ứng dụng mạch nhân tạo tráng bạc trong phẫu thuật phồng động mạch chủ bụng-chậu dưới thận tại bệnh viện việt đức - Pdf 23

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Phồng động mạch chủ bụng (PĐMCB) thường gặp ở người cao tuổi,
năm 1987 ở Mỹ có từ 2 - 5 % nam giới trên 60 tuổi bị PĐMCB. Tỷ lệ tử vong
do PĐMCB đứng thứ 10 các nguyên nhân gây tử vong hàng năm ở nam giới
trên 55 tuổi [1].
Phồng động mạch chủ dưới thận (PĐMCDT) chiếm 90-95 % trong số
các PĐMCB nói chung [2]. Nguyên nhân có tới 90% là do xơ vữa thành
mạch, còn lại là do bẩm sinh, sau chấn thương, viêm nhiễm, [3] …
Năm 1851, Koch đã lưu ý lần đầu tiên một ca phồng động mạch mạc treo
tràng trên nhiễm khuẩn. Năm 1885, Sir William Osler đưa ra thuật ngữ
"Phồng động mạch nhiễm nấm" để miêu tả sự có mặt của "quần thể nấm"
trong thành của phồng mạch ở những bệnh nhân viêm nội tâm mạc nhiễm
khuẩn. Thuật ngữ này đã được áp dụng cho tất cả các loại nhiễm trùng động
mạch. Để tránh sự nhầm lẫn với nấm, Jarrett đã đề xuất sử dụng thay thế bằng
thuật ngữ "Phồng động mạch nhiễm trùng" ( PĐMNT) ,[5],[6]
PĐMCNT chiếm 22% PĐMNT trong số nói chung , được ghi nhận ở tất
cả các lứa tuổi ,. Nhiễm trùng có thể xảy ra ở cả động mạch chủ ngực cũng
như chủ bụng, phổ biến nhất ở đoạn dưới thận.
Điều trị nội khoa không thể tách rời điều trị ngoại khoa. Sử dụng kháng
sinh phổ rộng đường tiêm được bắt đầu ngay sau những lần cấy máu đầu tiên
và phù hợp với những xét nghiệm vi khuẩn học.
PĐMNT nói chung và PĐMCBDT nhiễm trùng nói riêng vẫn tiếp tục
gây ra nhiều khó khăn cho các nhà ngoại khoa. Những năm gần đây, để xử lý
các tổn thương mạch máu nguy cơ nhiễm trùng (do bệnh lý, chấn thương),
nhiễm trùng mạch nhân tạo trên thế giới hiện nay đang áp dụng nhiều giải
pháp như sử dụng mạch tự thân thay thế động mạch; sử dụng mạch ghép đồng
loài bảo quản lạnh; bắc cầu động mạch ngoài giải phẫu; mạch nhân tạo tẩm
2
kháng sinh; sử dụng mạch nhân tạo chống nhiễm khuẩn tại chỗ như mạch
nhân tạo tráng bạc. So sánh hiệu quả sớm và lâu dài các biện pháp trên còn

