Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay nền kinh tế trên thế giới đang từng giờ đổi thay, để có được sự
đổi thay nhanh chóng như vậy là nhờ có hoạt động thương mại trên toàn thế
giới hay còn gọi là thương mại quốc tế. Nước ta từ khi ra nhập tổ chức thương
mại quốc tế (WTO) đã và đang thực hiện hoạt động thương mại theo xu hướng
quốc tế, để tranh thủ ngững ưu đãi của WTO đối với Việt Nam .Các doanh
nghiệp Việt Nam đã có sự thích nghi nhanh chóng và bước đầu ổn định trong
kinh. Đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức hành chính sự nghiệp không
ngừng có những sửa đổi về các biểu thuế, điều luật và các chính sách ưu tiên
khác nhằm tạo cơ hội cho các doanh nghiệp có hành lang pháp lý trong hoạt
động kinh doanh. Hoạt động thương mại là một hoạt động không thể thiếu
trong tổ chức bởi bản thân nó chứa đựng các yêu cầu cần thiết trong tổ chức.
Một tổ chức hoặc doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần phải có những
chính sách hợp lý về thương mại bởi nó mang lại cho tổ chức, doanh nghiệp lợi
nhuận để duy trì hoạt động sản xuất và điều tiết thị trường … Tỉnh Yên Bái là
tỉnh miền núi vùng cao nhưng hoạt động thương mại tương đối phát triển, còn
một số ít huyện, xã thì hoạt động thương mại chưa thực sự được quan tâm. Tuy
vậy trong thời gian tới hoạt động thương mại sẽ có những đổi thay to lớn hơn,
vì trong thời gian tới sở thương mại sẽ mở rộng các mạng lưới chợ, siêu thị trên
phạm vi toàn tỉnh. Hơn nữa sở thương mại và sở tài nguyên môi trường đã và
đang quy hoạch các khu du lịch sinh thái, du lịch văn hoá dân tộc, di tích lịch
sử … để thu hút du khách đến với yên bái …
Hoạt động thương mại trên địa bàn đã đáp ứng được nhu cầu của người
dân, song nhìn một cách tổng thể thì vẫn còn nhiều nơi chưa thực sự cung cấp
đầy đủ nhu cầu cần thiết cho người dân, có nơi thừa hàng hoá ,
1
Chuyên đề tốt nghiệp
có nơi thiếu hàng hoá …Chính vì vậy em chọn đề tài “ Xây dựng kế
hoạch, quy hoạch phát triển thương mại - dịch vụ trên địa bàn huyện Văn
Chấn -Yên Bái” làm chuyên đề tốt nghiệp cuối khoá.
Chuyên đề tốt nghiệp
2.Khái niệm về quy hoạch và kế hoạch phát triển thương mại.
2.1. Khái niệm về quy hoạch:
Quy hoạch là việc khoanh vùng và chuẩn bị cơ sở vật chất trong tương lai
để pháy triển một lĩnh vực nào đó được tổ chức, cá nhân xây dựng và lên kế
hoạch thực hiện.
Quy hoạch còn được hiểu là tất cả các hoạt động nhằm khoanh vùng một
nơi, một khu nào đó để đầu tư phát triển trong thời gian sắp tới hoặc trong
tương lai.
2.2. Khái niệm về kế hoạch:
Kế hoạch là quá trình hoạt động có ý thức của một tổ chức hay cá nhân
thuộc cộng đồng nhằm xác định các chương trình mục tiêu trong tương lai và
các biện pháp tổ chức thực hiện các mục tiêu đã định ra.
Kế hoạch bao gồm các hoạt động nhằm thực hiện các mục tiêu và phát
triển các mục tiêu đó phù hợp với từng giai đoạn, từng thời kỳ.
II. Vai trò của quy hoạch và kế hoạch phát triển thương mại đối với
kinh tế địa phương.
