1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
LÊ ÁNH NGỌC
øng dông m¹ch nh©n t¹o tr¸ng b¹c trong
phÉu thuËt phång ®éng m¹ch chñ bông -chËu d-
íi thËn t¹i BÖnh viÖn ViÖt §øc
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
HÀ NỘI - 2014
2
1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
LÊ ÁNH NGỌC
øng dông m¹ch nh©n t¹o tr¸ng b¹c trong
phÉu thuËt phång ®éng m¹ch chñ bông -chËu d-
íi thËn t¹i BÖnh viÖn ViÖt §øc
Chuyên ngành: Ngoại khoa
Mã số:
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Đoàn Quốc Hưng
HÀ NỘI - 2014
3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BC Bạch cầu
BC ĐNTT Bạch cầu đa nhân trung tính
CT Chụp cắt lớp vi tính
CTM Công thức máu
ĐM Động mạch
ĐMC Động mạch chủ
ĐMCB Động mạch chủ bụng
thuật ngữ "Phồng động mạch nhiễm trùng" ( PĐMNT) ,[5],[6]
PĐMCNT chiếm 22% PĐMNT trong số nói chung , được ghi nhận ở tất
cả các lứa tuổi ,. Nhiễm trùng có thể xảy ra ở cả động mạch chủ ngực cũng
như chủ bụng, phổ biến nhất ở đoạn dưới thận.
Điều trị nội khoa không thể tách rời điều trị ngoại khoa. Sử dụng kháng
sinh phổ rộng đường tiêm được bắt đầu ngay sau những lần cấy máu đầu tiên
và phù hợp với những xét nghiệm vi khuẩn học.
PĐMNT nói chung và PĐMCBDT nhiễm trùng nói riêng vẫn tiếp tục
gây ra nhiều khó khăn cho các nhà ngoại khoa. Những năm gần đây, để xử lý
các tổn thương mạch máu nguy cơ nhiễm trùng (do bệnh lý, chấn thương),
nhiễm trùng mạch nhân tạo trên thế giới hiện nay đang áp dụng nhiều giải
pháp như sử dụng mạch tự thân thay thế động mạch; sử dụng mạch ghép đồng
loài bảo quản lạnh; bắc cầu ngoài động mạch; mạch nhân tạo tẩm kháng sinh;
6
sử dụng mạch nhân tạo chống nhiễm khuẩn tại chỗ như mạch nhân tạo tráng
bạc. So sánh hiệu quả sớm và lâu dài các biện pháp trên còn nhiều tranh cãi
và đang tiếp tục nghiên cứu.
Bạc là một kim loại nặng có khả năng khử trùng đã được sử dụng từ rất
lâu trong y tế nhưng mới được ứng dụng điều trị các tổn thương mạch máu
trong thời gian gần đây. Động mạch nhân tạo đầu tiên được tráng bạc axêtat
(Intergard Argent; Intervascular, Datascope, Inc, La Ciotat, France) có mặt
trên thị trường cách đây 12 năm. Từ đầu năm 2006, động mạch tráng bạc của
hãng B.Braun đã trở nên phổ biến (B.Braun, Inc, Melsungen, Allemagne) .
Tại bệnh viện hữu nghị Việt Đức, sử dụng động mạch nhân tạo tráng bạc để
điều trị những tổn thương mạch máu có nguy cơ nhiễm trùng từ tháng 12 năm
2010. Một câu hỏi được đặt ra : "Phương pháp sử dụng động mạch nhân tạo
tráng bạc trong phẫu thuật có thực sự cải thiện tiên lượng của bệnh nhân
phồng động mạch chủ dưới thận nhiễm trùng? ".
Từ vấn đề trên, tôi thực hiện đề tài của mình: "Ứng dụng mạch nhân
tạo tráng bạc trong phẫu thuật phồng động mạch chủ bụng-chậu dưới
khoa phồng ĐMC nhưng điều thất bại. Vì vậy đa số các bác sĩ thời bấy giờ
cho rằng chỉ có phẫu thuật mới đáp ứng được mục đích điều trị.
Như vậy phải đến thế kỉ XX, khi có các hiểu biết sâu sắc về giải phẫu,
sinh lý, các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh chính xác được áp dụng, các vật liệu
8
thay thế ĐMC, kim chỉ khâu mạch máu, cũng như việc phát triển của gây mê
hồi sức và chăm sóc sau mổ thì phẫu thuật triệt để PĐMC mới đạt được kết
quả tốt.