động mạch bị giãn ra và nếu vỡ thì cực kỳ khó khăn để cầm máu là nhà sinh
học Galen (131- 200) trước công nguyên [11].
Năm 1543, Andreas trong nghiên cứu của mình đã mô tả một vài bệnh
nguyên của phồng động mạch, bao gồm cả giang mai [12]. Sau đó năm 1555
lần đầu tiên Vesalius chẩn đoán một u đập trong ổ bụng và gọi là giãn động
mạch chủ bụng [13].
Năm 1728 Lancisi đã xuất bản cuốn " De Motu Cordis et Sangguinis in
Amina " trong đó đã nói đến cả bệnh nguyên, bệnh sinh và thông báo một số
trường hợp PĐMCB [12].
Những cố gắng điều trị phẫu thuật đầu tiên trên người được Jonhn Hurter
(1728 – 1793) và Cooper (1786 – 1841) thực hiện bằng thắt động mạch chủ
dưới thận của bệnh nhân dò túi phình động mạch chủ chậu, tuy nhiên bệnh
nhân đã tử vong sau 40 giờ phẫu thuật [14]. Braedor khuyên buộc đầu xa
trong những trường hợp không thể buộc đầu gần với mục đích gây nghẽn
mạch, nhưng nguy cơ vỡ phồng tăng lên đáng kể.
Ở giai đoạn này cũng đã xuất hiện rất nhiều các biện pháp chữa trị nội
khoa phồng ĐMC nhưng điều thất bại. Vì vậy đa số các bác sĩ thời bấy giờ
cho rằng chỉ có phẫu thuật mới đáp ứng được mục đích điều trị.
Như vậy phải đến thế kỉ XX, khi có các hiểu biết sâu sắc về giải phẫu,
sinh lý, các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh chính xác được áp dụng, các vật liệu
4
thay thế ĐMC, kim chỉ khâu mạch máu, cũng như việc phát triển của gây mê
hồi sức và chăm sóc sau mổ thì phẫu thuật triệt để PĐMC mới đạt được kết
quả tốt.
Ngày 29-3-1951, Ch.Dubost (Pais) là người đầu tiên thành công khi cắt
bỏ PĐMCBDT và ghép nối bằng một đoạn ĐMC ngực đồng loài bảo quản
lạnh trên bệnh nhân nam 50 tuổi [15]. Thành công của Ch.Dubost đã mở ra
một kỷ nguyên mới trong lịch sử phẫu thuật ĐMC. Sau đó DeBakey là người
đã xây dựng và tiêu chuẩn hóa phẫu thuật ĐMC. Năm 1964, ông đã công bố
một thống kê gồm 1719 trường hợp PĐMC được cắt đoạn và ghép.

Tuy nhiên theo một nghiên cứu của Axel Larena – Avellaneda và cộng
sự trên 913 bệnh nhân không có sự khác biệt về kết quả điều trị giữa mạch
nhân tạo tráng bạc và các vật liệu khác trên bệnh nhân không nhiễm trùng .
Các tác giả cho rằng cần nghiên cứu thêm để khẳng định vai trò của mạch
nhân tạo tràng bạc trong các thử nghệm lâm sang tại chỗ.
Kỹ thuật phẫu thuật truyền thống cắt bỏ PĐMCB, phục hồi lưu thông
dòng máu bằng một đoạn mạch nhân tạo và thực hiện những mũi khâu vào
thành ĐMC vẫn có những khó khăn và nguy cơ nhất định: Khó bộc lộ được
PĐMCB; gián đoạn dòng máu khi tiến hành phẫu thuật làm miệng nối; các
hội chứng chảy máu và rối loạn đông máu; bệnh lý phối hợp ở người có tuổi
như tâm phế mãn, suy tim, mạch vành, đái tháo đường Đây là những yếu
tố tác động trực tiếp vào kết quả phẫu thuật. Những khó khăn và nguy cơ
này giảm đáng kể với kỹ thuật mới đang được áp dụng hiện nay: đặt stent
trong lòng ĐMC bằng kỹ thuật nội mạch máu. Kỹ thuật này được Parodi
và cộng sự lần đầu tiên tiến hành thành công trên người vào năm 1991[20].
Nhưng trong PĐMCB nhiễm trùng thì chưa thấy có tài liệu nào báo cáo về
kỹ thuật này.
6
1.1.2 Tại Việt Nam
Ở Việt nam, trường hợp PĐMCB đầu tiên được phát hiện và mổ thành công
tại bệnh viện Việt Đức vào năm 1971. Từ đó tới nay đã hơn 40 năm trôi qua, phẫu
thuật điều trị PĐMCB đã phát triển và có nhiều công trình được công bố.
Theo Đặng Hanh Đệ và Tôn Thất Bách khi nghiên cứu 17 trường hợp
PĐMCB được mổ tại bệnh viện Việt Đức (giai đoạn 1971 – 1983) thấy: tất cả
các trường hợp vào viện khi đã có các dấu hiệu lâm sàng như khối u bụng
đập, giãn nở theo nhịp tim. Các trường hợp này đã được mổ thay đoạn ĐMCB
và không có trường hợp nào tử vong sớm sau phẫu thuật [21].
Theo tác giả Đinh Xuân Huy và Đặng Hanh Đệ (Bệnh viện Việt Đức)
nghiên cứu 85 bệnh nhân PĐMCBDT được phẫu thuật (từ năm 1995 đến
2001) thì thấy tỷ lệ tử vong sau mổ cấp cứu vì vỡ khối phồng là 33 %, tử