Trước những xu hướng phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước và kinh
tế trên thế giới .Trong sự phát triển ấy ngành thương mại dịch vụ đóng vai trò
quan trọng và gần như quyết định đến sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Chính vì vậy ban lãnh đạo Huyện Văn Chấn thấy rằng muốn phát triển
ngành thương mại dịch vụ trên địa bàn huyện cần có sự cân nhắc và phát triển
như thế nào mới phù hợp với địa phương mình.Nhờ co sự cân nhắc đó mà ban
lãnh đạo huyện đã lên kế hoạch khoanh vùng dể phát triển ngành thương mại
dịch vụ lấy vùng đô thị (thị trấn, thị xã, trung tâm huyện lỵ…) là vùng trọng
điểm và lấy vùng, khu chợ xã, thôn bản là quan trọng. Do đó ngành thương mại
4
Chuyên đề tốt nghiệp
dịch vụ đã đáp ứng tương đối đầy nhu cầu tiêu dùng của người dân trên địa
bàn huyện.
tương đối dòi dào, đa dạng. Vì vậy nhu cầu lao động cũng không kém phần đa
dạng, chính những đối tượng này đã góp phần trong việc chọn ngành nghề và
thúc đẩy lưu thông hàng hoá dịch vụ trong địa bàn.Thương mại dịch vụ không
những là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng mà còn là trung gian phân phối
nguồn lực tài chính để tham gia kinh doanh, thực hiện lưu thông và luân
chuyển hàng hoá trên thị trường, giúp sản xuất tiêu thụ sản phẩm được thuận
lợi. Trong những năm qua nguồn lực xét trên địa bàn huyện là khá rõ nét, cùng
với sự phát triển chung của vùng kinh tế trong và ngoài huyện được xác định
là vùng đang phát triển theo tiêu chí khu vực miền núi. Nguồn đầu tư chue yếu
của các hộ gia đình, tư nhân vào các lĩnh vực kinh doanh đạt hiệu quả cao
như:Sản xuất chế biến chè, trồng cây ăn quả, hàng tiêu dùng, điển tử. Các xã
vùng sâu, vùng xa của huyện xác định là vung kinh tế kém phát triển do nguồn
đầu tư, huy động vốn cho các vùng này còn chưa cao. Trong tổng số 31 xã, thị
trấn có khoảng 55% số xã thị trấn thuộc vùng thương mại đang phát triển, 45%
các xã thuộc vùng thương mại kém phát triển. Tuy nhiên ta cũng không thể
đánh giá một cách mất thiện cảm với các xã này, cần phải có sự nhìn nhận và
đánh giá một cách chính xác, khách quan .Bởi trong mặt bằng chung còn nhiều
xã kinh tế chưa phát triển, thu nhập bình quân thấp, sản xuất tự cung tự cấp vẫn
còn, trình độ dân trí thấp, cuộc sống còn phụ thuộc vào tự nhiên nên tỷ lệ
nghèo đói còn cao( theo thống kê tổng hợp về tỷ lệ nghèo đói của huyện trên
40%). Vì vậy cần có sự đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các cụm kinh tế, trung
tâm cụm xã, các điểm du lịch sinh thái, du lịch lễ hội, xây dựng chợ để thúc
đẩy các xã các vùng phát triển kinh tế .Ngoài ra còn phải hướng dẫn chuyển
6
Chuyên đề tốt nghiệp
giao các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp cho người dân
nhất là đồng bào dân tộc ít người ở vung cao vùng sâu, từ đó tạo tiền đề phát
triển thương mại dịch vụ các xã còn khó khăn .
3. Tác động của thương mại đối với các ngành khác của nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường hoạt động với xu thế xã hội hoá cung cầu và
như:Máy vi tính thì một số cơ quan và nhiều xã thị trấn trong huyện không có.
5. Vai trò góp phần mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế.
Hệ thống thương mại chung đã góp phần mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế,
làm cho thương mại giữa huyện thâm nhập được thị trường ngoài nước (xuất
khẩu chè, quế, long nhãn…).Trong những năm qua sản phẩm xuất khẩu của
huyện chủ yếu là :chè đen, chè sơ chế, chè ôlong năm 2007 tiêu thụ khoảng 40
nghìn tấn chè búp tươi (chưa kể sản lượng chè trôI nổi, tiêu thụ ngoài
huyện ).Ước đạt gần 26 nghìn tấn chè đen thành phẩm và bán thành phẩm. Dự
tính trong năm 2008 sản lượng chè sẽ tăng gần 6,5 ha và tiêu thụ thêm khoảng
6 nghìn tấn chè đen nội địa và xuất khẩu. Vai trò hoạt động thương mại trong
nền kinh tế của huyện với quan hệ kinh tế quốc tế là rất cần thiết trong giai
đoạn hiện nay. Chung ta đã đạt được nhịp độ xuất khẩu hàng năm tại thị trường
một số nước. Vì thế cần duy trì các mặt hàng xuất khẩu hiện có, tăng thêm các
mặt hàng xuất khẩu mới, đầu tư toàn diện về quy trình sản xuất ở các đơn vị,
công ty. Tăng tỷ trọnh xuất khẩu nhằm giúp tiêu thụ sản phẩm, nguyên vật liệu
chè ,hoa quả cho người sản xuất. Thực hiện nghiên cứu khảo sát phát triển thị
trường và sản phẩm, thu nhập, sử lý và phổ biến thông tin tư vấn kinh doanh
,tham vấn chính sách cho các cá nhân doanh nghiệp, tổ chức tham gia tập
huấn ,đào tạo hợp tác, liên doanh góp cổ phần trong và ngoài nước, tham gia
8
Chuyên đề tốt nghiệp
hội chợ triển lãm và xúc tiến thương mại tong bước thành lập các thương hiệu
sản phẩm nhằm mục đích giới thiệu sản phẩm, hàng hoá của địa phương.
