.
- Lớp thứ hai là mô liên kết mỏng, trong đó có mạch, thần kinh.
- Lớp thứ ba gọi là áo cơ gồm hai lớp: thớ cơ dọc ở ngoài, thớ cơ vòng
ở trong làm cho vòi nhu động theo hướng về phía tử cung hoặc buồng trứng
tuỳ theo từng thời điểm thích hợp, như vận chuyển trứng và phôi hoặc là tinh
trùng.
- Trong cùng là lớp niêm mạc, có các nếp gấp thay đổi theo từng
đoạn phân chia giải phẫu gồm ba loại tế bào:
6
+ Tế bào có lông: Có những lông dài 8-9 m cắm vào thể đáy và
chuyển động theo một hướng nhất định về phía tử cung.
+ Tế bào chế tiết tiết dịch để nuôi dưỡng trứng và góp phần vào
dòng chảy của vòi trong chức năng vận chuyển trứng về buồng tử cung.
+ Tế bào hình thoi ở lớp đệm có tiềm năng phát triển giống như
những tế bào ở lớp đệm của nội mạc tử cung, nên có thể biệt hoá thành
những tế bào màng rụng trong những trường hợp chửa ngoài tử cung.
Các nếp gấp niêm mạc chạy song song với trục của vòi tử cung, nếp này
có nhiều ở đoạn bóng và lấn ra loa vòi tử cung hình thành các tua, tạo
mạch máu và hệ bạch huyết phong phó trong lớp đệm, vòi tử cung đã hấp
thụ nước trong ổ bụng vào lòng vòi. Dòng nước này chảy về buồng tử cung
đã cuốn theo cả trứng hoặc phôi khi nằm trong lòng vòi tử cung [1], [60],
[62], [64].
1.2.3 Những nguyên nhân dẫn đến chửa ngoài tử cung
Những nguyên nhân dẫn đến chửa ngoài tử cung gồm 4 loại:
* Cấu tạo bất thường của vòi tử cung.
+ Do cấu trúc giải phẫu không hoàn chỉnh, bản thân VTC kém
phát triển.
+ Tổn thương do viêm nhiễm là những nguyên nhân thường gặp
nhất. Tác nhân gây viêm làm huỷ hoại niêm mạc, các tua vòi mất bóng và
làm tắc hoàn toàn hay không hoàn toàn lỗ bụng vòi tử cung, những tế bào
biểu mô bong ra, tạo nên những ổ hoại tử và loét sâu vào lớp biểu mô để
8
lại những thương tổn nặng nề ở VTC [45], [62], [71], [75]. Mà biểu hiện
ở một số hình thái sau:
- Viêm vòi tử cung dạng nang nước: viêm nhiễm đã để lại những
dải sơ tạo nên những ổ dịch nhỏ trong lòng, ảnh hưởng lớn đến sự lưu
thông của vòi tử cung.
- Ứ dịch vòi tử cung: quá trình viêm nhiễm phá huỷ cấu trúc toàn
vẹn của thành vòi tử cung, lỗ thông – vòi tử cung vào ổ bụng bị bịt lại, ứ
đọng dịch ở bên trong, lớp niêm mạc vòi tử cung mất nhú, phẳng lì, đôi
khi còn tồn tại vài nếp lồi lõm như hình một cái nhú, cản trở đường di
chuyển của trứng.
- Viêm ở đoạn eo vòi tử cung làm lòng ống hẹp, ở áo cơ có nhiều ổ
giống nh những nang nhỏ nằm dọc theo biểu mô của vòi chèn vòi lòng
vòi tử cung.
