Khái quát địa lý tỉnh Nam
Định: Điều kiện tự nhiên
Nam Định - Bộ phận phía Đông Nam giáp biển của châu thổ sông
Hồng
Tỉnh Nam Định nằm giữa hai đứt gãy sâu là đứt gãy sông Hồng
chạy theo sông Đáy và đứt gãy sông Chảy đi xuống theo dòng
sông Hồng ra cửa Ba Lạt, dọc theo đó châu thổ bị sụt lún, khiến
cho bề dày trầm tích Đệ tam và Đệ tứ bên trên nền móng
Nguyên sinh có chỗ dày đến 300m
Tuy nhiên mức độ sụt võng và tuổi sụt võng cũng khác nhau giữa
phần phía tây và phần phía đông núi Gôi.
Tình hình địa chất – kiến tạo như trên đã khiến cho Nam Định nằm
trong vùng động đất có thể đến cấp 8, nhưng lại thuộc miền võng Hà
Nội là phần đất liền của bể dầu khí sông Hồng, tại đây tiềm năng khí
thiên nhiên đã trở thành hiện thực, còn tiềm năng dầu mỏ đang
được tiếp tục xác định thêm. Vị trí Đông Nam giáp biển và nằm giữa
hai sông Hồng sông Đáy cũng khiến cho Nam Định là bộ phận châu
thổ trẻ của đồng bằng sông Hồng, nơi còn chịu tác động của biển do
ảnh hưởng của thủy triều, nước mặn vẫn lan vào qua các cửa sông.
Sự phân hóa đó ảnh hưởng sâu sắc đến đặc điểm địa hình, thổ
nhưỡng và thủy văn Nam Định. Tính chất châu thổ hiện đại của tự
nhiên trong tỉnh Nam Định, khiến cho tại đây sông Hồng phải phân
ra nhiều chi lưu để có thể thóat nhanh ra biển, trong đó quan trọng
nhất là sông Nam Định, sau đó là sông Ninh Cơ, sông Sò. Như thế tỉnh
Nam Định chịu sức ép rất lớn của nước sông Hồng và của sóng, thủy
triều biển Đông. Điều này đã cắt nghĩa tầm quan trọng của hệ thống
đê sông, đê biển và các dòng sông nội đồng chi chít trong tỉnh.
đầu tiên cuả Việt Nam được ghi vào Công ước quốc tế bảo vệ đất
ngập nước (RAMSAR).
Không những tự nhiên trong tỉnh giàu có về tài nguyên tự nhiên như
khí thiên nhiên, nước khoáng, vật liệu xây dựng, đất đai phì nhiêu,
nông sản và hải sản phong phú, mà còn do vị trí đặc biệt về phía
đông nam giáp biển của đồng bằng sông Hồng.
Hiện nay năng suất lúa bình quân ở Nam Định vào loại cao nhất đồng
bằng sông Hồng và vùng muối Văn Lý cũng lớn nhất đồng bằng. Khởi
đầu từ thành Nam Định xây dựng năm 1804, là thủ phủ tỉnh từ 1832,
thành phố Nam Định còn giữ được nhiều di tích lịch sử - văn hóa
như di tích nhà Trần, tháp Phổ Minh Các mũi nhọn kinh tế có thể là
trồng cây lượng thực, cây công nghiệp (bông, cói), nuôi trồng thủy
sản, làm muối, chế biến nông hải sản, hóa chất, xi măng
Các hợp phần cấu trúc thẳng đứng tự nhiên tỉnh Nam Định
Đặc điểm và hoạt động của tự nhiên tỉnh Nam Định là kết
quả tác động tương tác của sự trao đổi vật chất và năng lượng
giữa các hợp phần địa chất, địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thủy
văn và sinh vật trong một thời gian lịch sử địa chất – kiến tạo
lâu dài
Lịch sử hình thành và phát triển để lại những dấu ấn sâu sắc nhất
trên các hợp phần vật chất rắn như nham thạch, địa hình, thổ
nhưỡng.Phần 1: Địa chất – địa hình – thổ nhưỡng Nam ĐịnhBa hợp
phần cấu trúc địa chất – địa hình – thổ nhưỡng gắn bó mật thiết với
nhau. Nham thạch là vật chất tạo nên địa hình và thổ nhưỡng, địa
hình là hính dáng nham thạch, còn thổ nhưỡng là bộ phận mỏng, vụn
bồi khoảng 90ha và khu vực Nghĩa Hưng khoảng 32ha. Như vậy,
toàn tỉnh Nam Định được tăng khoảng 120ha/năm.
Do sự phát triển như vậy mà trên địa phận Nam Định có rất nhiều di
tích bờ biển cổ, như các đầm lầy biển cổ ở hữu ngạn sông Nam Định
và các cồn cát cổ ở tả ngạn sông Nam Định, nơi có đường bờ biển ở
thế kỷ X. Từ đường bờ biển thế kỷ XIX trở ra, ta cũng gặp khá nhiều
các dạng địa hình cồn cát, giúp ích rất lớn cho việc quai đê lấn biển.
Như thế, nhân dân ta cũng đã biết lợi dụng đặc điểm phát triển của
châu thổ để cải tạo nhanh các bãi sa bồi ven biển thành ruộng lúa và
xây dựng các đồng muối tại nơi bờ bỉển không tiến được – do không
có nguồn phù sa phong phú từ một chi lưu quan trọng nào đổ ra,
khiến cho năng lượng sóng dư thừa đã làm xói lở đường bờ biển cát
c) Đặc điểm thổ nhưỡng
Tại châu thổ trẻ này, các hợp phần địa chất – nham thạch, địa hình và
thổ nhưỡng có quan hệ phát sinh rất chặt chẽ, trong đó vai trò quyết
định thuộc về các quá trình sông – biển hình thành châu thổ lấn biển.