6. Quy hoạch và kế hoạch có vai trò định hướng cho sự vận động của
thị trường theo những mục tiêu của Đảng và Nhà nước đã đề ra.
Quy hoạch và kế hoạch bảo đảm một cơ cấu kinh tế hợo lý, khai thác tiềm
năng, thế mạnh của đất nước cho mục tiêu phát triển đã định ; bảo đảm cho nền
kinh tế phát triển cao và bền vững là mục tiêu cơ bản và lâu dài của kế hoạch
hoá nền kinh tế quốc dân ở nước ta. Quy hoạch và kế hoạch đề xuất các mục
tiêu, nhiệm vụ thương mại ở tầm vĩ mô và vi mô, xây dựng những kế hoạch dài
có thể phát triển và tồn tại trong trạng thái cân đối, khi mất cân đối sự vật ấy sẽ
không phát triển bình thường như nó vón có. Tuy nhiên trạng thái cân đối chỉ là
tạm thời, mất cân đối là thương xuyên xảy ra .Vì vậy xu thế phát triển là phá vỡ
cân đối cũ để hình thành cân đối mới tốt hơn tiến bộ hơn .Sự cân đối khách
quan nằm trong bản thân sự vật.Con người nhận thức yêu cầu cân đối khách
quan của sự vật và tác động để bảo đảm sự cân đối vững chắc, tạo lập cân đối
tích cực, thúc đẩy sự vật phát theo ý muốn.Quy hoạch và kế hoạch là quá trình
xây dựng và thực hiện các cân đối.
1.2. Những khuyết điểm của thị trường trong điều tiết nền kinh tế.
Thị trường trong sản xuất hàng hoá có những chức năng rất quan trọng để tự
điều tiết, tự điều chỉnh nền kinh tế.Sự điều tiết của “bàn tay vô hình “ đã được
khẳng định trong nhiều học thuyết kinh tế. Tuy nhiên trong thực tế, thị trường cũng
bộc lộ nhiều khiếm khuyết mà tự nó không thể khắc phục được. Đó là tính tự phát
10
Chuyên đề tốt nghiệp
ngày càng gia tăng, them chí có nguy cơ bùng nổ những cơn sốt trên thị trường ; sự
phát triển không đồng đều giữa các ngành, các vùng, các lĩnh vực mà hậu quả là các
nguồn lực bị phân bổ bất hợp lý;thị trường không bảo đảm cho các quyết định của
cá nhân sẽ được tối ưu hoá theo những mục đích ưu tiên của xã hội ; vấn đề môi,
trường chích sách xã hội, ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài, vấn đề phá sản…có
những hậu quả mà thị trường chịu bất lực. Quy hoạch và kế hoạch giúp “bàn tay
hữu hình” của Nhà nước phối hợp với “bàn tay vô hình” là thị trường tạo hợp lực
điều tiết nền kinh tế. Thị trường là căn cứ ,là noi kiểm tra tính đúng đắn của quy
hoạch và kế hoạch. Quy hoạch và kế hoạch tác động vào thị trường để tác động vào
thực thể mới “thị trường có sự điều tiết vĩ mô”.