Ngày 29-3-1951, Ch.Dubost (Pais) là người đầu tiên thành công khi cắt
bỏ PĐMCBDT và ghép nối bằng một đoạn ĐMC ngực đồng loài bảo quản
lạnh trên bệnh nhân nam 50 tuổi [15]. Thành công của Ch.Dubost đã mở ra
một kỷ nguyên mới trong lịch sử phẫu thuật ĐMC. Sau đó DeBakey là người
đã xây dựng và tiêu chuẩn hóa phẫu thuật ĐMC. Năm 1964, ông đã công bố
một thống kê gồm 1719 trường hợp PĐMC được cắt đoạn và ghép.
Khi có ống ghép bằng Dacron, Teflon, PTFE (polytétrafluoroéthylène)
và sự phát triển của tuần hoàn ngoài cơ thể cũng như sự hoàn thiện của các kỹ
thuật chỉ khâu, đã cho phép tiếp cận tất cả các vị trí PĐMC và tăng liên tục tỷ
lệ chữa khỏi bệnh.
Từ năm 1956, khái niệm ghép vùi (graft inclucion) của Oscar Creech và
banh khối phồng – ghép động mạch (mise à plat – greffe) của Dubost được
nhiều tác giả ủng hộ. Kỹ thuật này cho phép rút ngắn thời gian mổ, giảm nguy
cơ nhiễm trùng mảnh ghép, nhờ đó tăng đáng kể thành công của phẫu thuật.
Đa số các nghiên cứu hiện nay đều cho thấy tỷ lệ tử vong sớm sau mổ có
chuẩn bị là dưới 5 %, trong khi mổ cấp cứu vì vỡ PĐMCBDT thì tỷ lệ này
chiếm từ 40 % - 60 % [16].
Trong xu thế phát triển chung của phẫu thuật xâm nhập tối thiểu, phẫu
thuật nội soi ổ bụng đã được một số tác giả áp dụng để điều trị tổn thương
phồng động mạch chủ bụng mà Dion YM, Gracia CR và công sự thực hiện
lần đầu tiên năm 2001, M. Coggia năm 2002 thay đoạn động mạch chủ hoàn
toàn bằng phẫu thuật nội soi ổ bụng [17]
kỹ thuật này.
10
1.1.2 Tại Việt Nam
Ở Việt nam, trường hợp PĐMCB đầu tiên được phát hiện và mổ thành công
tại bệnh viện Việt Đức vào năm 1971. Từ đó tới nay đã hơn 40 năm trôi qua, phẫu
thuật điều trị PĐMCB đã phát triển và có nhiều công trình được công bố.
Theo Đặng Hanh Đệ và Tôn Thất Bách khi nghiên cứu 17 trường hợp
PĐMCB được mổ tại bệnh viện Việt Đức (giai đoạn 1971 – 1983) thấy: tất cả
các trường hợp vào viện khi đã có các dấu hiệu lâm sàng như khối u bụng
đập, giãn nở theo nhịp tim. Các trường hợp này đã được mổ thay đoạn ĐMCB
và không có trường hợp nào tử vong sớm sau phẫu thuật [21].
Theo tác giả Đinh Xuân Huy và Đặng Hanh Đệ (Bệnh viện Việt Đức)
nghiên cứu 85 bệnh nhân PĐMCBDT được phẫu thuật (từ năm 1995 đến
2001) thì thấy tỷ lệ tử vong sau mổ cấp cứu vì vỡ khối phồng là 33 %, tử
vong sau mổ có chuẩn bị là 1,6 % [22].
Khi nghiên cứu 43 trường hợp PĐMCBDT, tác giả Đỗ Hoàng Tuấn nhận
thấy rằng để phát hiện sớm PĐMCBDT chủ yếu dựa vào các thăm dò cận lâm
sàng, đặc biệt là siêu âm chẩn đoán [23].
