BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y - DƢỢC
HỒ VĂN HUYÊN
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH BỆNH NỘI KHOA
Ở NGƢỜI CAO TUỔI TẠI MỘT SỐ KHOA
CỦA BỆNH VIỆN TRUNG ƢƠNG HUẾ LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II
HUẾ - 2011Lời Cảm Ơn
Sau thời gian học tập và nghiên cứu, được sự dạy dỗ, giúp đỡ của Thầy Cô, Nhà trường
và Bệnh viện, đến nay luận văn đã hoàn thành, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu săc đến:
- Ban Giám hiệu Trường Đại học Y Dược Huế.
- Ban Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế.
- Ban Giám đốc Trung tâm Y tế thành phóa Huế.
- Phòng đào tạo sau đại học Trường Đại học Y Dược Huế.
- Ban chủ nhiệm Bộ môn Nội, quý thầy cô Bộ môn Nội Trường Đại học Y Dược
Huế.
- Ban chủ nhiệm cùng các bác só và toàn thể nhân viên Khoa Nội tổng hợp lão khoa,
Khoa Nội tim mạch, Khoa Hồi sức cấp cứu, phòng hồ sơ lưu trữ Bệnh viện Trung ương Huế.
- Thư viện Trường Đại học Y Dược Huế, Thư viện Bệnh viện Trung ương Huế.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó Giáo sư - Tiến só Trần Hữu
Dàng, người đã tận tình dạy dỗ, cung cấp tài liệu, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận án.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn tất cả các anh chò đồng nghiệp, các bạn bè, gia đình đã giúp đỡ,
động viên tôi trong cuộc sống cũng như trong qua trình học tập.
Tôi cũng xin cảm ơn tất cả các bệnh nhân đã hợp tác cùng chúng tôi trong quá trình nghiên
cứu.
Huế, 9/2011
Hồ Văn Huyên
LỜI CAM ĐOAN
KCBK Không có bệnh kèm
KB-G Khỏi bệnh + giảm
KK-BNCV-TV Không khỏi + Bệnh nặng cho về + Tử vong tại BV
MHBT Mô hình bệnh tật
NCT Người cao tuổi
NMCT Nhồi máu cơ tim
TBMMN Tai biến mạch máu não
THA Tăng huyết áp
TV Tử vong
WHO World health organization (Tổ chức Y tế thế giới)
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Dân số học người cao tuổi 3
1.2. Mô hình bệnh tật và tử vong 5
1.3. Tình hình bệnh tật của người cao tuổi 11
1.4. Giới thiệu sơ bộ về nơi nghiên cứu 29
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1. Đối tượng nghiên cứu 32
2.2. Phương pháp nghiên cứu 34
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
3.1. Tình hình mắc bệnh chính 43
3.2. Tình hình bệnh kèm 57
3.3. Phân bố bệnh tật theo mùa 59
3.4. Kết quả điều trị 62
Chƣơng 4. BÀN LUẬN 69
4.1. Một số đặc điểm tổng quan về mẫu đã chọn 69
4.2. Tình hình mắc bệnh chính 69
Bảng 3.21. Kết quả điều trị cho nhóm có bệnh kèm và nhóm không có bệnh kèm 63
Bảng 3.22. Kết quả điều trị của các khoa nghiên cứu 64
Bảng 3.23. Số ngày điều trị trung bình cho các nhóm tuổi 65
Bảng 3.24. Số ngày điều trị trung bình cho nhóm có bệnh kèm và KCBK 66
Bảng 3.25. Số ngày điều trị trung bình của các khoa nghiên cứu 67
Bảng 3.26. Các bệnh thường gặp trong nhóm không khỏi + bệnh nặng cho về
+ tử vong 67 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ Biểu đồ 3.1. Số bệnh nhân cao tuổi trên tổng số bệnh nhân chung 43
Biểu đồ 3.2. Mười chương bệnh thường gặp nhất 48
