đặc điểm hình ảnh và giá trị của mdct trong chẩn đoán u tuyến thượng thận tại bệnh viện việt đức - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
*********
NGUYỄN MINH CHÂU
ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH VÀ GIÁ TRỊ CỦA CẮT LỚP VI TÍNH 64
DÃY TRONG CHẨN ĐOÁN U TUYẾN THƯỢNG THẬN TẠI
BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC
CHUYÊN NGÀNH: CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH
MÃ SỐ:
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
Thày hướng dẫn khoa hoc:
PGS.TS. NGUYỄN DUY HUỀ
HÀ NỘI 2013
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ACTH: Aranal Cortico Trophine Hormone
BN: Bệnh nhân
CRH: Corticotropin Reliasing Hormone
CLVT: Cắt lớp vi tính
CHT: Cộng hưởng từ
CĐHA: Chẩn đoán hình ảnh
CS: Cộng sự
ĐMCB: Động mạch chủ bụng
GPB: Giải phẫu bệnh
HA: Huyết áp
HC: Hội chứng
MDCT: Multi-Detector Tomography Computer
TMCD: Tĩnh mạch chủ dưới
TMTT: Tĩnh mạch thượng thận
UTTT: U tuyến thượng thận
VR: Volume Rendering
MIP: Maximum Intenvisity Projection

adrenaline và noradrenaline, catecholamine đóng một vai trò trong việc phản ứng
với stress cấp tính nặng hoặc đột ngột .
U tuyến thượng thận (UTTT) phát sinh từ phần vỏ hoặc phần tủy của tuyến
thượng thận, gồm nhiều loại tùy thuộc vào bản chất, có loại u tăng tiết các hormon
làm rối loạn các hoạt động của cơ thể nhưng cũng có loại u không tăng tiết mà chỉ
được phát hiện tình cờ. Theo David T. Arnold, UTTT chiếm tỷ lệ từ 0,4 – 4,4%
trong tất cả các khối u phát hiện trên phim chụp cắt lớp vi tính ; trong một báo cáo
khác của Georg Mansmann, tỷ lệ này là 3% ở lứa tuổi trung niên . Nghiên cứu của
Hedeland và cộng sự (cs) phát hiện 8,7% các trường hợp UTTT khi mổ tử thi .
Chẩn đoán UTTT dựa vào các dấu hiệu lâm sàng, sinh hóa và chẩn đoán
hình ảnh (CĐHA). Có rất nhiều phương pháp CĐHA khác nhau được sử dụng để
phát hiện, chẩn đoán UTTT như chụp bơm hơi sau phúc mạc, chụp mạch máu, đặc
biệt là siêu âm, CLVT và cộng hưởng từ (CHT) càng ngày càng cung cấp những
thông tin chính xác hơn về UTTT.
Trên thế giới, CLVT lần đầu tiên được Behan đưa vào chẩn đoán UTTT năm
1977, đây là một bước ngoặt quan trọng trong thăm dò các bệnh lý tuyến thượng
thận; CLVT có thể phát hiện những tổn thương sớm, có kích thước nhỏ dưới 1cm,
cho biết thông tin về vị trí, tính chất tổn thương, đánh giá và theo dõi tổn thương
trước và sau điều trị .
Đến nay đã có rất nhiều các nghiên cứu về UTTT trên CLVT đặc biệt là trên
CLVT đa dãy đầu dò (Multi-Detector Tomography Computer - MDCT). Ưu điểm
của MDCT là thời gian chụp ngắn, tốc độ quét nhanh, giảm hình ảnh giả, tái tạo
2
mỏng, dựng đa mặt phẳng, dựng 3D…cung cấp một cách toàn diện hơn về các đặc
điểm UTTT, giúp đưa ra các chiến lược điều trị đối với UTTT, đặc biệt đóng góp
cho sự an toàn và hiệu quả của phẫu thuật nội soi UTTT .
Tại Việt Nam đã có một số công trình của các tác giả Hoàng Đức Kiệt, Đỗ
Trung Quân năm 1996; Nguyễn Đình Minh năm 2003 nghiên cứu về hình ảnh
CLVT của UTTT , tuy nhiên vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào về đặc
điểm hình ảnh UTTT trên MDCT, cũng như vai trò của MDCT trong chẩn đoán

sàng của UTTT mà sau này gọi là hội chứng Apert Gallais .