1.3. Khả năng phân phối các nguồn lực.
Sự phát triển của kinh tế nước ta rất cần tập trung các nguồn lực hạn chế
của mình, đặc biệt là lao động lành nghề và vốn đầu tư vào lĩnh vực sản xuất
vật chất. Do đó, những dự án đầu tư vào thương mại phải được chọn lựa không
những trên cơ sở phân tích hiệu quả đầu tư mà còn phải tính đến những yếu tố
1.5.1.Tính định hướng tổng quát
Trong cơ chế quản lý tập trung, kế hoạch Nhà nước tính toán cân đối trực
tiếp mọi nhu cầu cho toàn xã hội. Cơ cấu sản xuất và cơ chế tiêu dùng được kế
hoạch hoá một cách trực tiếp.Nhưng hiện nay kế hoạch Nhà nước mang tính
tổng quát về điịnh hướng phát triển nền kinh tế quốc dân. Quy hoạch và kế
hoạch Nhà nước không làm thay, bố tríu thay cơ cấu sản xuất và cơ cấu tiêu
dùng cụ thể của hàng vạn mặt hàng cho nhu cầu phong phú, đa dạng của cuộc
sống, mà tập trung vào việc thiết lập một cách đúng đắn các quan hệ cân đối
lớn củ nền kinh tế quốc dân như:Cân đối tích luỹu và tiêu dùng ; cân đối giữa
công nghiệp và nông nghiệp ; cân đối giữa nhập khẩu và xuấ khẩu; cân đối
giữa kinh tế và an ninh quốc phòng; cân đối giữa phát triển kinh tế và bảo đảm
12
Chuyên đề tốt nghiệp
sự phát triển ổn định, có hiệu quả của nền kinh tế và công bằng xã hội. Đó cũng
là cơ sở để hoạch định các chín sách kinh tế và định hướng vận động cho thị
trường xã hội .Việt bảo đảm cơ cấu sản xuất và cơ cấu tiêu dùng cụ thể của sản
xuất và lưu thông cho các doanh nghiệp trực tiêp thực hiện, thông qua các yếu
tố tự điều chỉnh của thị trường.
1.5.2. Tính hướng dẫn gián và gián tiếp
Trong cơ chế quản lý mới, kế hoạch Nhà nước mang tính định hướng và
dự báo nâng cao chất lượng của các quy hoạch và kế hoạch, gắn quy hoạch và
kế hoạch với thị trường .Là những đơn vị sản xuất hàng hoá, các doanh nghiệp
được tự chủ về kinh doanh và tự quyết định các vấn đề cơ bản của sản xuất
kinh doanh. Kế hoạch của Nhà nước vừa là những định hướng lớn, vừa là hành
lang hành động đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Tính
công khai và năng động gắn lion với hiệu quả và các lợi ích kinh tế :cơ chế tài
chính trước đây theo kiểu thu đủ - chi đủ, phân phối bình quân và giá cả kế
hoạch không khuyến khích các doanh nghiệp phát huy mọi sáng kiến để làm
giàu, không tạo được động lực để sản xuất kinh doanh.
2. Nội dung quy hoạch và kế hoạch phát triển thương mại của kinh tế
mại.
- Cúng như kế hoạch 5 năm, một nội dung quan trọng là những chính sách
và biện pháp chủ yếu để thực hiện kế hoạch.Trong kế hoạch hàng năm, cần có
các biện pháp cụ thể, rõ rằng và mang tính điều hành, tác nghiệp. Thí dụ, để
thực hiện kế hoạch xuất khẩu hàng hoá, Nhà nước hỗ trợ cho các doanh nghiệp
đầu tư vào nghiên cứu đổi mới thiết bị, hoàn thiện quy trình công nghệ, khuýen
khích nhập khẩu máy móc, thiết bị hiện đại nhằm nâng cao sức cạnh tranh của
14
Chuyên đề tốt nghiệp
sản phẩm và tăng xuất khẩu hang hoá. Hoặc chế độ chính sách cung ứng hàng
hoá cho miền núi, hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu.
Trong những năm qua, công tác kế hoạch hoá hàng năm ổư nước ta đã có
những bước tiến đáng kể. Các kế hoạch thương mại gắn với thị trường, xây
dựng kế hoạch gắn với công tác chỉ đạo điều hành, đã có sự phối hợp giữa Bộ
thương mại với các cơ quan quản lý về kế hoạch, tài chính, ngân hàng trong
quản lý, điều hành sản xuất trong nước và xuất khẩu.
15
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương II. Phân tích thực trạng về thương mại dịch
vụ trên Địa bàn huyện văn chấn
I .Tình hình phát triển thương mại - dịch vụ - du lịch trong những
năm qua.