Biểu đồ 3.3. Mười bệnh thường gặp nhất ở người cao tuổi 53
Biểu đồ 3.4. Mười bệnh thường gặp nhất phân theo nhóm tuổi 54
Biểu đồ 3.5. Phân bố mười bệnh thường gặp nhất theo giới tính 55
Biểu đồ 3.6. Số bệnh có ở người cao tuổi (kể cả bệnh chính) 57
Biểu đồ 3.7. Số bệnh trung bình cho một bệnh nhân 58
Biểu đồ 3.8. Phân bố bệnh chính theo chương bệnh và theo mùa 60
Biểu đồ 3.9. Phân bố các bệnh thường gặp theo mùa 61
Biểu đồ 3.10. Kết quả điều trị theo nhóm tuổi 62
Biểu đồ 3.11. Kết quả điều trị cho nhóm có bệnh kèm và nhóm không có bệnh kèm 63
Biểu đồ 3.12. Số ngày điều trị trung bình cho nhóm có bệnh kèm và KCBK 66
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ nghiên cứu bệnh nhân điều trị nội trú tại các khoa nghiên cứu 33
Trên thế giới, lão khoa với tư cách là một ngành khoa học thực sự, chỉ mới ra
đời trong vài thập niên qua nhờ những thành tựu về y sinh vật học và nhu cầu thực
tiễn của xã hội [68]. Ngành lão khoa của nước ta hiện nay còn non trẻ so với nhiều
ngành y sinh học khác. Khoa lão khoa là khoa lâm sàng khám, điều trị cho người
2
cao tuổi hiện nay ở nhiều bệnh viện tuyến tỉnh chưa được thành lập. Nhiều công
trình nghiên cứu mới được tiến hành gần đây, các kết quả nghiên cứu chưa đầy đủ,
chưa có nhiều công trình nghiên cứu lão khoa cơ sở, như xác định mô hình bệnh
tật, tử vong của người cao tuổi, làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch và ưu tiên
giải quyết những bệnh thường gặp ở người cao tuổi. Các tài liệu lão khoa cơ bản ít,
xuất bản đã lâu hoặc mới xuất bản, nhưng các số liệu trong sách đều ghi nhận các
kết quả nghiên cứu cách đây quá nhiều năm, chưa có tính cập nhật, gây khó khăn
cho người tham khảo.
Ngày nay kinh tế xã hội nước ta có nhiều thay đổi, mô hình bệnh tật cũng
thay đổi. Việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi đang được quan tâm nhiều
hơn, vì vậy cần phải có nhiều nghiên cứu về bệnh tật của người cao tuổi.
Hiện nay chưa có công trình nghiên cứu về tình hình bệnh nội khoa ở người
cao tuổi điều trị tại Bệnh viện Trung ương Huế.
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên đây tôi tiến hành đề tài “Nghiên
cứu tình hình bệnh nội khoa ở ngƣời cao tuổi tại một số khoa của bệnh viện
Trung ƣơng Huế” nhằm mục tiêu:
1. Khảo sát tình hình bệnh nội khoa ở người cao tuổi điều trị tại khoa Nội
tổng hợp - Lão khoa, khoa Nội tim mạch, khoa Hồi sức cấp cứu (số mắc, phân bố
bệnh tật theo phân loại bệnh tật quốc tế, số bệnh kèm theo, phân bố theo mùa).
2. Đánh giá hiệu quả điều trị ở các bệnh nhân trên.
Cơ cấu tuổi tác trên thế giới đã có những thay đổi lớn trong thế kỷ này, số
người cao tuổi ngày càng tăng, không những ở các nước phát triển mà cả ở những
nước đang phát triển [24].
4
Theo công bố của WHO năm 1950, số người cao tuổi trên toàn thế giới
mới chỉ có 214 triệu, năm 1970 là 291 triệu người, tức 8% dân số thế giới. Năm
1975 là 346 triệu, năm 2000 là 590 triệu và dự báo năm 2025 là 1 tỷ 121 triệu.