1.1.2. Về mặt Chẩn đoán hình ảnh:
Năm 1977, M. Behan lần đầu tiên áp dụng CLVT chẩn đoán hai trường hợp
u mỡ tủy bào của tuyến thượng thận .
Đến năm 1980, G. Elie và cs nghiên cứu các hình thái của tuyến thượng thận
ở 100 người bình thường bằng CLVT đưa ra nhận xét CLVT là phương pháp được
lựa chọn để kiểm tra bình thường hay bệnh lý của tuyến thượng thận với độ tin cậy
và độ chính xác tốt hơn siêu âm .
Cùng năm đó, G. Elie và cs nghiên cứu 100 bệnh nhân có bệnh lý khoang
sau phúc mạc đã phát hiện 19 trường hợp UTTT, tác giả rút ra nhận xét CLVT có
độ nhạy rất cao đối với các khối UTTT có kích thước lớn hơn 1cm. Tuy nhiên, độ
4
đặc hiệu lại thấp và không có sự tương đồng giữa tỷ trọng khối u và tỷ lệ hocmon
trong máu .
Năm 1986, G. Roumieu đã đưa ra 1 trường hợp nang bạch mạch thượng thận
ở bệnh nhân nữ 34 tuổi và khẳng định CLVT có thể chẩn đoán bản chất nang dịch
dựa vào tỷ trọng (0-20 HU) và đặc điểm không ngấm thuốc cản quang sau tiêm .
Trong một nghiên cứu hồi cứu u TTT bằng chụp CLVT để phân biệt tổn
thương lành tính và ác tính ở 55 bệnh nhân với 66 UTTT của M.J. Lee và cs năm
1991 nhận thấy: chẩn đoán lành tính ở ngưỡng tỷ trọng < 0 HU có độ nhạy là 47%
và độ đặc hiệu là 100%, với các khối u có tỷ trọng < 10 HU có độ nhạy là 79% và
độ đặc hiệu là 96% .
Năm 1994, M.J. Lee và cs đánh giá bệnh lý tuyến thượng thận trên CHT đã
nhận xét: CHT tuyến thượng thận cung cấp thông tin cụ thể về giải phẫu và mô dựa
trên cường độ tín hiệu, đặc điểm của pheocromocytoma, u mỡ tủy bào và xuất
huyết thượng thận. Độ chính xác trong phân biệt u tuyến vỏ thượng thận và di căn
thượng thận khoảng 96 – 100% .
Năm 1995, W.W. Mayo-Smith và cs dùng tỉ lệ thay đổi tín hiệu giữa lách và
thượng thận (adrenal-spleen ratio) để phân biệt u tuyến vỏ thượng thận và di căn
dựa trên cường độ tín hiệu trung bình cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa u tuyến

pheocromocytoma và di căn .
Năm 2006, Hahn PF và cs đánh giá cùng một tổn thương thượng thận trên
máy MDCT của 2 hãng sản xuất khác nhau SIEMENS và GE (Genaral Elictric)
nhận thấy sự khác biệt không đáng kể về tỷ trọng của các tổn thương .
Năm 2008, Matssura T và cs nghiên cứu về giải phẫu của tĩnh mạch thượng
thận phải trên MDCT thấy rằng MDCT cho phép xác định các tĩnh mạch thượng
thận phải và định khu giải phẫu bao gồm cả vị trí và liên quan với các cấu trúc
xung quanh .
Năm 2009, Pamela T. Jonhson và cs nghiên cứu hình ảnh thượng thận và các
khối thượng thận trên MDCT đã cung cấp một cách nhìn toàn diện về đặc điểm của
các khối thượng thận, phát triển một chiến lược rõ ràng để đối phó với các khối
thượng thận nhằm giảm thiểu chi phí không cần thiết, căng thẳng cho bệnh nhân và
chăm sóc tối ưu . Cùng năm này Shiozawa M và cs sử dụng MDCT dựng hình 3D
mô phỏng trước phẫu thuật xác định vị trí khối u, các cấu trúc giải phẫu lân cận và
tĩnh mạch trung tâm đóng góp cho sự an toàn và hiệu quả của phẫu thuật nội soi u
tuyến thượng thận .