Theo báo cáo của Cao Văn Thịnh và Văn Tần (Bệnh viện Bình Dân) thì
tỷ lệ tử vong sớm sau mổ cấp cứu vì vỡ phồng là 25 % (2/8 trường hợp), tỷ lệ
tử vong sớm sau mổ có chuẩn bị là 2,4 % (1/42 trường hợp) [24]
Nhờ có sự phát triển trong chẩn đoán hình ảnh đặc biệt là Siêu âm ổ
bụng mà số lượng bệnh nhân PĐMCBDT được chẩn đoán và điều trị ngày
càng tăng. Hầu hết các bệnh viện trung ương ở cả hai miền Nam – Bắc đều
phẫu thuật được bệnh lý này.
Tháng 5 năm 2010, Trần Bình Giang, Nguyễn Hữu Ước, Phạm Hữu Lư
bệnh viện Việt Đức thông báo 3 trường hợp PĐMCBDT điều trị bằng phẫu
thuật nội soi toàn bộ thành công, tuy nhiên kỹ thuật này đòi hỏi trình độ phẫu
thuật viên, gây mê hồi sức [25].
11
và đo trực tiếp khi phẫu thuật cho thấy ở nam giới trung bình 54 tuổi là 19
mm và ở nữ giới trung bình 58 tuổi là 17 mm [28].
Hình 1.1: Giải phẫu động mạch chủ bụng.
1.2.2 Các nhánh bên
+ Hai động mạch hoành dưới: Tách ra ở hai bên của ĐMC chui qua lỗ
cơ hoành.
+ Động mạch thân tạng (ĐMTT) : Tách ra từ mặt trước ĐMCB và tạo với
động mạch này một góc 60 độ ngay bờ trên tụy, hơi sang trái đường giữa, ngay
trước bờ dưới của đốt sống ngực 12. Động mạch này ra trước khoảng 1 cm thì
chia thành 3 nhánh: động mạch gan, động mạch vành vị, động mạch lách.
+ Động mạch mạc treo tràng trên: Xuất phát từ đường giữa mặt trước
ĐMCB, dưới ĐMTT khoảng 1 cm, ngang thắt lưng 1.
ĐM thân tạng
ĐM mạc treo tràng trên
ĐM thận trái
ĐM sinh dục
ĐM mạc treo tràng
dưới
ĐM chậu gốc trái
ĐM chậu gốc phải
ĐM cùng giữa
Niệu quản trái
13
+ Các động mạch thận: Chạy ra từ mặt bên hay mặt trước bên của
ĐMCB dưới động mạch mạc treo tràng trên khoảng 1 cm, đi ra ngoài và ra
sau, hơi xuống thấp. Động mạch thận phải ở phía sau tĩnh mạch chủ dưới và
tĩnh mạch thận trái nằm phía trước ĐMCB.
+ Hai động mạch sinh dục: Xuất phát ở mặt trước bên của ĐMCB,
khoảng giữa động mạch thận và động mạch mạc treo tràng dưới.
+ Động mạch mạc treo tràng dưới: xuất phát từ mặt trước cua ĐMCB,
+ Tĩnh mạch thận trái bình thường bắt chéo trước ĐMCB, ngang bờ dưới
chỗ phát sinh các động mạch thận và liên quan của chính các nhánh bên
ĐMCB : Động mạch thân tạng, động mạch mạc treo tràng trên, động mạch
mạc treo tràng dưới, các động mạch sinh dục, các nhánh động mạch thắt
lưng, cần lưu ý là các động mạch này dễ bị tổn thương trong khi mổ.
+ Theo Kieffer bất thường bẩm sinh của TMCD và TM thận trái rất hiếm
gặp chỉ chiếm 2%, nhưng nó ảnh hưởng tới phẫu thuật PĐMCBDT nhất là
trong trường hợp phẫu thuật cấp cứu không được chuẩn bị, và phẫu trường
chật hẹp [29].
+ Liên quan của niệu quản, các động mạch tử cung – buồng trứng (ở nữ)
bắt chéo trước các động mạch chậu. Phía sau là các tĩnh mạch chậu tương
ứng, dây giao cảm lớn và động mạch thắt lưng 5 (nhánh tách ra từ động mạch
cùng giữa).
1.2.5 Liên quan qua phúc mạc
+ Cần hết sức quan tâm đến các liên quan này vì các tạng che đậy mặt
trước ĐMCB gây khó khăn lớn cho việc tiếp cận nó trong phẫu thuật.
15
+ Đoạn dưới động mạch thận : được tiếp cận dễ dàng trong khoang nằm
giữa rễ của mạc treo tiểu tràng bên trái và bên phải.