Tỷ lệ này tăng nhanh hơn ở các nước đang phát triển, từ 5,4% lên 7%. Từ 137
triệu năm 1970 lên 354 triệu năm 2000, có nghĩa là tăng 2,6 lần. Như vậy dự
báo trong vòng 75 năm (1950 - 2025) tăng 423% hoặc trong vòng 50 năm gần
đây (1975 - 2025) tăng 223%, một hiện tượng chưa từng có trong lịch sử loài
người [24]. Ở Mỹ năm 1990 có 3,1 triệu người từ 65 tuổi trở lên nhưng đến năm
2000 có chừng 35,6 triệu, dự kiến đến năm 2030 có 71,5 triệu, tăng hơn 2 lần
năm 2000 [73], [84].
Theo báo cáo của WHO thì dân số thế giới từ 60 tuổi trở lên tiến tới 2 tỉ
người vào năm 2050 [82].
Dân số thế giới đang già hóa, tỷ lệ người già hiện nay xấp xỉ 10%, dự báo sau
20 năm nữa, tỷ lệ người già lên đến 14% [24].
Nếu tính từ 60 tuổi trở lên thì tỷ lệ người cao tuổi ở một số nước như sau:
Pháp 18,2%, Balan 13,5%, Chi lê 7,2%, Ấn Độ 6 %, Singapore 5,7%.
Nếu tính từ 65 tuổi trở lên thì tỷ lệ người cao tuổi so với dân số ở một số
nước như sau: Pháp 13,5%, Anh 13,2%, Nauy 12,9 %, Đan Mạch 12,5% Thụy Sĩ
11,6 % [24], Mỹ 12,4% [89].
Tuổi thọ trung bình tăng nhanh. Theo số liệu 1980 thì ở Bungari tuổi thọ
trung bình là 68,7 ở nam và 73,9 ở nữ; Ba Lan là 66,9 ở nam và 75,5 ở nữ [33]. Ở
Mỹ tuổi thọ tăng từ 47,3 tuổi vào năm 1990 lên 77,2 tuổi vào năm 2001 [71].
Tuổi thọ trung bình dưới thời cổ Hy Lạp và La Mã khoảng 25 tuổi, ở thế kỷ
19 cũng mới có 37 tuổi, sang thế kỷ 20 đã tăng lên khoảng 70 tuổi ở Châu Âu và
châu Mỹ. Đến thập niên 80, tuổi thọ trung bình ở 7 nước phát triển vượt 70 tuổi ở
vực cụ thể.
Việc thống kê bệnh tật và tử vong tại cộng đồng là một việc cực kỳ khó khăn,
đặc biệt đối với các nước nghèo và đang phát triển. Vì vậy, có thể xem kết cấu
bệnh tật và tử vong tại bệnh viện đa khoa là đại diện cho kết cấu bệnh tật và tử
vong của cộng đồng dân cư khu vực trực thuộc [57].
6
Thống kê bệnh tật và tử vong tại bệnh viện còn thể hiện trình độ, khả năng
chẩn đoán, phân loại bệnh tật theo các chuyên khoa để đảm bảo điều trị có hiệu
quả. Thực chất đó là khả năng đảm bảo phục vụ chăm sóc người bệnh của bệnh
viện. Bởi lẽ có phân loại, chẩn đoán đúng mới có thể tiên lượng đúng, điều trị đúng
và có hiệu quả kinh tế cao, nhờ đó làm giảm tỷ lệ tử vong, tiết kiệm chi phí thuốc
men và các phương tiện khác.
Thống kê tình hình bệnh tật và tử vong là đặc thù của ngành y tế và là nội
dung quan trọng của quản lý bệnh viện [57].
