BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
BỘ Y TẾ
KHƯƠNG MINH ĐẠO
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH QUẢN LÝ SỨC KHỎE
NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI CỘNG ĐỒNG
Ở THÀNH PHỐ TAM KỲ TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II
HUẾ - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
KHƯƠNG MINH ĐẠO
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH QUẢN LÝ SỨC KHỎE
NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI CỘNG ĐỒNG
Ở THÀNH PHỐ TAM KỲ TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II
2.6. Phương pháp xử lý số liệu........................................................................ 42
2.7. Đạo đức trong nghiên cứu ........................................................................ 43
2.8. Hạn chế của nghiên cứu ........................................................................... 43
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................ 44
3.1. Đặc điểm chung của người khuyết tật...................................................... 44
3.2. Tỷ lệ người khuyết tật tiếp cận dịch vụ CSSK ........................................ 49
3.3. Một số yếu tố liên quan đến tiếp cận dịch vụ CSSK ............................... 55
Chƣơng 4: BÀN LUẬN ................................................................................. 62
4.1. Đặc điểm chung của người khuyết tật...................................................... 62
4.2. Tỷ lệ người khuyết tật tiếp cận dịch vụ CSSK ........................................ 68
4.3. Một số yếu tố liên quan đến tiếp cận dịch vụ CSSK ............................... 76
KẾT LUẬN .................................................................................................... 82
KIẾN NGHỊ ................................................................................................... 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, người khuyết tật trên thế giới chiếm khoảng 10% dân số.
Việt Nam, theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cả nước
hiện có khoảng 6,7 triệu người khuyết tật, chiếm khoảng 7,5% dân số. Đa số
người khuyết tật sống ở nông thôn gặp nhiều khó khăn, cần đến sự trợ giúp,
hỗ trợ của nhà nước và xã hội nên ngoài việc thực hiện và bảo vệ quyền,
nghĩa vụ như mọi công dân khác thì họ cần được bảo vệ các quyền và những
ưu tiên dành riêng cho người khuyết tật [32].
Người khuyết tật thường nghèo, phụ thuộc và dễ bị tổn thương [90]. Đời
sống vật chất, tinh thần của người khuyết tật còn nhiều khó khăn. Có tới 80%
kiện tiếp cận được với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe gắn với phục hồi chức
năng một cách thuận lợi và hiệu quả hơn nhằm cải thiện chất lượng sống cho
người khuyết tật là một vấn đề hết sức cần thiết.
Để góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người khuyết tật tại
thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam nói riêng cho người khuyết tật nói
chung, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tình hình quản lý
sức khoẻ người khuyết tật tại cộng đồng ở thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng
Nam”
Mục tiêu nghiên cứu:
1. Mô tả đặc điểm về người khuyết tật tại thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng
Nam.
2. Xác định tỷ lệ người khuyết tật được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức
khỏe tại địa bàn nghiên cứu.
3. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức
khỏe ở đối tượng nghiên cứu.