+ Đoạn trên động mạch thận: rất khó vào vì nằm sâu dưới vòm hoành và
có nhiều tạng che phủ phía trước: phần dưới bị chặn ngang bởi tụy, tĩnh mạch
sau tụy, còn phần trên bị bắt chéo bởi tĩnh mạch vành vị và động mạch thân
tạng làm khó khăn khi mổ.
+ Các tạng bị đe dọa trực tiếp bởi khối phồng là : tá tràng đoạn III (che
mặt trước ĐMCB), niệu quản nhất là chỗ bắt chéo động mạch chậu.
1.2.6 Cấu tạo thành động mạch chủ bụng: ĐMCB gồm 3 lớp.
+ Lớp áo ngoài : Là lớp ngoài cùng, dai, bản chất là tổ chức liên kết,
chứa các mạch máu, thần kinh vận mạch và bạch huyết nuôi dưỡng cho nửa
ngoài của thành động mạch bao gồm phần lớn của lớp áo giữa.
+ Lớp áo giữa : Là lớp dày nhất (chiếm 8/10 bề dày thành ĐMCB) bao
Phồng động mạch nhiễm trùng được xác định là hiện tượng nhiễm trùng ở
thành động mạch tại chỗ túi phồng, với sự hình thành các túi phồng của thành
động mạch
1.3.2 Dịch tễ học
Phồng động mạch nhiễm trùng khá hiếm, nhưng có thể xảy ra ở tất cả
các động mạch theo tỷ lệ giảm dần: động mạch chủ, động mạch ngoại biên,
động mạch não và động mạch tạng ,,. Tỷ lệ mắc thực tế của phồng động mạch
nhiễm trùng chưa rõ ràng. Phồng động mạch chủ nhiễm trùng chiếm 0.7-1%
tất cả các phồng động mạch được phẫu thuật ,,. Phồng động mạch chủ nhiễm
trùng chiếm 1 - 3% phồng động mạch chủ và 22 % phồng động mạch nhiễm
trùng nói chung.
17
Mặc dù phồng động mạch chủ nhiễm trùng được mô tả ở tất cả các lứa
tuổi, bao gồm cả trẻ nhũ nhi [7], tuổi trung bình nằm trong khoảng 60 đến 75.
Lứa tuổi này tương đương với những bệnh nhân phồng động mạch chủ không
nhiễm trùng [9].
Xơ vữa động mạch, dị dạng mạch máu bẩm sinh, đái tháo đường, suy
giảm miễn dich, ung thư, tiền sử can thiệp nội mạch thường được ghi nhận ở
các bệnh nhân phồng động mạch chủ nhiễm trùng.
1.3.3 Sinh bệnh học
Phồng động mạch nhiễm trùng thông qua lây nhiễm trực tiếp với mô
nhiễm trùng lân cận hoặc thông qua con đường bạch huyết (Viêm mủ hoặc vi
trùng thông thường, lao, viêm cột sống dính khớp) , hoặc hiếm hơn là bệnh
động mạch sau chấn thương, người nghiện chích, đặt catether hoặc phẫu thuật
nhiễm khuẩn liền kề . Những loại nhiễm trùng động mạch này xảy ra chủ yếu
ở những người suy giảm miễn dịch.
Phồng động mạch chủ nhiễm trùng, báo cáo ở những bệnh nhân có hội
chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS) xuất hiện như một thực thể riêng
biệt.Từ trường hợp đầu tiên năm 1989, những trường hợp tiếp theo xuất hiện
ngày càng nhiều . Về mặt lâm sàng, loại phồng động mạch nhiễm trùng này
1.3.3.3 Phồng động mạch nhiễm trùng thực thụ
Ở loại này, vi khuẩn xâm nhập qua đường máu và gây nên phồng
động mạch thực thụ và tạo mủ ở thành động mạch. Loại này chiếm
một tỷ lệ nhỏ (10-15%) của phồng động mạch chủ nhiễm trùng. Loại này
có thể trở nên phức tạp bởi lỗ rò động mạch – ruột tiên phát, khác với lỗ
19
rò động mạch – ruột thứ phát do nhiễm trùng động mạch nhân tạo . Điều
quan trọng cần lưu ý là phải phân biệt giữa phồng động mạch viêm và ba
loại phồng động mạch nhiễm trùng. Phồng động mạch viêm thường kết
hợp với sự dày lên quá mức của thành túi phồng với các sợi xơ và các
cấu trúc xung quanh .