Hậu quả của viêm nhiễm là làm hẹp lòng vòi tử cung, thành vòi tử
cung dày và cứng nên nhu động giảm, mất hoặc giảm các tế bào có lông
và tế bào chế tiết đã làm mất yếu tố đẩy của lòng tế bào cũng như lượng
Về vi thể: toàn bộ VTC bị xung huyết lan toả với sự phân li những
sợi tế bào. Sự cương huyết làm biến đổi màng đệm, đặc biệt ở quanh
những mạch máu và trở thành thoái hoá kính. Lớp cơ của VTC tăng sinh,
phù nề, xoắn vặn, cuối cùng là bị chia rẽ, tan rã và biến mất, còn lớp
thanh mạc có sự tăng sinh của trung biểu mô làm cho thành của VTC dày
lên và ngấm đầy tơ huyết. Những tế bào hình thoi ở lớp đệm, nằm dưới
10
màng đáy của VTC đã biệt hoá thành những tế bào rụng, tạo thành một
màng rụng rất mỏng ở nơi phôi làm tổ. Những hợp bào nuôi của phôi đã
xuyên qua lớp màng đệm mỏng mảnh này vào tận các mạch máu ở lớp cơ
của thành VTC. Phía trong màng đệm là túi phôi điển hình, có hình dáng
quả cầu, kích thước từ 1 đến 2 cm, có phôi, túi ối, màng ối và những gai
rau đâm xuyên vào thành VTC. Những tế bào nuôi xuyên qua lớp màng
đệm tạo thành hình ảnh rau cài răng lược vào lớp cơ của thành VTC hoặc
là cắm thẳng vào các hồ huyết. Vì vậy chỉ được khẳng định CNTC khi
thấy các gai rau với các tế bào nuôi hoặc tổ chức thai ở trên tiêu bản bệnh
phẩm [trích 11].
1.2.5. Hậu quả của trứng làm tổ tại VTC.
Những mạch máu ở lớp đệm của thành VTC không đủ cho gai rau
của phôi và hồ huyết của mẹ phát triển đầy đủ, áp lực trong VTC tăng vì
khối rau thai và sự xói mòn những mạch máu dễ dàng làm rách lớp màng
đệm quá mỏng manh. Mặt khác lớp hợp bào, hội bào đã phá huỷ và làm
mỏng lớp cơ của thành VTC cho nên khi phôi tiếp tục phát triển sẽ đục
thủng lớp cơ vòng và cơ dọc, làm tổn thương mạc đoạn thần kinh và
mạch máu, gây đau và máu chảy ra ngoài ổ bụng. Niêm mạc VTC không
có chức năng cho trứng làm tổ nên phôi thai bị sẩy vào lòng VTC hoặc
gây rỉ máu kéo dài, dần dần làm căng phồng dẫn đến rạn nứt VTC [trích
11]
Những tổn thương đã mô tả ở trên giải thích nguyên nhân gây nên
triệu chứng đau bụng và chảy máu và khi khối thai to làm căng quá mức
lúc ban đầu.
12
Kadar và cộng sự (năm 1981) là những người đầu tiên định lượng
βhCG hàng loạt kết hợp với siêu âm đầu dò đường bụng như là một
phương pháp để chẩn đoán sàng lọc CNTC và đã đưa ra một ngưỡng
phân biệt (Discriminatory zone) giữa thai nghén bình thường với thai
nghén bất thường và kết luận rằng: Khi nồng độ βhCG trong huyết thanh
≥ 6000 mUI/ml thì phải thấy túi thai trong tử cung bằng siêu âm đầu dò
đường bụng. Khi βhCG ≥ 6000 mIU/ml và siêu âm đường bụng không
thấy túi thai trong tử cung thì phải nghĩ ngay đến CNTC [52], [53].
- Nyberg và cộng sự (1985), kết hợp siêu âm đầu dò âm đạo và
định lượng βhCG huyết thanh đã đưa ra một ngưỡng phân biệt mới: ở
nồng độ βhCG huyết thanh là 1800 mIU /ml thì phải thấy túi thai trong
buồng tử cung. Nếu sau 48 giờ, nồng độ βhCG huyết thanh tăng dưới
66%, hoặc không tăng hay tăng Ýt hoặc giảm Ýt và siêu âm đường âm
đạo không thấy túi thai trong buồng tử cung thì phải nghĩ tới CNTC .
Nồng độ βhCG và vị trí CNTC hoàn toàn không liên quan đến nhau.
Ngay cả những người bình thường, có một lượng rất Ýt thì nồng độ
βhCG huyết thanh phân bố cũng rất phân tán [20 mai], vì vậy định lượng
βhCG huyết thanh sẽ giúp Ých rất nhiều cho việc phân biệt giữa một
CNTC hoặc sẩy thai không hoàn toàn với một thai nghén bình thường,
hoặc là theo dõi một CNTC còn tồn tại sau phẫu thuật bảo tồn VTC [39].
[67], [73].