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. TÌNH HÌNH NGƢỜI KHUYẾT TẬT TRÊN THẾ GIỚI
Về tỷ lệ người khuyết tật trên thế giới, các con số đưa ra rất khác nhau
và đa dạng, nguyên nhân là vì có khá nhiều các tổ chức đánh giá, của chính
phủ cũng như phi chính phủ...Quan trọng hơn, các tiêu chí đo lường khác
nhau đã ảnh hưởng quyết định đến kết quả [64]. Báo cáo của thế giới (WHO,
2011) qua cuộc khảo sát trực tiếp hộ gia đình của 59 quốc gia, chiếm 64 phần
trăm dân số thế giới, đã tập hợp dữ liệu được sử dụng để ước lượng tỷ lệ
khuyết tật của dân số trưởng thành trên thế giới từ 18 tuổi trở lên. Qua tất cả
1996
Australia
20,0%
2000
Zambia
13,1%
2006
Switzerland
12,1%
1988
Nicaragua
10,3%
2003
USA
19,4%
nào đó đã cho thấy vấn đề khuyết tật và người khuyết tật là phổ biến ở Việt
Nam và là vấn đề cần quan tâm trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội
quốc gia. Trong những năm tới, số lượng người khuyết tật có xu hướng gia
tăng do tai nạn giao thông, tai nạn lao động, ô nhiễm môi trường ngày càng
nghiêm trọng, đồng thời những nguyên nhân dẫn tới khuyết tật cũng sẽ có sự
5
biến động và khác hơn so với giai đoạn trước đây. Các nguyên nhân dẫn đến
khuyết tật do bẩm sinh, bệnh tật, chiến tranh giảm đi thì các nguyên nhân do
tai nạn có xu hướng tăng do quá trình phát triển của công nghiệp hoá và đô thị
hoá đang diễn ra mạnh mẽ ở Việt Nam [83]. Tai nạn thương tích xảy ra nhiều
ở lứa tuổi thanh niên, theo báo cáo quốc gia về thanh niên Việt Nam, ước tính
tỷ lệ bị tàn tật vĩnh viễn sau tất cả các loại tai nạn thương tích của thanh niên
lên đến 6,0%, gây ra gánh nặng về kinh tế, xã hội, sức khỏe cho thanh niên và
gia đình của họ. Việt Nam cần có các mô hình can thiệp giảm tai nạn thương
tích hiệu quả hơn cũng như cung cấp các hoạt động phục hồi chức năng và hỗ
trợ sau điều trị để giảm tỷ lệ tàn tật ở thanh niên [61].
Theo báo cáo thường niên năm 2010 của Ban Điều phối các hoạt động hỗ
trợ người khuyết tật Việt Nam (NCCD), một số điều tra mẫu cho thấy gần 8%
hộ gia đình ở Việt Nam có người khuyết tật, bình quân một hộ gia đình có
1,12 người khuyết tật. Kết quả điều tra mẫu cho thấy, trên 80% hộ gia đình có
người khuyết tật đang gặp phải khó khăn trong việc khám chữa bệnh, chăm
sóc sức khoẻ cho người khuyết tật, hơn một nửa hộ gia đình (51,2%) gặp khó
khăn trong việc chăm sóc, hỗ trợ người khuyết tật trong sinh hoạt hàng ngày
và gần 55% hộ gia đình gặp khó khăn về việc làm và vốn sản xuất kinh doanh
tạo việc làm cho người khuyết tật [83].
Qua nghiên cứu của một số tác giả về khuyết tật tại cộng đồng, tỷ lệ
khuyết tật ở một số địa phương như sau: Tại huyện Hương Thủy, Thừa Thiên
Huế (2005) là 2,19% [43]; tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa (2011) là
hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng
trong cuộc sống. Cũng theo ADA những ví dụ cụ thể về khuyết tật bao gồm:
khiếm khuyết về vận động, thị giác, nói và nghe, chậm phát triển tinh thần,
bệnh cảm xúc và những khiếm khuyết cụ thể về học tập, bại não, động kinh,
teo cơ, ung thư, bệnh tim, tiểu đường, các bệnh lây và không lây như bệnh lao
và bệnh do HIV (có triệu chứng hoặc không có triệu chứng) [48].
1.3.3. Khiếm khuyết, khuyết tật và tàn tật
Khiếm khuyết là tình trạng mất mát, thiếu hụt hoặc bất thường về cấu
trúc, chức năng, giải phẫu, sinh lý do bệnh tật hoặc do các nguyên nhân khác
gây nên [15].
7
Giảm khả năng là sự hạn chế hay mất chức năng thực hiện một hoạt
động do khiếm khuyết gây nên [15].
Khuyết tật là hậu quả của khiếm khuyết và giảm khả năng làm cho
người đó không thực hiện được vai trò của mình trong gia đình, xã hội, mà
người cùng tuổi, cùng giới, cùng hoàn cảnh thực hiện được [15].
Đối với đa số người Việt Nam, khuyết tật và tàn tật là hai từ để chỉ
cùng một khái niệm. Từ năm 2009 trở về trước người ta vẫn dùng song song
chúng trên cả phương tiện truyền thông đại chúng và văn bản pháp quy.
Trong Pháp lệnh người tàn tật trước đây của nhà nước Việt Nam, tàn tật là
cụm từ được chính thức sử dụng [77]. Nhưng từ năm 2010, Quốc hội Việt
Nam đã chính thức sử dụng cụm từ khuyết tật thay cho tàn tật trong các bộ
luật ban hành có liên quan [58].