1.3.4 Triệu chứng học
1.3.4.1 Hình thức biểu hiện
+ Triệu chứng của PĐMCBDT:
Cơ năng : Đau bụng hoặc đau thắt lưng, đau bụng dữ dội gặp trong vỡ
khối phồng và kèm theo sốt. Trong một nhóm 24 bệnh nhân được điều trị
phồng động mạch chủ nhiễm trùng, Hsu và cộng sự báo cáo 79 % có đau
bụng hoặc thắt lưng, 89% có sốt. Tuy nhiên, một hoặc vài triệu chứng có thể
không có tại thời điểm chẩn đoán. Ainsi Ihaya chỉ tìm thấy đầy đủ 3 triệu chứng
này ở 33 % số ca phồng động mạch nhiễm trùng.
Đa số PĐMCB có thể phát hiện bằng khám bụng nhưng vẫn có những
PĐMCB lớn vẫn khó phát hiện ở những người béo, thành bụng dày,…
Khi có một khối đập, giãn nở theo nhịp tim nằm trong khoảng từ mũi
ức tới rốn ta phải nghĩ tới PĐMCB. Đôi khi nghe thấy tiếng thổi ở trên
khối phồng.
Dấu hiệu De Bakey: Dấu hiệu này được coi là dương tính khi bàn tay
luồn dưới bờ sườn trái và thấy được cực trên của khối phồng, chứng tỏ khối
PĐMCB dưới các động mạch thận.
Trong những trường hợp đặc biệt, phồng động mạch chủ nhiễm trùng có
thể hoàn toàn không có triệu chứng và được phát hiện tình cờ bằng những xét
hoạch phẫu thuật hoặc can thiệp nội mạch và xác định các biến chứng kèm
theo.
Việc sử dụng phương pháp chụp cộng hưởng từ để phát hiện phồng động
mạch chủ nhiễm khuẩn được mô tả trong một số báo cáo về những trường
hợp phồng động mạch chủ nhiễm khuẩn. Những hạn chế so với chụp cắt lớp
vi tính là thời gian chụp dài hơn, nhạy cảm hơn với chuyển động, độ phân giải
thấp hơn và phạm vi đánh giá nhỏ hơn .
X-quang phổi là một xét nghiệm định hướng chẩn đoán trong trường hợp
phồng động mạch chủ ngực.Trong trường hợp náy có thể thấy trung thất rộng,
đám mờ gần động mạch chủ ngực hoặc cung động mạch chủ, tuy nhiên vẫn
cần một phương pháp khác để chẩn đoán phình động mạch chủ ngực.
Sự thay đổi sớm trong sự hình thành phồng động mạch chủ viêm bao
gồm bất thường của thành động mạch, phù nề quanh động mạch, khối nhu mô
quanh động mạch, khí quanh động mạch.Phù nề quanh động mạch như một
khối chất béo hoặc vành giảm tỷ trọng đồng tâm trên phim cắt lớp vi tính ,,.
Vành đồng tâm hoặc lệch tâm của mô viêm quanh động mạch chủ có thể
phát triển, trên phim cắt lớp vi tính ban đầu nó giống như một khối đồng nhất
tăng độ tương phản ,,.
Khối bám xung quanh động mạch chủ là biểu hiện của phồng động
mạch nhiễm trùng, được tìm thấy ở 48% bệnh nhân. Khí quanh động mạch
hiếm khi quan sát được ,.
Trên phim cắt lớp vi tính, khối phồng động mạch chủ là một ổ, thường
giãn và tăng độ tương phản. Thành động mạch có thể ở trung tâm hoặc lệch
tâm, có thể một ổ hoặc nhiều ổ. Đám vôi hóa thành động mạch có thể xuất
hiện ở bên cạnh động mạch chủ nhiễm trùng ,. Đám vôi hóa và huyết khối
trong thành phồng động mạch nhiễm trùng là rất hiếm. Trong một nghiên
cứu, 26% các trường hợp phồng động mạch nhiễm trùng có vôi hóa trong
22
thành và chỉ có 1 trong số 29 ca (3,4%) có huyết khối bám thành . Vỡ phồng
động mạch biểu hiện bằng thoát thuốc ra ngoài lòng mạch và có thể hình
Salmonella, ngay cả Bacteroides fragilis, Tụ cầu vàng và trực khuẩn mủ xanh, có
mặt ở những trường hợp tử vong, vỡ phồng động mạch, nhiễm khuẩn và phồng
động mạch trên thận xảy ra ở 10 (77%) trên 13 bệnh nhân .
