Năm 2007, TGTK kỳ hạn 12 tháng chiếm đến 87,27 % trong tổng số tiền gửi
tiết kiệm huy động. Năm 2008 tăng lên 193977,06, chiếm đến 99,12%. 2 kỳ hạn
còn lại là TGTK không kỳ hạn và TGTK kỳ hạn > 12 tháng chiếm tỷ trọng hầu như
không đáng kể.
Năm 2008 vừa qua, lượng tiền gửi tiết kiệm huy động được của NH tăng hơn
30%, nhưng chỉ tăng TGTK kỳ hạn <12 tháng. Không những thế, 2 loại TGTK
còn lại đều giảm mạnh so với năm 2007. Đặc biệt TGTK kỳ hạn >12 tháng từ
8814,15 triệu giảm còn 489,25 triệu. Điều này đã gây ra khó khăn cho NH trong
việc tìm kiếm nguồn vốn lâu dài cho đầu tư. Vì vậy trong những năm đến, NH cần
phải chú trọng huy động TGTK có thời hạn dài nhằm tìm kiếm nguồn vốn lâu dài
và ổn định cho hoạt động của NH.
d. Biến động của tiền gửi tiết kiệm loại hình sản phẩm
Bảng 8: Biến động tiền gửi tiết kiệm theo loại hình sản phẩm tại NH ACB Đà
Nẵng – PGD Cầu Vồng qua 2 năm 2007-2008
Đvt: triệu đồng
Năm 2007 Năm 2008 Chênh lệch
Loại hình
Số tiền Số tiền Số tiền %
Tiền gửi tiết
kiệm thông
thường
Tiền gửi tiết
109682,71
6864,23
83,25
5,21
157244,31
13894,64
10372,06
7,1
5,3
5080,5
3982,13
57,64
62,32
Tổng cộng 131751 100 195699,20 100 63948,2 48,54
( Nguồn : báo cáo về tình hình hoạt động tại chi nhánh )
TGTK có nhiều loại hình sản phẩm khác nhau, phù hợp với từng loại đối
tượng khách hàng nhất định. Trong quá trình huy động tiền gửi tiết kiệm, NH ACB
Đà Nẵng – PGD Cầu Vồng đã đưa ra 4 loại hình thức huy động tiền gửi tiết kiệm
chính, đó là: TGTK thông thường, TGTK rút gốc linh hoạt, TGTK trả lãi định kì,
TGTK trả lãi trước. Phân tích tỷ trọng của mỗi hình thức TGTK sẽ cho ta thấy rõ
hơn về vấn đề này.
Về TGTK thông thường: trong 2 năm 2007, 2008, TGTK thông thường luôn
chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số lượng TGTK huy động được. Năm 2007
TGTK thông thường chiếm 83,25% trên tổng lượng TGTK huy động, qua năm
2008 có giảm nhẹ, còn 80,35%. Tuy nhiên năm 2008 vẫn đạt mức tăng trưởng
43,26%. Đây là một mức tăng trưởng khá lớn. Nguyên nhân của hiện tượng này là
do trong năm 2008 vừa qua, lượng TGTK tăng nhanh (48,54%) so với năm 2007.
của dân cư.
Điều này sẽ nhận thấy rõ ràng hơn thông qua kết quả kinh doanh của ngân
hàng trong thời gian qua. Công tác huy động vốn của ngân hàng được xác định là
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của ngân hàng bởi vì ngân hàng kinh doanh dựa trên
nguyên tắc vay để cho vay. Tổng nguồn vốn mà ngân hàng huy động được trong
năm 2008 là 208.721,03 triệu đồng, tăng 63.783,91triệu đồng so với năm 2007 với
tốc độ tăng là 44 %. Để có được một kết quả cao như vậy thì trong năm 2008 ngân
hàng đã rất nổ lực và tăng cường công tác huy động nguồn tiền nhàn rỗi trong xã
hội thông qua các điểm giao dịch của mình.