ứng một điểm chiếu lên thành bụng cách trên rốn khoảng từ 1 – 2 cm và hơi
lệch sang trái.
ĐMCB dài khoảng 10 – 15 cm, thuôn đều từ trên xuống dưới. Kích
thước thay đổi tùy theo tuổi, giới và cấu tạo cơ thể. Theo Stainberg và cộng
sự chụp động mạch và đo đường kính ĐMCB ở người lớn 40 tuổi được tóm
tắt trong bảng sau:
Bảng 1.1 Đường kính trung bình ĐMCB ở người lớn 40 tuổi [22]
(Theo Stainberg và cộng sự)
Vị trí
Đường kính (mm)
Nam Nữ
Trên các động mạch thận 23,9±3,92 21,6±3,16
Dưới các động mạch thận 21,4±3,92 18,6±3,36
Ở chạc 3 18,4±3,34 17,5±2,52
8
Ở Việt Nam, theo Cao Văn Thịnh (thành phố Hồ Chí Minh), tác giả đã
khảo sát đường kính ngang của ĐMCBDT bằng siêu âm, chụp cắt lớp vi tính
và đo trực tiếp khi phẫu thuật cho thấy ở nam giới trung bình 54 tuổi là 19
mm và ở nữ giới trung bình 58 tuổi là 17 mm [28].
Hình 1.1: Giải phẫu động mạch chủ bụng.
1.2.2 Các nhánh bên
+ Hai động mạch hoành dưới: Tách ra ở hai bên của ĐMC chui qua lỗ
cơ hoành.
+ Động mạch thân tạng (ĐMTT) : Tách ra từ mặt trước ĐMCB và tạo với
động mạch này một góc 60 độ ngay bờ trên tụy, hơi sang trái đường giữa, ngay
trước bờ dưới của đốt sống ngực 12. Động mạch này ra trước khoảng 1 cm thì
chia thành 3 nhánh: động mạch gan, động mạch vành vị, động mạch lách.
+ Động mạch mạc treo tràng trên: Xuất phát từ đường giữa mặt trước
ĐMCB, dưới ĐMTT khoảng 1 cm, ngang thắt lưng 1.
ĐM thân tạng

cùng chậu thì mỗi động mạch chia thành 2 nhánh tận là động mạch chậu trong
và động mạch chậu ngoài.
+ ĐMCB nằm trong khoang sau phúc mạc. Do đó nó có các liên quan
sau phúc mạc và qua phúc mạc.
1.2.4 Liên quan sau phúc mạc
+ Đám rối thần kinh giao cảm quanh ĐMCB với nhiều hạch và các đám
rối mạc treo tràng, chủ - thận, các hạch bạch huyết. Trong trường hợp có viêm
10
quanh thành động mạch, các yếu tố này sẽ gây nhiều khó khăn cho việc phẫu
tích, và khống chế chảy máu.
+ Phần trên của ĐMCB đè lên gốc của ống ngực, bể Picquet và các
nhánh đến của nó. Phía dưới, TM chậu gốc trái bắt chéo phía sau chạc ba
ĐMC là một liên quan cần chú ý khi phẫu thuật PĐMCBDT.
+ TMCD bắt nguồn từ đốt sông thắt lưng 5, mới đầu đi sau chạc ba
ĐMC rồi song song áp bên phải của nó, để rồi lên tới lỗ cơ hoành thì tách
nhau bởi cột trụ phải cơ hoành. Bên trái của ĐMCB liên quan với tuyến
thượng thận trái, bờ trong của thận trái
+ Tĩnh mạch thận trái bình thường bắt chéo trước ĐMCB, ngang bờ dưới
chỗ phát sinh các động mạch thận và liên quan của chính các nhánh bên
ĐMCB : Động mạch thân tạng, động mạch mạc treo tràng trên, động mạch
mạc treo tràng dưới, các động mạch sinh dục, các nhánh động mạch thắt
lưng, cần lưu ý là các động mạch này dễ bị tổn thương trong khi mổ.
+ Theo Kieffer bất thường bẩm sinh của TMCD và TM thận trái rất hiếm
gặp chỉ chiếm 2%, nhưng nó ảnh hưởng tới phẫu thuật PĐMCBDT nhất là
trong trường hợp phẫu thuật cấp cứu không được chuẩn bị, và phẫu trường
chật hẹp [29].
+ Liên quan của niệu quản, các động mạch tử cung – buồng trứng (ở nữ)
bắt chéo trước các động mạch chậu. Phía sau là các tĩnh mạch chậu tương
ứng, dây giao cảm lớn và động mạch thắt lưng 5 (nhánh tách ra từ động mạch
cùng giữa).