Bản chất phụ thuộc vào điều kiện ban đầu, cơ địa, cơ chế hình thành khối
phồng. Các nhiễm khuẩn huyết do Clostridium thường kết hợp với ung thư
đại tràng và định hướng làm nội soi đại tràng . Khoảng hơn một chục trường
hợp phồng động mạch chủ nhiễm trùng đã được mô tả là do aspergillus .
Trong y văn đã đề cập đến nhiều tác nhân gây bệnh khác : Mycobacterium
tuberculosis entérobactéries (Escherichia coli, Proteus, Klebsiella,
Campylobacter foetus), Bacteroides, Yersinia pseudotuberculosis.
Cuối cùng, đối với trường hợp cụ thể do Chlamydia pneumonia, đây là vi
khuẩn nội bào được tìm thấy trong gần một nửa các bệnh nhân xơ vữa động
mạch hiện được coi là yếu tố nguy cơ tim mạch tiềm tàng . Một vài trường
hợp khác, Chlamydia pneumoniae thúc đẩy sự phát triển của phồng động
mạch , tuy nhiên vai trò của nó còn đang tranh cãi .
1.3.5 Chẩn đoán
Kết quả cấy máu dương tính, tăng bạch cầu và tốc độ máu lắng cao
khẳng định chẩn đoán phồng động mạch chủ nhiễm trùng. Nhưng kết
quả cấy màu thường âm tính trong khoảng 50% trường hợp. Kết quả
nhuộm gram và cấy máu cũng không thống nhất trong tất cả các bệnh
nhân. Vi khuẩn thường phân lập được là Salmonella, Streptococcus,
Bacteroides, Escherichia coli và Staphylococcus aureus. Nói chung
24
nhiễm vi khuẩn gram âm có xu hướng nguy hiểm hơn so với vi khuẩn
gram dương .
Chụp cắt lớp vi tính là thăm dò quan trọng để thiết lập chẩn đoàn phồng
động mạch chủ nhiễm trùng. Kết quả cổ điển là hình ảnh phù dịch và dày
thành động mạch chủ xâm nhập vào các mô xung quanh động mạch. Sự có
mặt của bóng khí chứng tỏ sự có mặt của một vi khuẩn nào đó giúp ta đưa ra
chẩn đoán. Cắt lớp vi tính cũng cho biết vị trí và hình thái của khối phồng,
khối, động mạch chủ và các mô xung quanh). Sử dụng thiết bị thu hồi lại máu
chống chỉ định trong các trường hợp nhiễm khuẩn . Cuối cùng có thể phải đặt
hệ thống dẫn lưu và kháng sinh rửa.
a. Ghép đoạn động mạch tại chỗ.
Ghép đoạn động mạch tại chỗ được chỉ định trong các trường hợp phồng
động mạch chủ nhiễm trùng trên thận và động mạch chủ ngực – bụng. Thực
tế, những khó khăn về kỹ thuật trong việc tái lập các động mạch tạng, không cho
phép bắc cầu động mạch ngoài giải phẫu . Ở động mạch chủ bụng dưới thận,
ghép đoạn động mạch tại chỗ được xem xét trong các trường hợp nhẹ (không có
mủ, dấu hiệu viêm tại chỗ khu trú nhẹ) nếu không nguy cơ nhiễm trùng thứ phát
là rất cao Phồng động mạch chủ hình túi giới hạn rõ, không phồng động mạch
chủ liền kề có thể điều trị bằng một miếng vá. Trong các trường hợp khác, người
ta thực hiện bắc cầu động mạch ngoài giải phẫu.
+ Một vài điểm về kỹ thuật mổ ghép đoạn động mạch tại chỗ:
- Mê nội khí quản, đặt sonde bàng quang, sonde dạ dày.
- Bệnh nhân nằm ngửa, đặt một gối đêm dưới lưng ngang mũi
ức.