PHẪU THUẬT PHÌNH ĐỘNG MẠCH CHỦ NGỰC ĐOẠN XUỐNG VỚI SHUNT TẠM THỜI
TS.BS.Trần Quyết Tiến
•
TÓM TẮT:
Từ tháng 8 / 2002 đến tháng 8 / 2004 tại Khoa Ngoại Tim – Mạch và Lồng ngực BV.Chợ Rẫy đã mổ
6 trường hợp phình động mạch chủ ngực đoạn xuống có dùng shunt tạm.Nam: 4 trường hợp, Nữ : 2 trường
hợp. Bệnh nhân ít tuổi nhất: 40 tuổi và nhiều tuổi nhất: 71 tuổi.
Chẩn đoán: Đau ngực là triệu chứng lâm sàng quan trọng.Chẩn đoán dựa trên chụp X quang ngực thẳng qui
ước và CT Scan. Đường kính trung bình của túi phình: 7 cm. Phình dạng túi: 3 trường hợp và dạng hình thoi: 3
trường hợp. Túi phình có bóc tách: 1 trường hợp, túi phình vỡ : 1 trường hợp.
Phương pháp mổ: làm shunt tạm từ động mạch chủ lên vào động đùi chung trái: 3 trường hợp hoặc vào
đoạn cuối động mạch chủ ngực xuống: 2 trường hợp; shunt tạm từ đoạn gần tới đoạn cuối của động mạch chủ
ngực xuống : 1 trường hợp.
Kết quả: không biến chứng hoặc tử vong trừ 1 trường hợp dày dính màng phổi sau tràn máu màng phổi từ
trước mổ.
Kết luận: mổ phình động mạch chủ ngực đoạn xuống dùng shunt tạm cần có lựa chọn bệnh nhân. Phương
pháp này tránh được những biến chứng có thể gặp phải khi dùng tim – phổi máy. Kỹ thuật đơn giản có thể áp
dụng ở nhiều trung tâm.
OPERATION OF DESCENDING THORACIC AORTIC ANEURYSMS WITH TEMPORARY SHUNT
Summary : From 8 / 2002 to 8 / 2004 at the cardiovascular and thoracic department of Cho Ray hospital 6
cases of descending thoracic aortic aneurysm operated with temporary shunt. Male: 4 cases; Female : 2
cases. Youngest patient: 40 years old; Oldest patient : 71 years old.
Diagnosis: chest pain is an important symptom. Diagnosis based on conventionnal chest X ray and CT Scan.
Average dimension of aneurysms: 7 cm. Fusiform: 3 cases; Sacciform: 3 cases. Dissecting aneurysm: 1 case;
rupture of aneurysm: 1 case.
Procedure: temporary shunt from ascending thoracic aorta to left common femoral artery: 3 cases or to distal
descending : 2 cases; temporary shunt from proximal to distal descending thoracic aortia: 1 case.
tim phổi máy hoặc làm cầu nối nách – đùi, hoặc những phương pháp khác.
Đánh giá kết quả sớm sau mổ: chủ yếu qua lâm sàng, những trường hợp biến chứng sau mổ hoặc có nghi
ngờ hẹp , tắc, phình miệng nối mới có chỉ đònh chụp lại CT scan .
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Tổng số bệnh nhân : 6 trường hợp. Nam: 4 trường hợp; Nữ : 2 trường hợp.
Tuổi: 21 – 40: 1 trường hợp
41 – 60: 3 trường hợp
60 – 80 :2 trường hợp
Trẻ nhất : 40 tuổi và già nhất : 71 tuổi.
Lý do nhập viện:
Đau ngực trái âm ỉ trước nhập viện: khoảng 1 tuần: 3 trường hợp.
Đau lưng và dưới xương bả vai trái, ho có đàm lẫn dây máu: 1 trường hợp
Sốt , ho đau ngực bên phải: 1 trường hợp.
Tình cờ phát hiện do khám tổng quát: 1 trường hợp.
Tiền căn:
Cao huyết áp: 5 trường hợp. Trong đó chỉ có 1 trường hợp điều trò không đều.
Mổ K dương vật cách nhập viện lần này 6 năm.
Lâm sàng: Chỉ có 2 trường hợp có ho trong đó 1 trường hợp ho ra ít dây máu và trường hợp kia có hội chứng
tràn máu màng phổi phải.
Hình ảnh học:
X quang ngực thẳng qui ước: phát hiện trung thất giãn rộng bất thường trên cả 6 trường hợp. Trong đó
có 1 trường hợp có tràn dòch màng phổi phải , chọc dò có máu không đông.
CT Scan : Phình dạng túi : 3 trường hợp và dạng hình thoi: 3 trường hợp.