6
Năm 2010, M.J. Sangwaiya và cs đánh giá cản quang ngay sau tiêm với mức
độ rửa trôi trên MDCT chụp muộn 10 phút để đánh giá lại tính chính xác của chụp
chậm 10 phút trong phân biệt 2 tổn thương giàu và nghèo lipid với nhóm bệnh
nhân lớn nhận thấy các đặc tính của u biểu mô tuyến thượng thận có độ nhạy giảm
so với kết quả từ các nghiên cứu trước .
Năm 2010, Nisar Ahmad Wani và cs báo cáo 2 trường hợp u mỡ tủy bào
khổng lồ thượng thận trêm MDCT nhận thấy rằng MDCT giúp trong chẩn đoán
trước phẫu thuật u mỡ tủy bào khổng lồ thượng thận, miêu tả khối u và xác định
nguồn gốc rất tốt .
Năm 2011, Lumachi F và cs nghiên cứu UTTT tăng tiết cortisol trên hình
ảnh MDCT và CHT thấy rằng chụp MDCT với sự kết hợp quét không và có tiêm
thuốc cản quang, đánh giá động học của u là đại diện cho phương thức chính xác
nhất để phát hiện và mô tả đặc điểm của u tuyến thượng thận. CHT rất hữu ích

vôi hóa trong u. Các pheocromocytoma ngấm thuốc cản quang với cường độ cao
và đồng đều .
Cùng năm đó, Đỗ Trung Quân và Hoàng Đức Kiệt chụp CLVT 36 trường hợp
hội chứng Cushing trong đó có 3 bệnh nhân ung thư, 2 bệnh nhân u tuyến vỏ
thượng thận, 11 bệnh nhân nghi ngờ trên siêu âm đã được phẫu thuật cho kết quả
UTTT, 21 bệnh nhân có tuyến thượng thận to hơn bình thường được chẩn đoán u
tuyến yên nhưng chụp CLVT hố yên không phát hiện được khối đã được điều trị
nội khoa cho kết quả tốt. Điều đó cho thấy tính ưu việt của CLVT trong chẩn đoán
UTTT với khả năng phát hiện là 100% .
Năm 2003, Nguyễn Đình Minh nghiên cứu bn UTTT trên CLVT đưa ra nhận
xét: CLVT là phương pháp chẩn đoán hình ảnh có giá trị cao trong chẩn đoán và
theo dõi UTTT với độ nhạy 96,4%, giá trị dự báo dương tính là 92,1%, độ chính
xác 89% .
1.2. GIẢI PHẪU TUYẾN THƯỢNG THẬN:
Đại cương: Tuyến thượng thận màu vàng, dẹt trước sau, khu trú ở hai bên đường
giữa khoang sau phúc mạc, ngay vị trí trước trên của cực trên mỗi thận, bao bọc
8
bởi tổ chức mỡ quanh thận, nằm trong mạc thận và ngăn cách với thận bởi vách xơ.
Hình 1.1. Liên quan giải phẫu tuyến thượng thận
(Atlas giải phẫu học của Netle, người dịch Nguyễn Quang Quyền, nhà xuất bản Y
học; 1995, tr 341)
9
1.2.1. Hình thể ngoài và liên quan tuyến thượng thận:
Hình thái, kích thước, trọng lượng: Thượng thận phải có hình tháp, thượng thận
trái có hình bán nguyệt, thường rộng hơn và cao hơn bên phải, mỗi thượng thận
người lớn kích thước cao khoảng 50mm, ngang 30mm, dày trước sau 3-8mm, nặng
khoảng 5gram .
Vị trí, liên quan: Tuyến thượng thận nằm rất sâu trong khoang sau phúc mạc, hai
bên đốt sống ngực XII hoặc thắt lưng I .
* Liên quan phía trước:

sườn qua trung gian cơ hoành, tuyến dính vào cơ hoành bởi bó mạch thượng vị
trên.