1.4. NGUYÊN NHÂN KHUYẾT TẬT
Có nhiều nguyên nhân làm gia tăng số người khuyết tật và đẩy họ ra
ngoài lề xã hội. Các nguyên nhân đó rất đa dạng, không chỉ do các vấn đề sức
khỏe mà còn là các nguyên nhân xuất phát từ các yếu tố chính trị, văn hóa, xã
hội, kinh tế và môi trường [15].
- Phần 1: Chức năng và khuyết tật, bao gồm các chức năng và cấu trúc
cơ thể, các hoạt động và sự tham gia.
- Phần 2: Các yếu tố ngữ cảnh, bao gồm các yếu tố môi trường và các
yếu tố cá nhân.
Với ý tưởng khái niệm mới, việc sử dụng từ ngữ cũng thay đổi theo cho
phù hợp, do đó một biểu đồ mới cũng có thể được xây dựng với những hiểu
biết hoàn toàn khác nhau về khuyết tật: Tài liệu này thay thế thuật ngữ như
khiếm khuyết, khuyết tật và tàn tật, bằng những thuật ngữ chỉ ra sự mất
mát , cản trở chức năng đầy đủ của cơ thể, với các thuật ngữ bao gồm các yếu
tố có sự tham gia và hoạt động, các yếu tố môi trường. Khuyết tật không còn
là một cái gì đó có liên quan duy nhất đến người khuyết tật hoặc đến ngành y
tế, mà nó liên quan đến và bao gồm toàn bộ xã hội, về mặt thái độ, mối quan
hệ và sự hỗ trợ.
9
1.5.2. Theo Việt Nam
1.5.2.1. Phân nhóm khuyết tật
Theo Luật Người khuyết tật, khuyết tật được phân thành 6 nhóm:
khuyết tật vận động, khuyết tật nghe - nói, khuyết tật nhìn, khuyết tật thần
kinh - tâm thần, khuyết tật trí tuệ và khuyết tật khác [58].
Theo Quyết định số 370/2002/QĐ-B T về việc ban hành chuẩn Quốc
gia về y tế xã giai đoạn 2001-2010 [11], Quyết định số 3447/2011/QĐ-BYT
về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011 - 2020 [16],
Quyết định số 4667/2014/QĐ-B T về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về
y tế xã giai đoạn đến 2020 [18] đều chia khuyết tật thành 8 nhóm: vận động,
nghe - nói, nhìn, thiểu năng trí tuệ, tâm thần, động kinh, mất cảm giác, khuyết
tật khác.
Ngay trong văn bản pháp quy, tại cùng trong thời gian hiệu lực, việc
phân nhóm khuyết tật đã khác nhau, việc này đã gây khó khăn cho công tác
[2]. Hiện nay có 155 quốc gia tham gia ký kết Công ước quốc tế về
quyền của người khuyết tật (CRPD), 90 quốc gia tham gia ký kết Nghị
định thư không bắt buộc, 127 quốc gia phê chuẩn Công ước, 76 quốc
gia phê chuẩn và tham gia Nghị định thư không bắt buộc. Về phía Việt
Nam, Chính phủ Việt Nam đã ký Công ước về Quyền của người khuyết tật
năm 2007 và đang trong lộ trình phê chuẩn công ước [3]. Nhà nước đã có
nhiều văn bản về chính sách hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội trong đó
có người khuyết tật nhằm nâng cao quyền lợi của người khuyết tật như: Nghị
định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về chính
sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội [26]; Nghị định số 13/2010/NĐ-CP
ngày 27 tháng 2 năm 2010 Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về
chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội [28]; Luật Người khuyết tật,
năm 2010 [58]; Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2012 của
Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật người
khuyết tật [29]... Qua hệ thống các văn bản pháp quy đã trình bày, cho thấy
Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm đến người khuyết tật. Các văn bản quy
11
định việc thực hiện chế độ bảo trợ cho người khuyết tật và luôn thay đổi cho
phù hợp với tình hình thực tế của từng giai đoạn.