Theo Vương Tiến Hoà [11] thì :
- Tất cả các bệnh nhân bị CNTC đều có nồng độ βhCG huyết thanh
> 25 mUI/ml. Nồng độ βhCG huyết thanh trong CNTC rất thay đổi,
phân bố phân tán, không theo quy luật chuẩn, độ lệch chuẩn > giá trị
trung bình nên giá trị tuyệt đối không có ý nghĩa trên lâm sàng. - Diễn
13
biến của nồng độ βhCG huyết thanh có giá trị hơn là trị số tuyệt đối trong
hình ảnh như một cái nhẫn một vòng. Nếu trong lòng " cái nhẫn " đó có
túi noãn hoàng hoặc là âm vang thai thì tính đặc hiệu rất cao. Người ta đã
mô tả về hình ảnh giống " cái nhẫn " như sau [32], [41].
+ Phía trong cùng là túi ối nên có âm vang thưa. Tiếp theo là lớp tế
bào nuôi dày đặc bao quanh túi phôi đã tạo nên một vòng âm vang dày
đặc hiển thị rõ trên màn hình siêu âm.
+ Ngoài cùng là lớp cơ tử cung có mật độ âm vang thưa hơn.
+ Âm vang thai và hoạt động của tim thai có thể thấy được nhưng
thường là muộn và chỉ gặp khi mà khối thai làm tổ ở bóng hoặc loa VTC
hoặc ở ổ bụng vì ở nơi đó, trứng làm tổ có phần thuận lợi hơn nên phôi
có thể phát triển to hơn nhưng nguy cơ vỡ khối thai rất cao.
- Dịch ở túi cùng Douglas: tuy rằng tính đặc hiệu không cao
nhưng độ nhạy để chẩn đoán CNTC lại cao. Hình ảnh siêu âm phụ thuộc
vào mức độ nhiều hay Ýt của dịch nằm ở cùng đồ sau. Tuy nhiên nếu có
dịch thường là muộn do khối thai bị rỉ máu hoặc vỡ.
- Người ta nhấn mạnh rằng CNTC chắc chắn khi có các dấu
hiệu sau:
+ Không có túi thai trong buồng tử cung
+ Có khối ở phần phụ tách biệt với tử cung, hình ảnh như
chiếc nhẫn.
+ Có thể có âm vang thai hoặc tim thai.
15
Nhưng nếu chờ để phát hiện có âm vang thai, hoạt động của tim
thai hoặc dịch ở túi cùng Douglas thì thường là muộn và nguy cơ khối
thai bị vỡ là rất lớn [58], [70],[74].
1.5.2. Mối liên quan giữa
β
hCG và siêu âm [30],]31],
- Trong 6 tuần đầu tính từ ngày đầu kinh cuối cùng, nồng độ hCG
tăng nhanh, thời gian tăng gấp đôi là hằng định cho tới 6000 - 6500m
xuống thấp tới 1000. Cacciatiore (1990) thấy túi thai trong buồng tử cung
ở nồng độ từ 467-935 mIU/ml và trung bình là 730mIU/ml. Năm 1983,
Batzer và cộng sự siêu âm đường âm đạo đã thấy túi thai có đường kính
6mm sau khi chậm kinh 20 ngày và có nồng độ βhCG trong túi máu là
570 mIU/ml. Nyber và cộng sự thấy túi thai có đường kính 4mm với
βhCG trong máu là 357mIU/ml, còn Gerhard Bernacheck (1988) thấy
đường kính túi thai 2mm khi βhCG trong máu là 141 mIU/ml [31], [56],
[57].
Zee Blumenfed, Gabriella pridjion siêu âm đường âm đạo đã xác
định được túi thai trong tử cung ở nồng độ βhCG từ 400 đến 800mIU/ml.
Grudzínkas J.G và Stabil I cũng nhắc đến một ngưỡng phát hiện ra tói thai
từ 500 đến1000 mIU/ml. Stovall và Ling thấy phần lớn thai trong tử cung
đều có thể nhìn thấy ở nồng độ 700 đến 1000 [78].
Phần lớn thứ hai trong tử cung được phát hiện qua siêu âm đường
âm đạo ở nồng độ 700 - 1000 mIU/ml. Theo nghiên cứu của Vương Tiến
Hoà [12] năm 2002 tại Việt Nam:
17
- Những trường hợp nghi ngờ CNTC, nồng độ βhCG huyết thanh ≥
700mIU/ml, siêu âm đầu dò âm đạo không thấy túi thai trong tử cung, có
khối biệt lập với buồng trứng nên nghĩ đến CNTC và nên SOB để chán
đoán sớm CNTC.