* Liên quan phía dưới: Tuyến thượng thận nằm phía trên cuống thận, tiếp xúc với
động mạch và một phần tĩnh mạch thận; bên phải góc dưới trong TTT nằm trong
góc giữa tĩnh mạch thận phải và TMCD; bên trái góc dưới trong của TTT tương
ứng với góc tạo bởi tĩnh mạch thận trái và ĐMCB.
1.2.2. Cấu tạo :
Tuyến thượng thận được bọc ngoài bởi một bao xơ, tuyến có 2 phần: phần
vỏ ở ngoài và phần tủy ở trung tâm.
1.2.2.1. Vỏ thượng thận:Vỏ thượng thận bao quanh tủy thượng thận, chiếm 85%
thể tích tuyến gồm 3 lớp xếp đồng tâm với nhau từ ngoài vào trong: lớp cung, lớp
bó và lớp lưới.
 Lớp cung: chiếm khoảng 15% khối lượng tuyến vỏ thượng thận, là lớp tế
bào rất mỏng, nằm ở ngoại vi của tuyến, tiết các hormon chuyển hóa muối
nước, đại diện là aldosterone, lớp này nhạy cảm với angiotensine và độ tập
trung của kali. Đây là nguồn gốc của u tuyến vỏ thượng thận và tăng sản thể
nốt gây nên hội chứng Conn trên lâm sàng.
 Lớp bó: là lớp dày nhất, chiếm khoảng 78% khối lượng tuyến vỏ thượng
thận; lớp bó sản xuất glucocorticoids (cortisol) và androgen.
 Lớp lưới: lớp này mỏng nhất, chỉ chiếm 7% khối lượng tuyến vỏ thượng
thận; lớp này sản xuất hormon androgen và một lượng nhỏ estrogen.
11
• Cả ba lớp vỏ thượng thận đều chịu sự điều tiết của ACTH sản xuất từ tuyến
yên.
1.2.2.2. Tủy thượng thận
Tuyến tủy thượng thận ở người lớn có thể tích khoảng 8% đến 10% thể tích
tuyến thượng thận, có trọng lượng trung bình 0,44g; phần lớn tủy thượng thận nằm ở
phần đầu tuyến thượng thận; còn phần đuôi tuyến thượng thận thường không chứa
mô tủy.
Tuyến tủy thượng thận có màu đỏ, cấu tạo bởi những đám hay dây tế bào

1.3. Sinh lý tuyến thượng thận
1.3.1. Vỏ thượng thận: Bài tiết hormon kiểm soát hai loại chuyển hóa hữu cơ,
chuyển hóa vô cơ và các steroid sinh dục.
Nhóm hormon chuyển hóa hữu cơ glucocorticoid
Bao gồm cortisol và cortison. Với nồng độ giới hạn cao trong máu cortisol
có tác dụng điều khiển ngược âm tính vùng dưới đồi, làm giảm tiết CRF, tăng tạo
đường mới từ lipid và protid. Tác dụng đối kháng một phần với insulin, vì vậy xuất
hiện đái đường trong hội chứng Cushing. Cortisol tác động đến chuyển hóa lipid
bằng sự phân bố lại hướng tâm của mỡ. Cortisol và cortison giữ muối và natri,
ngăn cản chuyển hóa nước trong tế bào.
Cortisol làm chậm sự phát triển của sụn, dẫn đến mỏng đi của sụn đầu
xương và ngừng phát triển ở trẻ em.
Nhóm hormon chuyển hóa vô cơ mineralcorticoid: Từ vùng vỏ (lớp cầu) tiết ra
aldosteron và desoxycorticosteron. Mineralcorticoid có hai tác dụng quan trọng:
điều hòa thể dịch ngoại bào và chuyển hóa Kali. Aldosteron điều hòa thăng bằng
13
nước điện giải thông qua hệ thống renin-angiotensin tác dụng lên đoạn hai của ống
lượn xa, làm thuận lợi tái hấp thu natri. Bài tiết aldosteron tăng dẫn đến ứ đọng
natri và giảm kali máu là nguyên nhân tăng HA động mạch và rối loạn vận động
cơn.