Phình có bóc tách: 1 trường hợp.
Huyết khối trong túi phình :4 trường hợp
Vỡ túi phình , chất cản quang lan ra ngoài: 1 trường hợp
Có 2 túi phình ở động mạch chủ ngực xuống : 1 trường hợp
Đường kính trung bình nơi phình lớn nhất : 7 cm. Trường hợp phình to nhất có đường
có nghi ngờ bệnh lý phình động mạch chủ ngực đoạn xuống và chỉ đònh chụp CT Scan để có chẩn đoán xác
đònh. Qua hình ảnh CT Scan chúng tôi đánh giá được kích thước, hình dạng túi phình , tình trạng túi phình có
huyết khối, bóc tách, hay đã vỡ để từ đó có chỉ đònh mổ cấùp cứu hay chương trình và đề ra chiến thuật mổ
thích hợp. Chỉ đònh mổ của chúng tôi không khác các tác giả trong và ngoài nước: túi phình lớn hơn 5 cm [3] ,
túi phình có biến chứng , hoặc túi phình tuy có kích thước nhỏ hơn nhưng ở dạng túi có nguy cơ vỡ cao [2].
Đặc biệt trong nghiên cứu này có một trường hợp túi phình vỡ sang bên ngực phải gây tràn máu màng phổi
bên phải. Sau khi có hình ảnh CT Scan mới có xác đònh chẩn đoán là túi phình động mạch chủ ngực đoạn
xuống vỡ sang phải gây tràn nmáu màng phổi và được xử trí kòp thời.
Điều trò phẫu thuật phình động mạch chủ ngực đoạn xuống có thể dùng máy tuần hoàn ngoài cơ thể
hỗ trợ bán phần hoặc dùng phương pháp shunt tạm đảm bảo máu nuôi khắp cơ thể trong lúc kẹp ngang động
mạch chủ ngực xuống để khâu nối. Những bệnh nhân mà chúng tôi mổ với shunt tạm trong nghiên cứu này
có chức năng tim còn tốt trừ một trường hợp có hở van hai lá trung bình chưa rõ nguyên nhân, không bò
những bệnh mạn tính về tim, thận hay đường hô hấp. Sử dụng shunt tạm có một số thuận lợi: tránh được
những biến chứng có thể gặp phải do dùng tim – phổi máy gây ra trên phổi, thận, não và kể cả chức năng
tim, rối loạn đông máu… và đặc biệt là trong hoàn cảnh Việt nam chúng ta tiết kiệm được một phần tài chính
không nhỏ cho bệnh nhân và xã hội. Trừ 2 trường hợp đầu qua cùng một đường rạch da chúng tôi vào khoang
ngực trái bằng 2 đường ở gian sườn 4 và 7; ở 4 trường hợp sau chúng tôi thực hiện đường một mở ngực qua
gian sườn 5 rộng rãi trước – bên – sau cũng đủ thao tác kể cả những túi phình lan xuống gần cơ hoành hoặc
cần làm cannul ở ngay sát chân cơ hoành mà không gặp khó khăn , cản trở gì. Shunt tạm được thực hiện theo
nguyên tắc tim và phổi vẫn hoạt động bình thường đưa máu từ tim xuống nuôi phần thấp của cơ thể và vẫn
đảm bảo nuôi dưỡng cho nãocũng như chi trên. Tuỳ theo mức độ lan rộng của túi phình mà chúng tôi thực
hiện shunt tạm từ động mạch chủ lên vào động mạch đùi chung trái hay vào đoạn cuối sát chân hoành của
động mạch chủ ngực xuống hoặc thậm chí shunt tạm đi từ phần đầu vào phần cuối của động mạch chủ ngực
xuống khi tổn thương trên động mạch gọn như trường hợp phình dạng túi bò vỡ. Khi shunt tạm thiết lập xong,
chức năng tim, phổi và thận được theo rõi sát và điều chỉnh bởi bác só gây mê; tình trạng chung và huyết
động ổn đònh thì phẫu thuật viên tiến hành phẫu thuật. Kết thúc phẫu thuật trên động mạch chủ shunt tạm
được lấy ra mà không thấy có sự ảnh hưởng gì đến huyết động của bệnh nhân.
Kết qủa sớm sau mổ không có tử vong và biến chứng trừ một trường hợp túi phình vỡ sang phải gây
xẹp phổi từ trước mổ. Sau mổ nhờ soi hút và tập vật lý trò liệu hô hấp tích cực tình trạng này cải thiện không
ảnh hưởng chức năng hô hấp ; trên phim kiểm tra chỉ có dầy dính màng phổỉ ở đáy. Trong nghiên cứu này