12
mmHg nó là một ống đàn hồi đơn thuần, khi áp lực lớn hơn 200 mmHg nó
mất tính đàn hồi và trở thành một ống cứng [30].
Tính đàn hồi của thành động mạch chủ bụng là do sự sắp xếp không gian
của các thành phần chính của lớp áo giữa, tổ chức đàn hồi, các tế bào cơ trơn
và một số sợi tạo keo. Nhờ đó mà ĐMCB có thể tăng đường kính lên gấp đôi
khi áp lực cao rồi trở lại bình thường. Chất tạo keo đã tham gia hạn chế sự
giãn căng của thành động mạch dưới áp lực cao do đó làm giảm nguy cơ vỡ
Sự lão hóa động mạch chủ là quá trình liên tục từ lúc con trẻ và được
chia thành nhiều giai đoạn : Mới đầu đàn hồi, cơ đàn hồi, rồi xơ và dày lên.
Diễn biến sinh lý tự nhiên này gọi là xơ vữa sinh lý.
1.3 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG PHỒNG ĐỘNG
MẠCH CHỦ BỤNG – CHẬU DƯỚI THẬN NHIỄM TRÙNG
1.3.1 Định nghĩa
Phồng động mạch chủ bụng là sự giãn ra ít nhất 1,5 lần so với đường
kính ngang của đoạn ĐMCB ngay trên nó. PĐMCB dưới chỗ phân chia các
ĐM thận gọi là phồng động mạch chủ bụng dưới thận.
Phồng động mạch nhiễm trùng được xác định là hiện tượng nhiễm trùng ở
thành động mạch tại chỗ túi phồng, với sự hình thành các túi phồng của thành
động mạch
1.3.2 Dịch tễ học
Phồng động mạch nhiễm trùng khá hiếm, nhưng có thể xảy ra ở tất cả
các động mạch theo tỷ lệ giảm dần: động mạch chủ, động mạch ngoại biên,
động mạch não và động mạch tạng ,,. Tỷ lệ mắc thực tế của phồng động mạch
nhiễm trùng chưa rõ ràng. Phồng động mạch chủ nhiễm trùng chiếm 0.7-1%
tất cả các phồng động mạch được phẫu thuật ,,. Phồng động mạch chủ nhiễm
trùng chiếm 1 - 3% phồng động mạch chủ và 22 % phồng động mạch nhiễm
trùng nói chung.
13
Mặc dù phồng động mạch chủ nhiễm trùng được mô tả ở tất cả các lứa

lần đầu tiên được sử dụng bơi Sir William Osler từ năm 1885 và được sử
dụng để đề cập tới 90% chứng phồng động mạch nhiễm trùng thời kỳ trước
khi có kháng sinh . Loại này thường xuất hiện như một biến chứng tắc mạch
của viêm nội tâm mạc nhiễm nấm. Hiện nay, Phồng động mạch nhiễm nấm
rất hiếm xảy ra bởi các liệu pháp kháng sinh hiện đại, phương pháp quản lý và
phẫu thuật van tim bị bệnh.
1.3.3.2 Giả phồng động mạch nhiễm trùng
Đây là loại phổ biến nhất của phồng động mạch chủ nhiếm trùng, chiếm
hơn 85% các trường hợp . Tùy thuộc vào đường lây nhiễm, loại này được
phân ra làm 2 nhóm:
+ Loại qua đường màu: Ở loại này, túi phồng là kết quả của sự xâm
nhập vi khuẩn qua đường máu đến thành động mạch bị xơ vữa dẫn đến sự
mưng mủ ở thành động mạch và hình thành túi phồng.
+ Loại sau chấn thương: Đây là loại giả phình thường xảy ra ở động
mạch đùi là một biến chứng của việc lạm dụng các thủ thuật can thiệp như
thông tim, lọc máu, Tuy nhiên động mạch chủ ở những bệnh nhân này
thường bất thường về vị trí giải phẫu.
1.3.3.3 Phồng động mạch nhiễm trùng thực thụ
Ở loại này, vi khuẩn xâm nhập qua đường máu và gây nên phồng động
mạch thực thụ và tạo mủ ở thành động mạch. Loại này chiếm một tỷ lệ nhỏ
(10-15%) của phồng động mạch chủ nhiễm trùng. Loại này có thể trở nên phức
tạp bởi lỗ rò động mạch – ruột tiên phát, khác với lỗ rò động mạch – ruột thứ phát
15
do nhiễm trùng động mạch nhân tạo . Điều quan trọng cần lưu ý là phải phân biệt
giữa phồng động mạch viêm và ba loại phồng động mạch nhiễm trùng. Phồng
động mạch viêm thường kết hợp với sự dày lên quá mức của thành túi phồng
với các sợi xơ và các cấu trúc xung quanh .
1.3.4 Triệu chứng học
1.3.4.1 Hình thức biểu hiện
+ Triệu chứng của PĐMCBDT:

Siêu âm 2D và siêu âm Doppler ĐMCB là phương tiện được áp dụng
rộng rãi trong chẩn đoán PĐMCB. Ưu điểm chính của siêu âm là rẻ tiền,
không chấn thương, làm nhiều lần,… Trên siêu âm có thể biết được kích
thước, hình dạng khối phồng, đặc biệt huyết khối bám thành và tổn thương
mạch thận kèm theo. Tuy nhiên nhược điểm của nó là khó xác định cổ khối
phồng, vị trí giải phẫu tương quan của động mạch mạc treo, động mạch chậu
khi khối phồng lan sâu xuống tiểu khung. Khó thăm khám nếu thành bụng
quá dày hoặc nhiều hơi trong ruột.
Thường chụp động mạch vẫn là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán phồng
động mạch chủ nhiễm trùng nhưng đây là thủ thuật xâm lấn, có gây nên biến
chứng chủ yếu liên quan đến can thiệp mạch, nghẽn mạch ngoại biên và
không cho phép đánh giá những tổn thương ngoài lòng mạch .
Chụp cắt lớp vi tính là phương pháp chẩn đoán hình ảnh được lựa chọn
nhằm phát hiện khi nghi ngờ phồng động mạch nhiễm trùng kích thước lớn
; phương pháp này cho phép dựng hình 3 chiều của động mạch để lập kế
hoạch phẫu thuật hoặc can thiệp nội mạch và xác định các biến chứng kèm
theo.
17
Việc sử dụng phương pháp chụp cộng hưởng từ để phát hiện phồng động
mạch chủ nhiễm khuẩn được mô tả trong một số báo cáo về những trường
hợp phồng động mạch chủ nhiễm khuẩn. Những hạn chế so với chụp cắt lớp
vi tính là thời gian chụp dài hơn, nhạy cảm hơn với chuyển động, độ phân giải
thấp hơn và phạm vi đánh giá nhỏ hơn .
X-quang phổi là một xét nghiệm định hướng chẩn đoán trong trường hợp
phồng động mạch chủ ngực.Trong trường hợp náy có thể thấy trung thất rộng,
đám mờ gần động mạch chủ ngực hoặc cung động mạch chủ, tuy nhiên vẫn
cần một phương pháp khác để chẩn đoán phình động mạch chủ ngực.
Sự thay đổi sớm trong sự hình thành phồng động mạch chủ viêm bao
gồm bất thường của thành động mạch, phù nề quanh động mạch, khối nhu mô
quanh động mạch, khí quanh động mạch.Phù nề quanh động mạch như một