Các vật liệu tích tụ sông – biển là nham tướng của các kiểu địa hình
và của thổ nhưỡng. Các quá trình tạo thành địa hình lại phân phối
các vật liệu ấy, đồng thời cũng xác định vị trí của các loại đất. Do vậy,
lớp phủ thổ nhưỡng ở đây gồm hai nhóm đất chính là đất phù sa
sông, đất mặn và đất cát vùng ven biển. Do đó, thổ nhưỡng Nam
Định chia ralàm hai vùng lớn: vùng không còn chịu ảnh hưởng của
biển và vùng còn chịu ảnh hưởng của biển.
Các hợp phần cấu trúc thẳng đứng tự nhiên tỉnh Nam Định (tiếp
theo)
Khí hậu Nam Định mang tính chất chung của khí hậu đồng
bằng Bắc Bộ, là khí hậu chí tuyến gió mùa ẩm, có mùa đông lạnh
bắc và tây nam cũng dài tới hai tháng, mà riêng tại đồng bằng Bắc Bộ
trong đó có Nam Định có thời tiết bốn mùa xuân – hạ - thu – đông
tương đối rõ.Đặc trưng nhiệt ẩm trung bình năm và diễn biến mùa
đã khiến cho khí hậu Nam Định nói chung thuộc kiểu “khí hậu chí
tuyến gió mùa ẩm, có mùa đông lạnh với hai tháng dưới 18oC và có
mùa khô dài hai tháng”. Qua phân tích đặc điểm của từng yếu tố khí
hậu cho thấy các yếu tố đó đều có quan hệ với nhau và tựu trung là
phản ánh nền tảng nhiệt - ẩm của khí hậu chí tuyến gió mùa ẩm và
diễn biến mùa xuân – hạ - thu – đông tại tỉnh Nam Định.
2) Đặc điểm thủy văn
Là bộ phận ven biển đông nam của châu thổ sông Hồng, có khí hậu
chí tuyến gió mùa ẩm, nguồn nước của tỉnh Nam Định rất phong phú,
nhưng biến đổi theo mùa và chịu ảnh hưởng của thủy triều. Từ khi
con người đắp đê kiên cố để khai thác tự nhiên, thì sự giao lưu giữa
hai nguồn nước là nguồn tại chỗ do mưa cung cấp và nguồn từ sông
Hồng và các chi lưu bị xáo trộn. Con người phải xử lý sự xáo trộn do
mình gây ra khi muốn sớm thâm canh đồng bằng bãi bồi hàng năm
bị ngập lụt, bằng một hệ thống kênh mương rải khắp đồng ruộng và
các trạm bơm tưới, tiêu và cống tưới tiêu dày đặc ven sông, mà điển
hình là dọc sông Sắt và sông Ninh Cơ.Mật độ lưới sông trong tỉnh
không đủ để tiêu hết nước dư thừa trong mùa mưa lũ, khiến cho rải
rác khắp nơi đều có vùng úng ngập tạm thời, riêng ô trũng Vụ Bản –
Ý Yên có thêm những vùng ngập úng thường xuyên chưa tiêu thoát
được.
Tuy nhiên nếu khai thác hợp lý, phù hợp với điều kiện địa – sinh
thái, thì vùng ngập úng cũng có những thuận lợi riêng, chưa chắc đã
thua kém về hiệu quả kinh tế. Trong tỉnh có khoảng 530,1km sông
ngòi, trong đó có 16 sông ngòi dài trên 10km với tổng chiều dài là
sát biển, cây trồng phù hợp với đất lợ là cói, một cây công nghiệp cho
vô vàn sản phẩm tiêu dùng hữu ích như chiếu, làn, túi xách
Tại các vùng đất cát ven sông, cây phù hợp là rau, màu, cây công
nghiệp ngắn ngày ưa khô chỉ trong mùa cạn. Trong tập đoàn cây
công nghiệp tại Nam Định đáng chú ý có đay (ven sông Hồng), mía
(vùng châu thổ hiện tại trong đê biển), đậu tương (đất bãi bồi cao),
lạc (đất cồn cát cổ).Trong các vườn làng là cả một tập đoàn cây ăn
quả và cây lâu năm khác. Các điểm quần cư nông thôn thường chọn
nơi cao ráo như gờ đất ven sông cũ, các cồn cát cũ, nếu là bãi bồi thì
thường phải đào ao vượt thổ. Ngoài bờ biển, để chống cát bay đã
trồng phi lao cố định cát và lấy bóng râm. Vùng bãi triều được phai
khá mạnh để nuôi tôm quảng canh và thâm canh.
2) Sinh vật tự nhiên
Thực vật tự nhiên chủ yếu mọc trên các bãi triều, từ ngoài vào trong
là quần xã cỏ chịu mặn, rồi đến cây rừng ngập mặn. Trên các cồn cát
có muống biển, sam biển, muối biển. Tại các bãi triều có cỏ gấu, cỏ gà
và đặc biệt là cỏ ngạn. Động vật đáy bao gồm các loài thân mềm như
ngao, vọp, sò và một số loài cua, tôm phổ biến nhất là tôm rảo, tôm
sú, tôm lớt. Những động vật này tập trung ở các đáy cát hoặc bùn cát
của vùng cửa sông.Chim: Cửa sông Hồng là nơi dừng chân và trú
đông quan trọng của chim di cư. Tại Nam Định có một khu bảo tồn
thiên nhiên Giao Thủy được thành lập năm 1989 với diện tích
12.000ha. Có gần 200 loài chim, trong đó có một số loại được ghi vào
sách đỏ quốc tế./.