Đối với người khuyết tật các chính sách này đã góp phần đáng kể nâng
cao chất lượng cuộc sống, tạo điều kiện cho người khuyết tật tham gia bình
đẳng vào các hoạt động xã hội, xây dựng môi trường xã hội tốt hơn và ngày
càng nâng cao quyền lợi cho người khuyết tật.
1.7. PHÒNG NGỪA KHUYẾT TẬT VÀ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
1.7.1. Phòng ngừa khuyết tật
Trong xã hội phát triển, quan niệm về chăm sóc sức khoẻ con người
toàn diện phải bao gồm 4 yếu tố: nâng cao sức khoẻ (Promotion), phòng bệnh
tồn tại dưới 3 hình thức:
- PHCN tại trung tâm: Đây là hình thức PHCN đã có trên 150 năm nay,
người khuyết tật đến các trung tâm có cán bộ chuyên khoa và phương tiện
phục hồi chức năng đầy đủ. Hình thức này có ưu điểm: Kỹ thuật PHCN tốt,
cán bộ được đào tạo chuyên khoa sâu. Nhược điểm: Bệnh nhân phải đi xa, giá
thành cao, số lượng người khuyết tật được PHCN ít, không đạt được mục tiêu
hòa nhập xã hội [13], [51].
Vì vậy, ở các trung tâm chỉ phục hồi đối với người khuyết tật nặng và là
nơi đào tạo, nghiên cứu, chỉ đạo ngành, là cơ sở có trang bị kỹ thuật cao để
chẩn đoán và khi phục hồi chức năng tuyến dưới chưa đủ điều kiện.
- PHCN ngoài trung tâm: Là hình thức phục hồi chức năng mà các cán
bộ chuyên khoa cùng với phương tiện phục hồi chức năng đến địa phương
người khuyết tật sinh sống để PHCN cho người khuyết tật. Phương pháp này
có ưu điểm: Giúp cho người khuyết tật không phải đi xa, số lượng người
khuyết tật được phục hồi có tăng lên, giá thành chấp nhận được. Người
khuyết tật được phục hồi chức năng tại môi trường họ sinh sống [13], [51].
- Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (PHCN DVCĐ): Đã được
giới thiệu cách đây 25 năm. Tổ chức
tế thế giới đã phát triển và xuất bản
bộ hướng dẫn PHCN DVCĐ Đào tạo trong cộng đồng cho người khuyết
tật vào năm 1989 [92]. PHCN DVCĐ là chiến lược phát triển cộng đồng
về PHCN, bình đẳng phúc lợi và hội nhập xã hội của mọi người khuyết tật.
13
PHCN DVCĐ được triển khai qua sự cố gắng hợp tác của người khuyết tật,
gia đình họ cũng như cộng đồng với dịch vụ xã hội, nghề nghiệp, giáo dục
và sức khỏe một cách thích ứng [13], [51].
Các rối loạn về da, bệnh tim, rối loạn hô hấp, chỉnh hình và các rối loạn
khác rất phổ biến ở người khuyết tật. Để chất lượng chăm sóc được duy trì ở
mức cao nhất, người khuyết tật và gia đình cần được tư vấn thường xuyên,
liên tục và trong bất cứ lúc nào họ cần. Các nhà tư vấn cũng phải là những
chuyên gia có trình độ về bệnh và về PHCN [48].
1.8.2. Trách nhiệm của xã hội trong quản lý sức khỏe ngƣời khuyết tật
Ngoài hệ thống nhà nước, nhiều tổ chức về người khuyết tật ra đời nhằm đáp
ứng nhu cầu của người khuyết tật, trên bình diện quốc gia có Ban Điều phối các
hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam (NCCD) ra đời năm 2001, phía
Nam Việt Nam có Trung tâm Khuyết tật và phát triển ra đời năm 2005 [73]
cùng nhiều tổ chức hỗ trợ người khuyết tật khác tại các địa phương trên toàn
quốc.