Chiến lược huy động nguồn vốn trong dân cư rất được ngân hàng coi trọng vì
đây là một nguồn vốn tương đối lớn và ổn định cho ngân hàng. Theo thực tế hiện
nay nguồn vốn nhàn rỗi từ trong dân còn rất nhiều mà ngân hàng chưa khai thác hết
được, theo điều tra của Bộ kế hoạch đầu tư và tổng cục thống kê thì phần lớn người
dân cất giữ tiền nhàn rỗi của mình bằng cách mua vàng, ngoại tệ cất trữ tại nhà hay
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
họ đầu tư vào bất động sản, với tình hình như vậy thì một bộ phận vốn đã không sử
dụng hiệu quả trong khi xã hội rất cần nguồn vốn này.
Nguồn vốn huy động ngân hàng ngày càng tăng theo nhu cầu của xã hội và
trong thời gian qua ngân hàng đã có kế hoạch sử dụng nguồn vốn rất tốt và mang
lại nhiều hiệu quả lớn cho ngân hàng.
NH ACB Đà Nẵng - PGD Cầu Vồng hiện nay địa điểm rất thuận tiện, nằm ở
trung tâm thành phố. Điều này rất thuận tiện cho người đến gửi tiền. Bên cạnh đó
thì ngân hàng cũng đưa ra nhiều hình thức huy động vốn hết sức phong phú đa
dạng để cho khách hàng chọn lựa. Trong thời gian qua với sự ra đời của sản phẩm
tiền gửi tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm trả lãi trước, tiết kiệm trả lãi định kì… của
NH ACB Đà Nẵng - PGD Cầu Vồng đã thu hút được một lượng lớn khách hàng sử
dụng các sản phẩm tiền gửi này. Với sự đa dạng về sản phẩm tiền gửi như vậy đã
góp mang lại cho ngân hàng nhiều thuận lợi trong việc thu hút nguồn vốn từ công
chúng, và đồng thời cũng tăng cường khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong
việc huy động nguồn tiền tiết kiệm so với các ngân hàng khác trên cùng địa bàn
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
hàng. Hiện nay sự cạnh tranh diễn ra rất gay gắt giữa các ngân hàng trên địa bàn,
ngoài sự cạnh tranh bằng công cụ lãi suất ra các ngân hàng sẽ dùng chính sách ưu
đãi khách hàng để giành khách hàng về mình.
Thiết lập mối quan hệ với khách hàng: Chưa có sự chủ động giao dịch giữa
ngân hàng với công chúng, ngân hàng thiếu một lực lượng chuyên đảm trách công
việc tư vấn truyền thông về ngân hàng đến với công chúng, vì thế mà ngân hàng
vẫn chưa khai thác một cách triệt để nguồn tiền nhàn rỗi của dân cư.
Trong thời gian tới ngân hàng cần tiếp tục có những kế hoạch cụ thể để nhanh
chóng giải quyết một số vấn đề hạn chế mà ngân hàng còn gặp phải trong công tác
huy động vốn của mình. Qua đó góp phần hoàn thiện công tác này và đồng thời
nâng cao khả năng thu hút nguồn tiền tiết kiệm tại ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn
cho xã hội.
2.3.3.3 Những khó khăn và thuận lợi của NH ACB Đà Nẵng – PGD Cầu
Vồng trong việc huy động nguồn tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng
Những thuận lợi:
*Môi trường hoạt động kinh doanh:
Việt Nam là một trong những quốc gia có môi trường kinh tế chính trị tương
đối ổn định, vì vậy có thể nói Việt Nam có môi trường kinh doanh tương đối an
toàn cho các thành phần kinh tế khi tham gia vào nền kinh tế. Đây là lợi thế giúp
cho các nhà kinh doanh, nhà đầu tư nước ngoaì yên tâm khi hoạt động tại Việt
Nam. Đặc biệt thành phố Đà Nẵng là một thành phố có môi trường an ninh trật tự
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
ổn định và an toàn, tạo cho các đơn vị tham gia hoạt động kinh tế trên địa bàn một
sự yên tâm lớn. Về phía người dân yên tâm mà gửi tiền vào ngân hàng.
Đặc biệt dưới sự lãnh đạo của chính quyền thành phố đã tăng cường phối
hơp với các cơ quan ban ngành có liên quan để quản lý các hoạt động kinh tế của
thành phố chống gian lận thương mại, trốn thuế, buôn lậu…chính điều đó đã tạo
môi trường hoạt động và cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp hoạt động, từ
đó tạo điều kiện cho ngân hàng trong việc thu hồi nợ, cho vay cũng như công tác