Là trung tâm hành chính và là trung tâm thương mại dịch vụ phát triển nhất
của thành phố. Trước đây quận đã từng có vị trí là trung tâm phát luồng hàng hoá
cho toàn miền Trung và trung chuyển hàng hoá cho hai đầu đất nước nên quận có
nhiều lợi thế trong việc thu hút các nhà đầu tư, doanh nhân và du khách.
Với những ưu thế hiện có đồng thời nắm bắt được xu thế phát triển của xã
hội, nhu cầu nhân sinh, các nhà doanh nghiệp cũng như các hộ tư thương đã từng
bước tập trung đầu tư lớn, mang tính chiến lược lâu dài hơn, phát triển thêm nhiều
loại hình dịch vụ mới như các trung tâm tài chính, tính dụng, dịch vụ bưu chính
viễn thông, các dịch vụ công nghiệp. Bên cạnh đó hàng hoá ngày càng đa dạng và
phong phú, nhiều mẫu mã nhiều chủng loại, giá tương đối ổn định vì vậy đã đáp
ứng được nhu cầu người tiêu dùng và thu hút sức mua ngày càng tăng cao.
Tổng mức bán hàng hoá và dịch vụ xã hội trên địa bàn quận Hải Châu -
TPĐN.
ĐVT: triệu đồng
Tổng mức bán ra Mức bán lẻ
2002 2003 Ước
2004
2002 2003 Ước
2004
Tổng mức 1501554
2
1564331
8
1630088
0
3129702
326967
3
3238340
7
1025746
106173
8
1117155
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
- Khách sạn, nhà hàng
6899 7209 7678 6899 7209 7678
- Dịch vụ, du lịch 91630 93170 97829 91630 93170 97829
- DN trực tiếp bán SP 47135 47925 48884 47135 47925 48884
II. Kinh tế tập thể 22634 24156 27180 11080 11448 11883
- Thương nghiệp 15829 17062 19781 4275 4354 4485
- Khách sạn, nhà hàng
1780 1819 1860 1780 1819 1860
- DN sản xuất trực
tiếp bán sản phẩm
5025 5275 5539 5025 5275 5539
III. K.tế tư nhân, cá
thể
2344187 2478881 2819121 1874820
197249
9
2075886
- Thương nghiệp 1564557 1649231 1936419 1095190
doanh dịch vụ cũng được mở rộng và không ngừng phát triển. Với 4 chợ lớn và
hàng chục chợ vừa và nhỏ đã đáp ứng được nhu cầu mua sắm và phục vụ cho đời
sống và sinh hoạt của đại bộ phận dân cư trên địa bàn thành phố và khách vãng lai,
khách du lịch nước ngoài. Giá trị bán lẻ hàng hoá trên địa bàn quận tăng 18,45% so
với năm 2003, chiếm 58,63% giá trị bán buôn toàn thành phố đã khẳng định vai trò
trung tâm phát luồng hàng hoá của quận Hải Châu.
Từ khi có Luật doanh nghiệp và cải cách thủ tục hành chính theo mô hình
"một cửa" được thành phố và quận chú trọng thực hiện, số lượng doanh nghiệp dân
doanh và hộ kinh doanh cá thể tăng nhanh. Nhờ đó đã góp phần tích cực phục vụ
cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của địa phương cũng như của toàn thành phố.
Tuy nhiên trong hoạt động TM - DV thời gian qua cũng tồn tại một số mặt
hạn chế như sau:
- Thị trường hoạt động TM - DV còn hẹp.
- Hàng xuất khẩu chủ yếu là các mặt hàng truyền thống, xuất thô chưa qua
gia công chế biến. Một số mặt hàng còn bấp bệnh chưa ổn định về thị trường tiêu
thụ.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật trang bị cho ngành TM - DV quá nghèo nàn, đơn
điệu.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
- Sức cạnh tranh của các cơ sở sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường
trên địa bàn quận còn yếu, còn nhiều lúng túng trong định hướng phát triển, chưa
thu hút được nhiều vốn đầu tư để mở rộng và nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh
doanh. Số lượng các loại hình doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể tăng nhanh
nhưng còn ở quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu.
- Chưa kịp thời có định hướng chuyển kinh doanh nội địa phù hợp đòi hỏi
của cơ chế thị trường. Trong kinh doanh còn chạy theo lợi nhuận và mặt hàng có giá
trị thu nhập lớn như hàng tiêu dùng cao cấp và hàng ngoại nhập.
- Chưa thiết lập được kênh lưu thông hàng hoá thông suốt ổn định giữa người
sản xuất, người buôn bán và người tiêu dùng. Các doanh nghiệp thương mại còn
nặg về kinh doanh tổng hợp, không tập trung kinh doanh chuyên một mặt hàng.
nhau như tiêu dùng của người dân giảm đi tăng tiết kiệm để đầu tư sản xuất.
Tình hình thị trường nhìn chung sôi động, hàng hoá đa dạng phong phú, lưu
thông thuận lợi có nhiều phương thức kinh doanh (như đại lý, uỷ thác, mua bán tại
nhà, qua bưu điện ) được mở rộng giá cả các mặt hàng thiết yếu như lượng thực,
thực phẩm, hàng tiêu dùng tương đối ổn định.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Hoạt động xuất khẩu năm 2004 ước đạt 159,975 triệu USD tăng 38,19% so
với năm 2003. Chủ yếu là do các nguyên nhân sau:
- Chủ động tìm thị trường tăng cường xuất khẩu sang các nước khác.
- Cơ cấu hàng xuất khẩu của quận có xu hướng tăng sản phẩm sản xuất và
đặc biệt là sản phẩm có chất lượng,từng bước tìm kiếm sao cho phù hợp với thị hiếu
của người tiêu dùng nước ngoài.
- Được sự hỗ trợ của chính phủ trong việc cho vay vốn, khuyến khích các hộ
kinh doanh các tổ chức cá thể tập thể tham gia vào sản xuất các mặt hàng xuất
khẩu cố gắng tìm kiếm những mặt hàng mới.
2.4. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện kế hoạch phát triển
ngành TM - DV:
2.4.1. Phân tích thị trường
2.4.1.1. Thị trường trong nước:
Quận Hải Châu là một quận trung tâm của thành phố Đà Nẵng là trung tâm
phát luòng và giao lưu hàng hoá. Các cơ sở thương mại với lượng hàng lớn phong
phú. Nhưng nhìn chung ngành dịch vụ của quận vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu
phát triển nhanh về kinh tế của thành phố Đà Nẵng cũng như của quận cả về số
lượng và chất lượng. Hoạt động dịch vụ trong thời gian qua chưa định hướng phát
triển một cách cụ thể, sự tác động tương hỗ trong nội bộ ngành và các ngành khác
còn kém, chưa tạo được điều kiện thuận lợi cho kinh tế của quận và thành phố phát
triển mạnh.
2.4.1.2. Thị trường ngoài nước:
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Hiện nay do tình hình biến động trên thế giới đã làm cho một số mặt hàng