Theo báo cáo thường niên năm 2010 của Ban Điều phối các hoạt động
hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam, để thực hiện các Công ước, Nghị quyết của
Liên hiệp quốc và các cuộc vận động, chương trình hành động khu vực châu
Á - Thái Bình Dương về vấn đề người khuyết tật mà Việt Nam tham gia;
đồng thời thực hiện trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, xã hội đối với người
khuyết tật, nhiều chính sách, văn bản pháp luật về người khuyết tật đã được
ban hành, các chương trình, đề án hỗ trợ người khuyết tật được triển khai với
sự tham gia tích cực của hệ thống các tổ chức, cá nhân trong toàn xã hội. Vấn
đề người khuyết tật được thể hiện trong văn bản luật pháp cao nhất, Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua
năm 1992 và sửa đổi năm 2001 ghi rõ: Người già, người tàn tật, trẻ em mồ
côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ. Nhà nước và xã
hội tạo mọi điều kiện cho trẻ em tàn tật được học văn hoá và học nghề phù
hợp . Việc bảo vệ người khuyết tật được nêu tại Điều 59 và Điều 67 của Hiến
pháp [83]. Sau Hiến pháp, một số chính sách xã hội quan trọng như: Pháp
lệnh về người tàn tật, năm 1998 [77]; Luật Người khuyết tật, năm 2010 [58];
pháp lý để thực hiện công tác CSSK cho nhân dân trong đó có người khuyết
16
tật [57]; Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV ngày 05 tháng 6
năm 2007 của liên bộ Bộ
tế, Bộ Nội vụ, hướng dẫn định mức biên chế
trong các đơn vị sự nghiệp y tế nhà nước, đã giải quyết những vấn đề cơ bản
về nhân lực cho CSSK người khuyết tật nói riêng, cho nhân dân nói chung
[12]; Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12, trong đó có nội dung nhằm giải
quyết tốt quyền lợi bảo hiểm y tế (BH T) cho người khuyết tật thuộc diện
hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng [56]. Sau Luật Bảo hiểm y tế là các văn bản
hướng dẫn thi hành Luật, Nghị định số 62/2009/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm
2009 của Chính phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật Bảo hiểm y tế [27]; Thông tư số 10/2009/TT-B T ngày 14 tháng 8 năm
2009 của Bộ
tế, hướng dẫn đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu và
chuyển tuyến khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế [14]; sau đó là Thông tư số
14/2014/TT-B T ngày 14 tháng 4 năm 2014 của Bộ
tế, quy định về chuyển
tuyến giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh [19].
Kinh tế xã hội phát triển, nhu cầu khám, chữa bệnh BH T ngày càng
tăng, chính sách BH T cũng thay đổi cho phù hợp. Năm 2014, Quốc hội ban
hành Luật số 46/2014/QH13, Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Bảo
sinh đã được triển khai khá tốt nhưng độ bao phủ còn hạn chế do y tế nhiều
địa phương còn khó khăn về nhân lực, trang thiết bị và hầu như mới chỉ thực
hiện ở một số bệnh lý và mức độ hạn hẹp.
Về BH T, cho đến nay các địa phương đã cấp thẻ BH T cho 100%
người khuyết tật thuộc hộ gia đình nghèo [60], cấp thẻ BH T và trợ cấp hàng
tháng cho các đối tượng khuyết tật không còn khả năng tự phục vụ và không
còn khả năng lao động theo Nghị định 67/2007/NĐ-CP [26], Nghị định
13/2010/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 67/2007/NĐ-CP và
mới đây nhất là Nghị định số 136/2015/NĐ-CP, quy định chính sách trợ giúp
xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội [30]. Các đối tượng khuyết tật còn lại,
chưa được cấp thẻ BH T.
Về giáo dục, chỉ có một số địa phương thuộc các tỉnh, thành phố có
kinh tế phát triển tốt mới đầu tư các cơ sở giáo dục đặc biệt cho trẻ khuyết
tật. Hầu hết các địa phương, trong đó có thành phố Tam Kỳ chưa có cơ sở
giáo dục đặc biệt, chưa có trường riêng, lớp riêng dành cho trẻ khuyết tật.
Trẻ khuyết tật vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong học tập và cơ hội hòa
nhập cộng đồng.
18
1.9. TIẾP CẬN DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỦA NGƢỜI
KHUYẾT TẬT
1.9.1. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan đến tiếp cận dịch vụ chăm
sóc sức khỏe
- Khám bệnh: Là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực
thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng để chẩn đoán và
chỉ định phương pháp điều trị cho phù hợp đã được công nhận [57].