1. Tình hình phát triển thương mại dịch vụ .
Hoạt động thương mại - du lịch - dịch vụ trong giai đoạn 10 năm qua
( 1995- 2005 ) trên địa bàn huyện văn chấn đã có những bước phát triển tích
cực ,cùng với sự phát triển mạnh mẽ về cơ cấu chung của huyện và gắn kết
chặt chẽ với tiến trình phát triển thương mại của tỉnh. Trong những năm gần
đây hoạt động thương mại tiếp tục được chấn chỉnh ,đổi mới, có bước phát
triển quan trọng, cơ bản đạt được mục tiêu đề ra .Mức tăng trưởng bình quân
trên 13% năm. Góp phần tăng trưởng kinh tế chung của huyện.
* Lao động trong ngành thương mại.
Với sự thăm gia của nhiều thành phần kinh tế, ngành thương mại dịch vụ
phát triển nhanh về số lượng, đa dạng ngành nghề, nhiều mặt hàng có chất
lượng cao. Số lượng tham gia vào kinh doanh trên thị trường trong 10 năm qua
tương đối sôi động và không ngừng tăng lên. Do nhu cầu tiêu dùng, nhu cầu
phục vụ của khối lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường liên tục với tốc độ
khá nhanh .
Mạng lưới thương mại - dịch vụ phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, thể
hiện qua số lượng, chất lượng người lao động thăm gia kinh doanh, các điểm
bán hàng, cơ sở sản xuất kinh doanh. Bao gồm các thành phần kinh tế kinh
doanh ỷên thị trường như sau:
-Mạng lưới thương nghiệp quốc doanh : Từ năm 1995 đến năm 2000 trên
dịa ban huyện văn chấn có doanh nghiệp quốc doanh hoạt động đó là công ty
thương nghiệp tổng hợp II Yên Bái đảm nhiệm vai trò cung cấp, mua bán hàng
hoá kinh doanh tổng hợp trên địa bàn phía tây của tỉnh Yên Bái, có đội ngũ cán
bộ nhân viên phục vụ trên 160 người, công ty này có 11 điểm cửa hàng. Năm
2001 do hoạt động kinh doanh thua lỗ, kém hiệu quả, công ty được tỉnh cho
giải thể nên số lượng, số lượng lao động giảm xuống đáng kể. Toàn bộ hoạt
động được chuyển giao cho công ty thương mại - dịch vụ Yên Bái phụ trách và
quản lý, một số cửa hàng chuyển về thị xã Nghĩa Lộ. Nhìn chung đến thời điểm
hiện nay mạng lưới thương mại dịch vụ quốc doanh còn rất ít cửa hàng phân bố
rải rác tại một số xã: Tú lệ, Gia Hội, Liên Sơn ,Đồng Khê, Cát Thịnh ,Tân
Thịnh …số lao động mỏng, việc đầu tư xây dựng, sửa chữa hạn chế, mức độ
cạnh tranh, tư duy kinh doanh chưa cao và hiệu quả. Số lượng ,chất lượng hàng
hoá chưa phong phú đa dạngvề chủng loại phù hợp với thị hiếu và khả năng
mua bán của nhan dân. Một số hàng hoá do nhân dân sản xuất ra không được
17
Chuyên đề tốt nghiệp
tiêu thụ kịp thời. Vai trò chủ đạo, điều tiết thị trường có xu hướng buông lỏng,
có lúc, có nơI bị tư nhân ép cấp, ép giá hàng hoá…
trong các hợp tác xã tiên tiến của tỉnh Yên Bái qua các năm hoạt động và
chuyển đổi thực hiện theo luật hợp tác xã. Những năm vừa qua đều hoạt động
kinh doanh hiệu quả và có lãi, đáp ứng được nhu cầu phục vụ, giúp cho các xã
viên yên tâm phấn khởi lao động sản xuất, góp phần xoá đói giảm nghèo đang
dần tong bước tham gia vào công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông
thôn theo đúng tinh thần nghị quyết TW5 khoá 9 của ban chấp hành trung ương
Đảng. Với mô hình kinh doanh dịch vụ tổng hợp, cung ứng vật tư, cây con
giống, tiêu thụ nông lâm sản phẩm đến tận tay người lao động được nhân dân
tin tưởng và hết lòng vì lợi ích của hợp tác xã, góp phần xây dựng hợp tác xã
ngày càng phát triển. Năm 2004 tổng số xã viên là 1.474 người, vốn kinh
doanh 1.664 triệu đồng. Doanh thu đạt 3.730 triệu đồng, lãi 6,4 triệu đồng, nộp
ngân sách được 66,5 triệu đồng.