1.2.2. Khái quát về bảng phân loại quốc tế về bệnh tật lần thứ 10
Danh mục phân loại quốc tế về bệnh tật và các vấn đề có liên quan đến sức
khoẻ lần thứ 10 là sự tiếp nối và hoàn thiện về cấu trúc, phân nhóm và mã hóa các
ICD trước đây. ICD 10 đã được WHO triển khai xây dựng từ tháng 9 năm 1993.
Toàn bộ danh mục được sắp xếp thành 21 chương, từ chương I đến chương XXI
theo các nhóm bệnh. Danh mục 21 chương gồm:
- Chương I : Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng
- Chương II : Khối u
- Chương III : Bệnh máu, cơ quan tạo máu và các rối loạn liên quan
cơ chế miễn dịch
- Chương IV : Bệnh nội tiết, dinh dưỡng,và chuyển hóa
- Chương V : Rối loạn tâm thần và hành vi
- Chương VI : Bệnh của hệ thần kinh
- Chương VII : Bệnh mắt và phần phụ
- Chương VII : Bệnh tai và xương chũm
đến yếu tố di truyền như tăng huyết áp, đái đường, béo phì…[57].
1.2.3.2. Các yếu tố cấu trúc thấp
Hòa bình, ổn định chính trị góp phần phát triển kinh tế, làm giảm đi đói
nghèo, từ đó làm giảm đi các bệnh tật đặc trưng của đói nghèo như suy dinh
dưỡng, các bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy, lao Phát triển kinh tế, mặt khác,
8
còn gây biến đổi về môi trường do tăng đô thị hóa làm gia tăng các bệnh do ô
nhiễm như bệnh đường hô hấp trên, bệnh nghề nghiệp, các sang chấn tâm thần
kinh, bệnh chuyển hóa…
Tăng công bằng giúp cho người nghèo có điều kiện tiếp cận tốt hơn với các
dịch vụ y tế, làm giảm đi chỉ số bệnh tật và tử vong ở nhóm tuổi này.
1.2.3.3. Các yếu tố cấu trúc cao
Ăn uống rất cần thiết đối với sức khỏe. Khẩu phần ăn khác nhau cũng gây
nên những bệnh tật đặc trưng khác nhau. Khẩu phần ăn nhiều chất béo, nhiều đạm
làm gia tăng bệnh béo phì, là nền tảng của các bệnh rối loạn chuyển hóa lipid, bệnh
xơ vữa động mạch và các bệnh lý tim mạch khác.
Nước sạch, nhà ở, mạng lưới y tế cơ sở phát triển, phòng bệnh, giáo dục sức
khỏe tốt sẽ hạn chế tỷ lệ mắc và tử vong của các bệnh [57].
1.2.3.4. Các yếu tố thuộc về lối sống
Các yếu tố này càng được quan tâm vì những tác hại của nó trong việc làm
tăng tỷ lệ mắc bệnh cũng như tử vong của nhiều bệnh. Thuốc lá được xem là liên
quan đến nhiều bệnh như nhiễm khuẩn đường hô hấp, ung thư phổi, bệnh tim
mạch, lao, làm nặng thêm bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính [24].
Rượu với số lượng thích hợp giúp cho tiêu hóa tốt, nhưng với số lượng vượt
quá cho phép có thể gây nhiều tác hại cho cơ thể như xơ gan, loét dạ dày tá tràng,
cao huyết áp, viêm dây thần kinh.
Lối sống cũng tác động đến sức khỏe như lối sống tĩnh tại, ít hoạt động dễ
gây các bệnh chuyển hóa, tim mạch. Ngược lại quá bận rộn, stress cũng ảnh hưởng
đến một số bệnh như tăng huyết áp, bệnh mạch vành, tai biến mạch máu não
hậu lạnh thường gây cho con người bị cước các đầu ngón chân và ngón tay, da tím
tái, chân cứng đờ, thân thể cóng lạnh Người già có thể chết khi nhiệt độ ở trung
tâm cơ thể xuống dưới 30
0
C (Mets, 1967). Khí hậu lạnh còn làm tăng tỉ lệ tử vong
và tỷ lệ các bệnh đường hô hấp, lao, thấp khớp. Do các đợt rét kéo dài nhiệt độ
không khí thay đổi quá lớn (5 - 6
0
C) và quá nhanh thường đe dọa sức khỏe của
người cao tuổi và có thể gây tử vong.