- Chữa bệnh: Là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật
đã được công nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm
sóc, PHCN [57].
biết khả năng tiếp cận trở thành hiện thực [22].
Tiếp cận, theo Việt Nam tiếp cận là khả năng mà người sử dụng dịch
vụ CSSK khi cần có thể đến sử dụng dịch vụ tại nơi cung cấp dịch vụ [41].
1.9.2. Tổng quan về hệ thống y tế và cung cấp dịch vụ khám, chữa bệnh
Có nhiều cách phân loại hệ thống y tế nhưng cách thường được dùng
đó là dựa trên tiếp cận kinh tế học. Ở góc độ này thì một hệ thống y tế thường
được xem xét dựa trên việc trả lời 2 câu hỏi cơ bản: Ai cung cấp dịch vụ?
và Ai chi? . Người cung cấp dịch vụ có thể là nhà nước hoặc tư nhân hoặc
hỗn hợp. Nếu nhà nước và tư nhân cùng cung cấp thì hệ thống này gọi là hệ
thống CSSK hai thành phần và tùy theo mỗi nước thì mức độ cung cấp dịch
vụ của mỗi thành phần có khác nhau. Nếu chỉ có thành phần nhà nước cung
cấp hoặc chiếm phần chủ yếu (như Canada) thì gọi là hệ thống CSSK một
thành phần. Về cơ cấu hệ thống cung cấp dịch vụ CSSK đặc biệt là dịch vụ
KCB thì mỗi nước có một cơ cấu khác nhau. Ở nhiều nước, ngoài các bệnh
viện, dưỡng đường, trung tâm chuyên khoa thì có mạng lưới các bác sĩ đa
khoa chịu trách nhiệm KCB ban đầu cho những người dân đăng ký. Các cơ sở
y tế này có thể là công hoàn toàn, tư nhân hoàn toàn hoặc hỗn hợp [41].
Việc mô tả hệ thống cung cấp dịch vụ CSSK là không đơn giản tuy
nhiên việc trả lời cho câu hỏi Ai chi? còn phức tạp hơn nhiều. Thông
thường người ta đề cập đến 3 nguồn chi: Nhà nước, tập thể và cá nhân. Dựa
vào đây người ta chia làm 3 nhóm: Nhóm nhà nước bao cấp toàn bộ, nhà
nước chịu toàn bộ chi phí, đây là mô hình hệ thống y tế của các nước xã hội
chủ nghĩa trước đây và hiện nay ở một số nước như Anh, Canada; nhóm nhà
nước chỉ đóng vai trò quản lý và điều hòa thị trường CSSK; nhóm trung gian
20
với nhiều mức độ chi trả khác nhau của nhà nước và đây là mô hình phổ biến
của các nước hiện nay [41].
Qua hơn 20 năm đổi mới, công tác bảo vệ và CSSK nhân dân ở nước ta
bước hoàn thiện hệ thống chính sách ưu tiên trợ giúp chăm sóc y tế cho người
21
khuyết tật; phát triển hạ tầng cơ sở y tế xã hội, phát triển và nâng cao năng lực
chuyên môn của đội ngũ cán bộ y tế, đặc biệt là cán bộ y tế tuyến cơ sở; xây
dựng và phát triển chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho
người khuyết tật. Từ khi Luật Người khuyết tật có hiệu lực, Bộ
tế đã chủ
động xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe người khuyết
tật được quy định trong Luật Người khuyết tật, Bộ trưởng Bộ
tế đã ban
hành Văn bản số1736/BYT-KCB ngày 04 tháng 4 năm 2011 về việc triển
khai Luật Người khuyết tật gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố trực
thuộc Trung ương, đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố trực thuộc
Trung ương phối hợp với Bộ
tế chỉ đạo Sở
tế và các Ban, ngành có liên
quan triển khai Luật Người khuyết tật tập trung vào 6 nội dung trọng tâm về
chăm sóc sức khỏe người khuyết tật, phòng ngừa, phát hiện và can thiệp sớm
khuyết tật [2]. Theo báo cáo thường niên năm 2010 của Ban Điều phối các
hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam, khung chính sách CSSK cho