Nhóm steroid sinh dục: Cetosteroid là một phần nhỏ của sản phẩm đồng hóa
androgen, có tác dụng đồng hóa, làm tăng tổng hợp protein và đối kháng với tác
dụng dị hóa của glucocorticoid; khi có u ở tuyến thượng thận, mới có biểu hiện rõ
thay đổi giới tính, nam hóa ở nữ là chủ yếu. Nếu tăng androgen xuất hiện trước khi
sinh thì sự phát triển của bộ tiết niệu sinh dục sẽ có biểu hiện nam hóa.
Estrogen tuyến thượng thận (estradiol) rất ít quan trọng đối với phụ nữ trong
nhóm tuổi sinh sản vì nồng độ rất thấp so với lượng estrogen của buồng trứng.Cả
androgen và estrogen đều thúc đẩy sự phát triển của hệ xương khớp và giúp tăng
sức chống đỡ của xương.
1.3.2. Tủy thượng thận: Trên lâm sàng tập hợp ba chất là: Dopamin, epinephrin và

khối u này thường được xác định sớm bởi hoạt động của tăng tiết hormon, tăng tiết
gặp ở 55% trường hợp (từ 26% - 94%) biểu hiện như hội chứng Cushing, nữ hóa,
nam hóa hoặc hỗn hợp hội chứng Cushing-nam hóa; tăng huyết áp phổ biến trong tất
cả các hội chứng; ngoài ra bệnh nhân có thể bị đau, sờ thấy một khối hay phàn nàn
về tiêu hóa do khối u .
Xét nghiệm sinh hóa: Tăng cortisol niệu và cortisol tự do trong 24 giờ (62%); không
đáp ứng với nghiệm pháp hãm dexamethasone; các khối u không tiết không có sự
thay đổi về hormon.
Chẩn đoán hình ảnh:
15
Kích thước khối u lớn, đa số > 6cm, trong báo cáo của Ng và Libertino thì
kích thước trung bình 9,8 cm ( từ 4-25 cm), Fishman EK và cs từ 3-25 cm và tỷ lệ
hoạt động của nội tiết tỷ lệ nghịch với kích thước .
Trên phim X quang và UIV có thể thấy hình ảnh vôi hóa hay đè đẩy thận
cùng bên. Siêu âm phát hiện khối ở hạ sườn tăng âm không đồng đều, đẩy thận
xuống thấp và ra ngoài, ở ngoài thận.
Trên CLVT, các khối u không đồng nhất trước tiêm đặc biệt là khối > 6cm do
hoại tử trong khối, sau tiêm khối ngấm thuốc không đều, thường ở ngoại vi, giá trị
rửa trôi RPW <40%; tuy nhiên kích thước lớn và không đồng nhất là những chỉ số
đáng tin cậy về chẩn đoán hơn là những giá trị rửa trôi; vôi hóa gặp trong 19%-33%,
thường là vôi hóa rất nhỏ. CLVT cho thấy dấu hiệu xâm lấn tạng (gan là vị trí di căn
thường gặp nhất trên CLVT), di căn hạch và xâm lấn TMCD .
Xâm lấn TMCH là một biến chứng quan trọng của ung thư biểu mô tuyến
thượng thận; thường gặp ở bên phải; pheochromocytoma hiếm khi xâm lấn vào
TMCD .
Trên CHT, khối u giảm tín hiệu so với gan trên hình ảnh T1, khối u tăng tín
hiệu trung bình và không đồng đều trên T2, ngấm thuốc đồng đều và thoáng qua sau
khi tiêm thuốc đối quang từ.
1.4.1.3. Các u vỏ thượng thận tăng tiết:
Khối u vỏ thượng thận tăng tiết hormon có thể tạo ra hội chứng Cushing từ cortisol

sẽ giảm, chứng tỏ trục hạ não- tuyến yên- thượng thận hoạt động bình thường.Trong
HC Cushing, sự tiết corticosteroid không bị ức chế như người bình thường nên liều
17
dexamethasone không can thiệp vào các phương pháp đo cortisol trong huyết tương
và nước tiểu .
Chẩn đoán hình ảnh:
Tuyến thượng thận thường tăng kích thước đối xứng ở những bệnh nhân bị
hội chứng Cushing phụ thuộc, tuy nhiên lên đến 30% bệnh nhân sẽ có kích thước
tuyến thượng thận bình thường, 15-30% các trường hợp hội chứng Cushing có
nguyên nhân là u thượng thận, thường là u tuyến vỏ thượng thận lành tính. U tuyến
thượng thận gây ra hội chứng Cushing thường có đường kính > 2cm .