- Ở nồng độ βhCG huyết thanh ≥ 700 mIU/ml, siêu âm đầu dò âm
đạo thấy túi thai méo mó trong tử cung, phần phụ không có khối có thể là
thai trong tử cung đã hỏng hoặc sảy thai không hoàn toàn.
- Nếu nồng độ βhCG huyết thanh < 700 mIU/ml, siêu âm đầu dò
âm đạo không thấy túi thai trong tử cung, phần phụ có khối đặc hiệu, lâm
sàng nghi ngờ nhiều đến CNTC nên soi ổ bụng.
- Nếu nồng độ βhCG huyết thanh < 7000 mIU/ml, siêu âm đầu dò
âm đạo không thấy túi thai trong tử cung, phần phụ không có khối: phải
định lượng lại βhCG sau 48 giờ và siêu âm lại.
xương cùng hoặc các tạng trong tiểu khung gây chảy máu đồng thời thủ
thuật cũng làm bệnh nhân đau gây khó khăn cho lần khám sau.
1. 9. Soi ổ bụng trong chẩn đoán sớm CNTC.
Năm 1937 Hope đề xuất soi ổ bụng để chẩn đoán CNTC chưa vỡ.
Soi ổ bụng được coi là chuẩn vàng trong chẩn đoán chửa ngoài tử
cung và cùng lúc có thể tiến hành phẫu thuật. Ngoài ưu điểm trong chẩn
đoán CNTC, soi ổ bụng có thể đánh giá tình trạng của VTC cũng như các
19
tạng trong tiểu khung nhất là đánh giá tình trạng viêm dính ở tiểu khung
và lạc nội mạc tử cung [42], [73],]74].
Năm 1960, Việt Nam bắt đầu áp dụng phương pháp soi ổ bụng để
chẩn đoán và lần đầu tiên được thực hiện tại Viện Bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ
sinh do giáo sư Đinh Văn Thắng cùng với những chuyên gia y tế Hung –
Ga - Ri. Năm 1971, Lê Điềm công bố 24 trường hợp nội soi đầu tiên cho
ngành Phụ khoa ở miền Bắc và tiếp theo là Nguyễn Địch Kỳ (1972),
Nguyễn Đình Mạc (1974), Nguyễn Thị Xiêm (1977) và Nguyễn Thị
Hoài Đức (1985) và nhiều tác giả khác [7], [8], [14], [16].
Mặc dù được chỉ định rộng rãi và được xem như một chuẩn quan
trọng để kiểm định chẩn đoán CNTC, nhưng SOB cũng có những tai biến
và nhiều nhược điểm như phương tiện đắt tiền, đòi hỏi kỹ thuật cao cũng
như có nhiều chống chỉ định cần phải được nắm vững để khống chế
những tai biến có thể xảy ra.
Chống chỉ định của SOB: Các bệnh phổi mãn tính, bệnh tim mạch
và đặc biệt là bệnh mạch vành, suy hô hấp mãn tính hoặc là béo phì cũng
bị hạn chế khi thực hiện SOB.
Hình ảnh CNTC qua SOB là một khối tím, sẫm màu làm căng
phồng VTC giống như một khúc xúc xích, kích thước phụ thuộc vào từng
trường hợp và có nhiều mạch máu. Thông thường rất dễ dàng nhận ra
khối thai, nhưng nếu SOB quá sớm khi khối thai còn quá bé hoặc người
không có kinh nghiệm, sẽ bỏ sót khối thai. Tỷ lệ CNTC bị bỏ sót khoảng
21
- Khối chửa ở đoạn eo: 4%
- Khối chửa ở đoạn kẽ: 2-4%, vì đoạn kẽ rất hẹp các thớ cơ bao
quanh lại dày lên khi vỡ làm tổn thương cơ tử cung nhiều gây lụt máu ổ
bụng nhanh chóng
- Khối chửa ở buồng trứng: Đau bụng đột ngột, có dấu hiệu kích
thích phúc mạc. Mở bụng có khối chảy máu ở buồng trứng, còn 2 vòi tử
cung bình thường. xét nghiệm giải phẫu bệnh lý để xác định chuẩn đoán.