trong phồng động mạch chủ bụng trên thận nhiễm khuẩn trước 1990 thường
là Salmonella. Từ 1990 cầu khuẩn Gram (+) (tụ cầu và liên cầu) chiếm ưu thế
hơn trực khuẩn gram (-) như Salmonella. Điều này chủ yếu do các thủ thuật
xâm lấn tại bệnh viện . Salmonella là tác nhân chủ yếu trong nhiễm trùng
động mạch chủ, Vì nó có thể xâm nhập vào nội mạc của động mạch. Tụ cầu
vàng kháng méthicilline đang nhanh chóng trở thành tác nhân thường gặp,
đặc biệt ở những người suy giảm miễn dịch, nằm viện lâu ngày và chịu những
thủ thuật can thiệp nội mạch.
Phồng động mạch chủ nhiễm trùng có thể do vi khuẩn lao, Tuy nhiên
phồng động mạch chủ nhiễm lao rất hiếm, chỉ có 41 trường hợp được ghi
nhận trên toàn thế giới từ 1945 tới 1999 .
Johansen đã xác định tiền sử chấn thương, cùng với nhiễm khuẩn hệ
thống và khả năng miễn dịch bị suy giảm là những yếu tố nguy cơ của phồng
19
động mạch chủ nhiễm trùng. Độc lực của vi khuẩn gây bệnh cũng có thể quyết
định kết quả, Reddy, Trong một nghiên cứu nhỏ đã chỉ ra 4 loại vi khuẩn,
Salmonella, ngay cả Bacteroides fragilis, Tụ cầu vàng và trực khuẩn mủ xanh, có
mặt ở những trường hợp tử vong, vỡ phồng động mạch, nhiễm khuẩn và phồng
động mạch trên thận xảy ra ở 10 (77%) trên 13 bệnh nhân .
Bản chất phụ thuộc vào điều kiện ban đầu, cơ địa, cơ chế hình thành khối
phồng. Các nhiễm khuẩn huyết do Clostridium thường kết hợp với ung thư
đại tràng và định hướng làm nội soi đại tràng . Khoảng hơn một chục trường
hợp phồng động mạch chủ nhiễm trùng đã được mô tả là do aspergillus .
Trong y văn đã đề cập đến nhiều tác nhân gây bệnh khác : Mycobacterium
tuberculosis entérobactéries (Escherichia coli, Proteus, Klebsiella,
Campylobacter foetus), Bacteroides, Yersinia pseudotuberculosis.
Cuối cùng, đối với trường hợp cụ thể do Chlamydia pneumonia, đây là vi
khuẩn nội bào được tìm thấy trong gần một nửa các bệnh nhân xơ vữa động
mạch hiện được coi là yếu tố nguy cơ tim mạch tiềm tàng . Một vài trường
hợp khác, Chlamydia pneumoniae thúc đẩy sự phát triển của phồng động

những trường hợp có hội chứng nhiễm trùng nặng hoặc tình trạng huyết động
không ổn định. Điều trị kháng sinh phổ rộng đường tiêm được thực hiện trước
những lần cấy máu đầu tiên và phù hợp với kết quả kháng sinh đồ.Tăng bạch
cầu mà không có dấu hiệu của vỡ túi phồng cho phép điều trị kháng sinh 4-6
tuần trước mổ.Trong trường hợp ngược lại phải tiến hành mổ cấp cứu . Không
có nghiên cứu nào xác định thời gian điều trị kháng sinh sau mổ, tổng chiều
dài thay đổi tùy theo tác giả từ 6 tuần đến suốt đời .
1.3.6.2 Điều trị phẫu thuật
21
Sự phát triển của phồng động mạch chủ nhiễm khuẩn là không thể tránh
khỏi thậm chí có thể vỡ ngay cả khi đã kiểm soát tốt được tình trạng nhiễm
trùng. Can thiệp phẫu thuật vẫn là rất cần thiết. Chiến lược phẫu thuật hiện
vẫn còn gây tranh cãi đó là ghép đoạn động mạch tại chỗ và bắc cầu động
mạch ngoài giải phẫu. Bất kể loại can thiệp tái thông mạch máu nào được lựa
chọn cũng phải cắt bỏ rộng rãi mô tổn thương xung quanh mạch máu (huyết
khối, động mạch chủ và các mô xung quanh). Sử dụng thiết bị thu hồi lại máu
chống chỉ định trong các trường hợp nhiễm khuẩn . Cuối cùng có thể phải đặt
hệ thống dẫn lưu và kháng sinh rửa.
a. Ghép đoạn động mạch tại chỗ.
Ghép đoạn động mạch tại chỗ được chỉ định trong các trường hợp phồng
động mạch chủ nhiễm trùng trên thận và động mạch chủ ngực – bụng. Thực
tế, những khó khăn về kỹ thuật trong việc tái lập các động mạch tạng, không cho
phép bắc cầu động mạch ngoài giải phẫu . Ở động mạch chủ bụng dưới thận,
ghép đoạn động mạch tại chỗ được xem xét trong các trường hợp nhẹ (không có
mủ, dấu hiệu viêm tại chỗ khu trú nhẹ) nếu không nguy cơ nhiễm trùng thứ phát
là rất cao Phồng động mạch chủ hình túi giới hạn rõ, không phồng động mạch
chủ liền kề có thể điều trị bằng một miếng vá. Trong các trường hợp khác, người
ta thực hiện bắc cầu động mạch ngoài giải phẫu.
+ Một vài điểm về kỹ thuật mổ ghép đoạn động mạch tại chỗ:
- Mê nội khí quản, đặt sonde bàng quang, sonde dạ dày.