10
Mùa khí hậu có tác động lên hoạt động sống của con người và ảnh hưởng tới
các loại bệnh xuất hiện theo mùa, do cơ thể giảm sức đề kháng hoặc do khí hậu tạo
điều kiện thuận lợi cho các bệnh nhiễm trùng lây lan. Những mùa chuyển tiếp từ từ
ít gây nguy hiểm hơn nhờ những điều tiết kịp thời của cơ thể [40].
Khí hậu có ảnh hưởng đến bệnh tật nhưng chúng ta cũng có thể lợi dụng các
yếu tố khí hậu để cải thiện điều kiện sống hàng ngày và chữa một số bệnh, dựa vào
nguyên tắc sử dụng các yếu tố khí hậu khác nhau. Dùng khí hậu để chữa bệnh, đó
là khí hậu liệu pháp. Ở nhiều nước, người ta lợi dụng các vùng núi cao để chữa các
bệnh hen, ho gà vì ở những vùng đó có điều kiện để tăng cường thông khí phổi,
tăng cường lưu lượng máu ngoại biên, kích thích sản sinh hocmon tuyến thượng
thận, giúp cân bằng điều hòa thân nhiệt. Đặc biệt hơn cả vẫn là việc lợi dụng các
điều kiện thiên nhiên, trong đó có các yếu tố khí hậu để xây dựng những nhà nghỉ
và những trại an dưỡng chữa bệnh [40].
1.2.4. Một số đặc điểm mô hình bệnh tật và tử vong trên thế giới [57]
Mô hình bệnh tật của mỗi nước phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã
hội của nước đó.
- Mô hình bệnh tật ở các nước chậm phát triển: bệnh nhiễm trùng cao, bệnh
mạn tính không nhiễm trùng thấp.
trí tuệ sa sút kiểu Alzheimer.
- Ở gan và đường ruột: Tuổi tăng, sự tổng hợp Enzym từ ADN ở gan giảm
dần, do đó khả năng thích nghi của cơ thể giảm.
- Ở thận: Giảm lượng đơn vị thận và tăng mô xơ ở kẻ, trọng lượng thận từ 30
tuổi bắt đầu giảm. Đến 70 tuổi giảm mất 1/3 nhưng chức năng vẫn bình thường,
đến 80 tuổi chức năng giảm 40 - 50% so với lúc trẻ. Lưu lượng máu qua thận giảm
do đó mức lọc cầu thận giảm. Quá trình tái hấp thụ bị hạn chế [51].
- Ở phổi: [78] Tế bào mô hô hấp giảm theo tuổi. Thành phần chun ở vách phế
nang bị thóai hóa làm giảm khả năng đàn hồi dẫn đến tình trạng ứ động ở phổi già.
Chức năng phổi bị giảm sút. Suy hô hấp ở người có tuổi càng làm diễn tiến trên
nhanh hơn.
12
- Ở tim mạch: Màng đáy mao mạch dày lên theo tuổi. Lớp dưới nội mô của
thành động mạch chủ có nhiều nguyên bào sợi và sợi tạo keo, tế bào sợi mỡ, tế bào
nội mô chứa nhiều giọt mỡ. Chất chun ở thành mạch giảm do đó mạch bị cứng,
kém đàn hồi.
- Sự hóa già của mô liên kết: Thành mạch bị xơ cứng do tăng colagen và
giảm thành phần chun. Xơ vữa động mạch là do xơ cứng và thâm nhiễm lipide lớp
áo trong, tăng sinh tế bào lớp áo trong. Ở bệnh đái tháo đường là bệnh phổ biến ở
người già, tổn thương toàn bộ mô liên kết không chỉ riêng ở màng đáy.