- Thai trong tử cung: Trên lâm sàng là triệu chứng của người có
thai nhưng có cảm giác thai nằm dưới da bụng, không có cơn co tử cung,
ngôi thai không xác định được, phải chuẩn đoán bằng X quang, siêu âm.
- Khối chửa ở cổ tử cung: Là loại hiếm gặp (1/18000) thường nhầm
lẫn với sảy thai. Chẩn đoán xác định bằng giải phẫu bệnh lý ( gai rau ăn
sâu vào ben dưới mạch máu cổ tử cung, theo Rubin [57].
- Ngoài ra một số tác giả ghi nhân trong dây chằng rộng, phối hợp
có thai trong và ngoài tử cung (1/30 000 thai), chửa ở các tạng ( gan,
lách, ).
1.10.3 Phân loại theo diễn biến bệnh:
Theo “ Hội thảo quốc tế chuyên đề về thai chửa ngoài tử cung và
vô sinh do nguyên nhân vòi tử cung – Vichy, pháp 1995 ” Một số tác giả
đề nghị phân biệt 3 mức độ hoạt năng sinh học khác nhau của chửa ngoài
tử cung dựa vào βhCG và progesteron trong máu mẹ.
- Chửa ngoài tử cung có hoạt năng sinh học cao:
Nồng độ βhCG tăng đáng kể trong vòng 48h hay nồng độ βhCG >
10 000 UI/ml và progesteron > 10 ng/ml : Chửa ngoài tử cung đang tiến
triển mạnh ( Có hoạt năng sinh học cao) với nguy cơ thất bại cao khi điều
22
trị bảo tồn. Những trường hợp này đòi hỏi thái đọ trị liệu triệt để như cắt
bỏ vòi tử cung hoặc mở vòi tử cung lấy tổ chức thai phối hợp với điều trị
bổ xung bằng Methotrexate.
công thay đổi tùy theo tong tác giả: từ 72% [47] đến 92,7% (66). Thất bại
được ghi nhận khi khối thai vẫn tồn tại, VTC vỡ gây chảy máu, lượng
βhCG huyết thanh không giảm hoặc tăng lên.
- Theo dõi sau mổ nội soi bảo tồn VTC: định lượng βhCG cho tới khi
âm tính, không giao hợp hoặc khám tiểu khung cho tới khi điều trị thành
công, Thời gian để βhCG trở lại bình thường sau mổ bảo tồn cũng thay đổi
rất nhiều theo từng nghiên cứu: theo Colacurci là 33,6 ± 6 ngày; Saraj là 20
± 2,7 ngày nhưng Korhonen lại dài tới 48 ngày. Tuy nhiên theo các tác giả,
Fernander, Letteri, Zinber thì thời gian này là từ 12 đến 14 ngày [44],
[57], [72].
Trong những trường hợp lượng βhCG không giảm hoặc tăng lên thì
coi như thất bại vì nguyên bào nuôi vẫn tồn tại (chửa ngoài tử cung tồn tại)
và phải kết hợp điều trị bằng MTX 50mg/m
2
da .
- Điều trị bằng mở bụng hay nội soi:
Việc mở bụng hay nội soi là phụ thuộc vào huyết đông của bệnh
nhân nội soi được ưa chuộng hơn mở bụng. Tổng kết 3 thí nghiệm lâm sàng
có đối chứng cho thấy nội soi làm tổn thương vòi nhiều hơn so với mở bụng
(12,5% so với 2,4%) mà nguyên nhân chính là do tỷ lệ tồn tại nguyên bào
nuôi cao hơn. Không có sự khác biệt về tỷ lệ thông VTC cơ học sau mổ
hoặc tỷ lệ có thai trong tử cung cũng như tỷ lệ chửa ngoài tử cung nhắc lại
[63], [67].
24
- Cắt vòi tử cung hay bảo tồn vòi tử cung:
Nhiều cuộc tranh luận đã diễn ra khi Quyết định cắt vòi tử cung vào
lúc mổ. Ưu điểm của cắt vòi tử cung là loại trừ hoàn toàn nguy cơ tồn tại
nguyên bào sau mổ. Một số nghiên cứu cho rằng tỷ lệ có thai trong tử cung
là như nhau ở cả hai nhóm [63], [86]. Tuy vậy cũng có nghiên cứu cho thấy