23
điều này làm giảm thời gian thiếu máu chi, có thể thực hiện cầu động mạch
ngực – đùi hoặc nách – đùi bằng đường ngoài phúc mạc hoặc giữa 2 động
mạch đùi, hậu phẫu sẽ nhẹ nhàng hơn. Lần mổ thứ hai, cắt lọc rộng rãi mô
nhiễm trùng xung quanh động mạch và đóng cẩn thận gộc động mạch.
Biến chứng của kỹ thuật này cũng đã được biết đến, đó là thiếu máu đại
tràng và vùng chậu, nhiễm khuẩn mảnh ghép và huyết khối cầu động mạch.
Trên tạp chí y học (1983-1991), Hayes và cộng sự thông báo tỷ lệ cắt cụt là
19 - 27 % . Trong một nghiên cứu hồi cứu trên một nhóm 55 bệnh nhân
(1992-1998) , tỷ lệ cắt cụt sau bắc cầu động mạch đùi – đùi là 5 %. Kết quả
này tương đương với ghép đoạn động mạch tại chỗ
1.3.6.3 Điều trị nội mạch.
Các tài liệu báo cáo một số ít trường hợp bệnh nhân phồng động mạch
chủ nhiễm trùng được điều trị bằng phương pháp nội mạch. Số lượng bệnh
nhân ít và chưa được tổng hợp lại nên chưa thể đưa ra kết luận rõ ràng, tuy
nhiên đây là một hướng cần nghiên cứu.
1.4 MẠCH NHÂN TẠO SỬ DỤNG CHO PHẪU THUẬT PĐMC BỤNG
– CHẬU DƯỚI THẬN
1.4.1 Đặc điểm những mạch nhân tạo không tráng bạc và mạch tự thân
Những vật liệu thường dùng như: Dacron, PTFE, mạch ghép được bảo
quản lạnh và ghép bằng đoạn tĩnh mạch tự thân . Những nghiên cứu trên động
vật cho thấy sự đề kháng vi khuẩn cao của PTFE nhưng chưa có một nghiên
cứu lâm sàng nào khẳng định điều đó. Đối với mạch nhân tạo có tẩm kháng
sinh, chưa có thử nghiệm lâm sàng nào xác nhận kết quả đó ,. Ngược lại,
mạch ghép bảo quản lạnh cho thấy sức đề kháng tốt hơn đối với vi khuẩn cả
trong phòng thí nghiệm cũng như những nghiên cứu trên lâm sàng ,,. Việc sử
dụng vật liệu này còn hạn chế bởi sự kém phổ biến trên thị trường hoặc bệnh
nhân có lỗ rò động mạch – ruột mà theo một số tác giả đây là chống chỉ định.
24
Ngoài ra sự phát triển lâu dài vật liệu này còn không rõ ràng và việc sử dụng

Các nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng sự tương tương tác của các ion Ag
với nhóm enzym và protein thiol có vai trò quan trọng trong tiến trình thoái
hóa các vi khuẩn, mặc dù thành phần tế bào khác cũng có thể xẩy ra. Khả
năng diệt virus của bạc cũng có thể được giả thích bởi sự kết hợp vơi nhóm

Trích đoạn Kết quả xột nghiệm vi khuẩn: cấy huyết khối, thành động mạch và mụ xung
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status