1.3.1.3. Biến đổi hệ thần kinh
Từ 20 - 49 tuổi trọng lượng của tế bào não giảm từ 10 - 20%. Từ 50 - 90 tuổi
hằng năm trọng lượng não giảm khoảng 3,7g. Ở người già khối lượng não giảm,
các hồi não nhỏ dần, các rãnh não rộng ra, não teo khá đồng đều. Sự thoái hóa tơ
thần kinh cũng gặp ở bệnh Alzheimer, loạn thần kinh lão và tiền lão trong hội
chứng Parkinson, viêm não, xơ cứng cột bên teo cơ.
1.3.1.4. Biến đổi chuyển hóa
Ở người cao tuổi có sự giảm chuyển hóa năng lượng. Mức độ tiêu thụ oxy
phụ thuộc vào lưu lượng máu đến não và trạng thái chức năng tế bào thần kinh. Sự
ở xương do đó có giảm 1/4 khối lượng ở nam từ 25 - 70 tuổi, ở nữ là 1/3, rõ nhất là
sau khi mãn kinh.
1.3.1.7. Biến đổi tổ chức liên kết
Các sợi tạo keo dày lên, rõ ở thận, chất căn bản xen giữa các sợi tạo keo tăng
lên và không thuần nhất. Tuổi già có sự giảm sút tổng hợp các đại phân tử của chất
căn bản liên kết, do đó việc tạo ra các thành phần căn bản ngày càng giảm đi. Các
cơ quan tổ chức ngày càng xơ cứng.
1.3.2. Những nguyên lý chung trong y học tuổi già [30]
Đặc điểm nổi bật nhất trong quá trình lão hóa của cơ thể là sự thu hẹp tuần
tiến dự trữ ổn định nội môi của mọi hệ thống trong cơ thể. Sự giảm sút này là tình
trạng thu hẹp nội môi từ tuổi 30 trở đi và tiến triển dần theo tuyến tính. Tuy nhiên
cũng có đôi chút khác biệt giữa các cá thể. Mỗi cơ quan của một hệ thống suy
14
giảm một cách độc lập với các cơ quan của hệ thống khác và chịu ảnh hưởng của
dinh dưỡng, môi trường và lối sống.
Nhận xét chung là những cá thể ngày càng khác biệt nhau khi tuổi càng cao,
nhưng cũng không theo một mô hình cố định nào. Tuy nhiên nếu có sự suy sụp đột
ngột ở bất cứ một hệ thống nào trong cơ thể thì thường là do bệnh tật chứ không
phải là “sự lão hóa thông thường”. Lão hóa bình thường có thể bị đảo lộn do các
yếu tố nguy hại như tăng huyết áp, nghiện thuốc lá, lối sống tĩnh tại…[30].
Hy vọng sống hiện nay trung bình là 17 năm ở tuổi 65; 11 năm ở tuổi 75; 6
năm ở tuổi 85; 4 năm ở tuổi 90 và 2 năm ở tuổi 100. Ở giai đoạn đầu của tuổi già
không có sự suy yếu đáng kể, chỉ có 30% của người trên 85 tuổi có sự suy giảm
trong hoạt động hàng ngày. Nhìn bề ngoài phần đông có vẻ bình thường khi không
ốm đau nhưng họ vẫn có sự suy giảm dự trữ bảo đảm ổn định nội môi.
Cùng với tuổi tác gia tăng, một số cá thể dễ mắc một số bệnh, dễ bị tác dụng
phụ khi dùng thuốc. Những yếu tố bất thường đó cộng với sự suy giảm dự trữ ổn
định nội môi họ dễ bị thương tổn bệnh lý ở một số cơ quan trong cơ thể. Sự hiểu
biết về những yếu tố nguy hại là cần thiết để bảo vệ sức khỏe người cao tuổi một
hiệu quả mà còn gây nhiều tác dụng không mong muốn, có hại.