1.4.3.2. U vỏ TTT tăng tiết aldosterone (Hội chứng Conn): Cường aldosterone tiên
phát (hội chứng Conn) là tính trạng quá tiết aldosterone không ức chế được dẫn tới
ức chế renin máu; triệu chứng liên quan đến hạ kali máu (yếu cơ và chuột rút) hoặc
không đặc hiệu như đau đầu và mệt; phần lớn bệnh nhân mắc hội chứng Conn có
tăng huyết áp. Bệnh thường gặp ở tuổi từ 30-60, nữ gấp 2 lần nam . Nguyên nhân
thường gặp của HC Conn là tăng sản thượng thận (20%), u tuyến vỏ thượng thận
(79%) và ung thư biểu mô vỏ thượng thận (1%) .
Xét nghiệm cận lâm sàng có hạ kali máu (<3 mmol/l), tăng đào thải kali qua
nước tiểu (>25mmol/24 giờ), kiềm chuyển hóa và tăng natri máu nhẹ. Định lượng
aldosterone trong máu (PAC) lúc 8 giờ sáng, nếu PAC > 695 pmol/L thường do
adenoma vỏ TTT cường tiết aldosterone. Đo hoạt tính renin huyết tương (PRA) thấy
giảm <0,8nmol/L. Nếu tỷ số PAC/PRA >30 và PAC > 556pmol/L có thể chẩn đoán
cường aldosterone tiên phát với độ nhạy 90% và độ đặc hiệu 91%, tỷ số PAC/PRA >
50 là giá trị để chẩn đoán xác định cường aldosterone tiên phát .
Nếu bất thường, làm nghiêm pháp động dùng tải Natri chứng minh sự tiết
aldosteron là không ức chế được, nguyên lí của nghiệm pháp là tăng thể tích dịch
trong lòng mạch sẽ ức chế tiết renin và tiếp sau là aldosterone ở những bệnh nhân
không có cường aldosterone tiên phát .
Chẩn đoán hình ảnh:

thương phối hợp, pheocromocytoma có thể phối hợp với u tủy giáp trạng trong HC
MEN, phối hợp với u xơ thần kinh trong bệnh Von Recklinghausen hoặc phối hợp
trong bệnh von Hippel – Lindau .
19
Các nhà lâm sàng đã tổng kết quy luật 10% trong chẩn đoán
pheocromocytoma .
10% các trường hợp ngoài thượng thận
10% các trường hợp ngoài ổ bụng
10% các trường hợp ác tính
10% các trường hợp cả hai bên
10% các trường hợp không có THA
10% các trường hợp có tính gia đình
10% các trường hợp ở trẻ em
Xét nghiệm sinh hóa: xét nghiêm được lựa chọn để chẩn đoán u tuyến thượng thận
là định lượng metanephrin trong máu, giá trị của metanephrin trong máu < 61ng/l
(0,31nmol/l) loại trừ pheocromocytoma, nếu giá trị này > 236ng/l (1,2nmol/l) chẩn
đoán xác định; trường hợp metanephrin máu từ 62 – 235ng/l cần phối hợp với các
xét nghiệm khác. Độ nhạy và độ đặc hiệu của xét nghiệm từ 97 – 99% .
Chẩn đoán hình ảnh:
Pheocromocytoma lớn hơn đáng kể so với u tuyến vỏ thượng thận nhưng
không lớn hơn tổn thương di căn và pheocromocytoma không tăng tiết thì thường
lớn hơn các u tăng tiết .
Trên phim X quang ổ bụng giá trị thường nghèo nàn có thể thấy hình ảnh vôi
hóa dạng lấm chấm (khoảng 7%).
Siêu âm phát hiện khối lớn ở vị trí thượng thận có cấu trúc âm không đều, .
CLVT: Tỷ trọng của pheocromocytoma có thể là đồng nhất (đặc biệt là nhỏ)
hoặc không đồng nhất (như tổn thương lớn xuất huyết và hoại tử), có thể chứa nhiều
mỡ trong tế bào hoặc thoái hóa nang, dẫn đến giảm tỷ trọng trước tiêm; vôi hóa có
mặt trong 29% các ca nghi ngờ so với 0% của pheocromocytoma phát hiện tình cờ.