+ Đánh giá chung : Về số lượng, chấy lượng trong mạng lưới kinh tế hợp
tác xã không ngừng tăng và đã có bước chuyển biến tích cực, có 10 hợp tác xã
hoạt động khá. Tuy vậy bên cạnh đó còn nhiều hợp tác xã yếu hoạt động không
doanh thu hoặc hoạt động chỉ là hình thức .Trình độ tiếp thị, tư duy kinh doanh
của một số hợp tác xã đã được nâng lên tong bước, thích nghi với cơ chế thị
trường trong cung cấp, tiêu thụ sản phẩm và cung ứng các thành tựu khoa học
kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên nhiều hợp tác xã cần phải củng
cố lại về cách thức huy động vốn, năng lực quản lý và điều hành đảm bảo cạnh
tranh lành mạnh với các thành phần kinh tế khác.
19
Chuyên đề tốt nghiệp
- Mạng lưới kinh doanh thương mại - dịch vụ của tỉnh: Tính đến
31/12/2004 toàn tỉnh hiện có 304 doanh nghiệp ngoài quốc doanh, trong đó : 45
công ty cổ phần, vốn đăng ký kinh doanh trên 280,7 tỷ đồng; 126 công ty
TNHH vốn đăng ký kinh doanh 211 tỷ đồng ; 126 doanh nghiệp tư nhân vốn
dăng ký kinh doanh 77,3 tỷ đồng; 07 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
vốn dăng ký kinh doanh trên 14 triệu USD và 7.218 hộ kinh daonh cá thể vốn
dăng ký kinh doanh 108,3 tỷ đồng. Toàn có 244 hợp tác xã, tổng số xã viên gần
mại còn thấp, tình trạng buôn lậu thương mại chưa được ngăn chặn một cách
hiệu quả; các doanh nghiệp kinh doanh thương mại dịch vụ vẫn chủ yếu là
doanh nghiệp nhỏ, có mức vốn thấp, tầm hoạt động hạn chế, còn gặp khó khăn
trong xây dựng hệ thống bán buôn, bán lẻ; quản lý nhà nước về thương mại -
thị trường thiếu sự quy hoạch cụ thể trong từng những lĩnh vực nghành hàng,
từng thị trường, nhất là vấn đề xử lý thông tin, dự báo thị trường; công tác xúc
tiến thương mại đã được quan tâm nhưng chưa đap ứng được nhu cầu ; trình độ
cán bộ còn nhiều bất cập, chưa tương xứng với yêu cầu của quá trình đổi mới
và hội nhập thị trường quốc tế; hoạt động du lịch trong điều kiện hạ tầng phục
vụ khách du lịch còn thấp kém ,hầu như mới chỉ dừng lại ở việc phục vụ ăn
nghỉ của khách, hoạt động lữ hành còn rất ít, hàng hoá dịch vụ đáp ứng nhu
cầu mua hàng của khách du lịch chưa phát triển.
Nguyên nhân : trình độ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Yên Bái còn thấp
so với mặt bằng chung của cả nước. Trong giai đoạn phát triển đã qua, các
doanh nghiệp mới quan tâm đến các yếu tố ảnh hưởng tới đầu vào, chưa coi
trọng yếu tố đầu ra. Quy hoạch tổng thể phát triển thương mại - du lịch đã
được xây dựng nhưng chất lượng hạn chế và còn thiếu các quy hoạch chi tiết
đối với các ngành hàng, lĩnh vực kinh doanh chủ yếu. Cơ sở hạ tầng phục vụ
thương mại du lịch đầu tư xây dựng còn chậm.
21
Chuyên đề tốt nghiệp
* Đánh giá hoạt động của các lĩnh vực, các tổ chức thương mại.
-Về hoạt động xuất khẩu : Hoạt động trên địa bàn huyện những năm qua
đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Năm 2004 các công ty, doanh nghiệp
trên địa bàn huyện đã sản xuất và xuất khẩu được gần 6 ngàn tấn chè đen, chè
xanh. Dự báo năm 2005 sẽ tăng lên 10%. Thương mại giúp cho sản xuất nông
nghiệp, các đơn vị các công ty chè và các hộ gia đình tiêu thụ được sản phẩm.