6. Hậu quả bệnh tật dễ thấy hơn ở người già so với người trẻ. Cũng vì vậy tác
dụng điều trị và phòng bệnh cũng đáng kể ở người già, có khi còn hơn ở người trẻ.
Ví dụ luyện tập, dùng thuốc tiêu huyết khối, thuốc chẹn beta sau khi bị nhồi máu
cơ tim cũng có kết quả tốt như đối với người trẻ. Việc phòng bệnh cần được coi
trọng và có chỉ định rất rộng rãi. Ví dụ, ai cũng biết trong loãng xương việc làm
việc tăng tỉ trọng xương rất khó thực hiện nhưng đề phòng gẫy xương lại có thể
làm được bằng cách hạn chế đến mức tối đa các yếu tố gây ngã, xử lý các rối loạn
thăng bằng, luyện tập cho các cơ bắp được vững hơn, dinh dưỡng hợp lý, loại trừ
các thuốc có hại và cải thiện môi trường sống.
Tóm lại, phòng và chữa bệnh ở người già đòi hỏi phải có quan điểm toàn
diện, không chỉ có quan tâm đơn thuần đến bộ phận bị bệnh.
Những nguyên lý trên xuyên suốt trong quá trình khám, điều trị dự phòng và
chăm sóc người cao tuổi.
16
1.3.4. Khám bệnh ngƣời già [7], [24]
Khám bệnh người già không hoàn toàn giống như với người trẻ vì bệnh lý
người già có một số đặc điểm cần chú ý:
- Người già thường mắc nhiều bệnh. Cùng lúc có thể mắc nhiều bệnh, nhất là
các bệnh mạn tính ở nhiều cơ quan khác nhau. Trên cơ sở đó có thể mắc thêm
những bệnh cấp tính mới, có ảnh hưởng qua lại rất phức tạp, cần phân tích và tổng
hợp cẩn thận.
- Triệu chứng bệnh thường không điển hình. Phản ứng của cơ thể già đối
với tác nhân gây bệnh khác với cơ thể trẻ, hơn nữa lại mắc nhiều bệnh một lúc do
đó triệu chứng không còn điển hình nữa. Ở tuổi già, ranh giới giữa sinh lý (quá
trình lão hóa tự nhiên) với bệnh lý thường không còn rõ nữa. Tiến triển bệnh
không điển hình.
- Tâm lý người già khác với người trẻ, có bệnh nhân tiếp xúc tốt, nhưng cũng
có người tính tình thất thường, khó tiếp xúc, ít hợp tác. Trí nhớ giảm, kém minh
do đó phải cân nhắc kỹ trước khi có kết luận. Có các tình huống sau:
- Đối tượng chỉ có các biểu hiện của sự thoái triển tương ứng với tuổi không
đòi hỏi can thiệp gì đặc biệt.
- Đối tượng có những bệnh mạn tính không cần thiết điều trị nội trú tại bệnh
viện. Điều trị nên kết hợp thuốc với phục hồi chức năng.
- Đối tượng mắc một bệnh cấp tính trên cơ sở nhiễm nhiều bệnh mạn có sẵn,
cần điều trị tại bệnh viện, săn sóc tích cực.
- Đối tượng mắc một bệnh mới, ví dụ: ung thư cần điều trị kết hợp giữa các
bệnh lão khoa và chuyên khoa.
1.3.5. Đặc điểm bệnh lý tuổi già [7], [24], [27], [28]
1.3.5.1. Đặc điểm chung
- Già không phải là bệnh nhưng sự già tạo điều kiện cho bệnh phát sinh.
Tuổi già làm giảm khả năng và hiệu lực các quá trình tự điều chỉnh thích nghi
của cơ thể, giảm hấp thu và dự trữ các chất dinh dưỡng, rối loạn chuyển hóa,
giảm sức đề kháng…