Đặc điểm rửa trôi của pheocromocytoma là thay đổi, có thể giống u tuyến vỏ thượng

1.4.4. Di căn tuyến thượng thận:
Di căn tuyến thượng thận chiếm 3% bệnh nhân trên khám nghiệm tử thi,
49% di căn hai bên, di căn một bên gặp chủ yếu bên trái (tỷ lệ 1,5:1). Các khối u
nguyên phát thường gặp ở những bệnh nhân dưới 40 tuổi bao gồm u lympho, bệnh
bạch cầu, ung thư phổi và ung thư dạ dày. Bệnh nhân bị ung thư hạch hoặc ung thư
vú, đại trực tràng, dạ dày, ung thư tuyến tiền liệt có thể biểu lộ di căn ở tuyến
21
thượng thận lớn hơn 5 năm sau xuất hiện của khối u nguyên phát. 90% di căn
tuyến thượng thận là từ ung thư biểu mô (ung thư phổi, dạ dày, thực quản, gan mật,
tuyến tụy, ruột, thận, ung thư vú). Các tổn thương gồm 56% là ung thư tuyến, 15%
ung thư biểu mô tế bào vảy, phần còn lại gồm hematopoietic, ung thư mô liên kết,
ung thư hắc tố .
Chẩn đoán hình ảnh:
 Siêu âm ung thư thượng thận thứ phát có hình khối tròn hay bầu dục, bờ đều
hay nhiều thùy, cấu trúc âm rất đa dạng thường không đồng âm.
 Trên hình ảnh CLVT ung thư thượng thận thứ phát có hình ảnh không đặc
hiệu, các khối u có kích thước nhỏ thường đồng nhất, bờ nhẵn, ngấm thuốc
mạnh và đồng nhất. Trái lại, khối u lớn thường không đồng nhất do hoại tử,
chảy máu ở trung tâm, bờ không đều, thùy múi. Đối với di căn tuyến thượng
thận từ các ung thư biểu mô đặc biệt là thận thì thường có tính chất ngấm
thuốc như pheocromocytoma nhưng mức độ rủa trôi thì chậm hơn u tuyến
vỏ thượng thận .
 Trên hình ảnh CHT, khối u đồng tín hiệu với gan và lách trên T1 nhưng tăng
tín hiệu trên T2 do bản chất u chứa nhiều dịch. Kết quả sinh thiết thượng
thận trong trường hợp khó để chẩn đoán xác định về tế bào học có độ nhạy
81% và độ đặc hiệu là 99% .
1.4.5. U hạch thượng thận (lymphome): u hạch thượng thận có thể là thứ phát
hoặc nguyên phát, tổn thương nguyên phát là không phổ biến và thường gặp ở cả
hai bên. U hạch thượng thận thứ phát phần lớn là u hạch non-Hodgkin, 4% u hạch
non-Hodgkin có tổn thương thứ phát ở tuyến thượng thận và 43% các trường hợp

hơn 6 cm thường là ác tính, được khuyến cáo phẫu thuật. CHT có hiệu quả tương
ương với CLVT trong việc phân biệt khối u lành tính hay ác tính .
1.4.7. Một số u thượng thận hiếm gặp:
1.4.7.1. U nang thượng thận:
Nang thượng thận hiếm gặp tỷ lệ 1/ 40000 người, thường ở một bên (80% trường
hợp), nam gặp nhiều hơn ở nữ; theo phân loại của Kearney và Asbeas House có thể
chia thành 4 nhóm:
 Nang nội mô (kystes endothéliaux): gặp khoảng 45%, thường gặp là
nang bạch mạch, hiếm gặp hơn là u máu dạng nang. Nang này thường có

Trích đoạn Vai trò CLVT trong chẩn đoán UTTT: CLVT có giá trị chẩn đoán cao đối với các UTTT Đây là phương pháp thăm khám hiệu quả dựa trên sự xem xét các Các biến số nghiên cứu: Các biến số chung : Tuổi, giới. Giá trị của MDCT trong chẩn đoán xác địn hu tuyến vỏ thượng thận
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status