Được xác định là sản phẩm, vùng kinh tế mũi nhọn của huyện, tuy nhiên do thị
trường luôn biến đổi và cạnh tranh gay gắt nên một số namư hangd hoá xuất
khẩu còn hạn chế, giá cả thấp, chưa chủ động thích nghi với thị trường thế giới,
năm việc cung cấp hàng hoá, đầu tư xây dựng cho vùng này là rất lớn và hiệu
quả, phù hợp yêu cầu phát triển theo chủ trương, chính sách chung của Nhà
nước. Ngoài ra mạng lưới thương mại tư nhân hoạt động cung cấp hàng hoá
đến các vùng sâu vùng xa là ổn định, kịp thời. Hơn nữa cần phải nói đến nhu
cầu tự mua bán, trao đổi của nhân dân với các vùng lân cận và các khu vực
kinh tế phát triển.
- Dự trữ, điều tiết hàng hoá và thực trạng cạnh tranh thương mại giữa các
tổ chức: Theo quy luật lưu thông hàng hoá trong nền kinh tế nhiều thành phần
hoạt động cạnh tranh có sự quản lý của nhà nước. Trong giai đoạn năm 1995
-2000 vai trò của thương mại quốc doanh được xác định là chủ đạo, hoạt động
trên địa bàn là côngty thương nghiệp tổng hợp II Yên Bái với nhiệm vụ kinh
doanh tổng hợp cung cấp và tiêu thụ sản phẩm, đã đáp ứng được tương đối nhu
cầu của người sản xuất .
Việc dự trữ, điều tiết luân chuyển hàng hoá trên thị trường 10 năm qua của
các lĩnh vực các tổ chức là rất lớn. Ước tính thương mại quốc doanh và hợp tác
23
Chuyên đề tốt nghiệp
xã đảm nhiệm cung cấp khoảng 40% dự trữ, điều tiết hàng hoá, phần còn lại do
các cá nhân, tổ chức tư nhân cung cấp, phân phối trên thị trường, doanh nghiệp
nhà nước nắm quyền chủ động đã giảm đáng kể. Tuy nhiên cũng không làm
ảnh hưởng đến việc điều tiết lưu thông hàng hoá, giá cả thị trường không có
biến động lớn, hàng hoá luôn phong phú đa dạng, chỉ số giá cả tiêu dùng giữ
được ổn định, đã có nhiều mặt hàng có chất lượng tốt, giá cả hợp lý, mức tiêu
thụ cao, tạo tâm lý tốt trong tiêu dùng hàng việt nam .
- Thực trạng cạnh tranh trong thương mại : Về nguyên lý, xu hướng toàn
cầu hoá và tự do hoá thương mại thị trường trong nước và thế giới sez tạo ra
các cơ hội to lớn cho các doanh nghiệp, các đơn vị tham gia kinh doanh củng
cố và tăng cường hệ thống tổ chức từ đó nâng cao sức cạnh tranh và phát triển
lâu dài. Khi hệ thống được tự do hoá, mọi lực cản, hàng rào thuế quan được dỡ
bỏ thì áp lực cạnh tranh ngày cành quyết liệt hơn. Đối với huyện văn chấn
hoạch, chuyển đổi mô hình quản lý chợ theo quyết định của tỉnh. Đạt được
những thành quả trên là nhờ các yếu tố hoạt động thương mại sau: các nguồn
lực lao động, đất đai, thị trường của huyện khá dồi dào có khả năng để khai
thác phát triển kinh tế, cơ chế chính sách của nhà nước ngày càng thông
thoáng, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các công ty, doanh nghiệp, các hộ
gia đình hoạt động. Qúa trình hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra kha năng mở rộng
thị trường, tân dụng các ưu đãi về đầu tư trong và ngoài nước để phát triển
công nghệ trong sản xuất kinh doanh.
- Các hạn chế thách thức : Qui mô sản xuất kinh doanh còn nhỏ bé, tiêu
thụ sản phẩm còn hạn chế, thu nhập bình quân đầu người còn thấp, qĩu tiêu
dùng sức mua hàng năm tăng chậm, cơ cấu tích luỹ và tiêu dùng có tăng nhưng
chưa được cải thiện đáng kể, năng lực cạnh tranh, tiếp thị còn nhiều hạn chế.
25