BỆNH LÝ TĨNH MẠCH
BS Lê Phi Long
Thuật ngữ Suy tónh mạch mạn tính mô tả tình trạng suy yếu và mất chức năng của hệ
thống tónh mạch mà cơ thể không thể tự điều chỉnh được. Nguyên nhân chính xác của
tình trạng trên vẫn chưa được biết rõ ràng.
Giải phẫu hệ thống tónh mạch chi dưới
Về mặt giải phẫu, hệ thống tónh mạch chi dưới có thể chia làm hai loại: hệ nông và hệ
sâu. Hệ tónh mạch nông còn gọi là các tónh mạch nằm ngoài cân, nằm ngoài lớp cân có
khả năng đàn hồi ( bản chất là lớp mô liên kết bao quanh các bó cơ ). Hệ tónh mạch
sâu nằm dưới cân cơ này.
Một hệ thống các tónh mạch khác thông nối giữa hệ tónh mạch nông và tónh mạch sâu,
đi xuyên qua cân cơ, còn gọi là hệ tónh mạch xuyên. Có ba vò trí tónh mạch xuyên
thông thường, theo vò trí giải phẫu là tónh mạch xuyên Dodd, tónh mạch xuyên Boyd và
TM xuyên Cockett.
Nguyên lý hoạt động của hệ tónh mạch chi dưới
Hệ tónh mạch chân có 2 chức năng chính:
- Đưa máu tónh mạch về tim.
- Điều hòa lượng máu bằng cách lưu trữ hay nhả lại máu vào hệ tuần hòan.
Chức năng điều hòa nhiệt độ của hệ tónh mạch không được bàn ở đây.
Câu hỏi đặt ra là bằng cách nào mà máu có thể được đưa về tim, trong khi chúng ta
thường phải ở tư thế đứng và máu phải được bơm ngược theo trọng lực qua một khoảng
cách hơn 1 mét. Cơ chế thứ nhất là nhờ sự lực hút do co bóp của tâm nhó Phải. Cơ chế
thứ hai là nhờ áp lực âm hút của lồng ngực khi hít thở. Máu cũng được đưa hướng về
tim nhờ tác dụng “ vắt cam” của các cơ lòng bàn chân khi chúng ta đi lại, được gọi là
cơ chế bơm đẩy của gan chân. Tuy nhiên cơ chế quan trọng nhất để bảo đảm cho máu
về tim là nhờ có tác dụng bơm của khối cơ cẳng chân. Khi khối cơ cẳng chân co bóp,
nó có tác dụng như một cái bơm, bóp máu về tim. Khi khối cơ này nghỉ, nhờ có các
van tónh mạch, máu không bò trào ngược trở lại về phía ngoại vi, bảo đảm cho máu
luôn lưu thông theo một chiều hướng tâm, bất chấp áp lực dương gây ra khi có sự co cơ
bụng, khi rặn, khi ho hoặc khi đi lại.
càng trầm trọng. Hậu quả của tình trạng tắc nghẽn này cũng sẽ tương tự như trường
hợp suy yếu các van.
Tình trạng suy tónh mạch mạn tính dẫn tới hậu quả là làm xáo trộn sự trao đổi chất
giữa mao mạch và mô, gây ra hiện tượng thoát dòch khỏi lòng mạch, làm phù chân,
gây ra sự ứng đọng các sản phẩm chuyển hóa tại mô da và dưới da, lâu dần có thể dẫn
tới thay đổi dinh dưỡng tại da, gây ra chàm và loét tónh mạch.
Nguyên nhân sinh bệnh của huyết khối
Có ba yếu tố quyết đònh trong sự thành lập huyết khối, còn gọi là bộ ba bệnh lý
Virchow:
- Tổn thương thành mạch máu.
- Dòng máu lưu thông chậm lại.
- Tình trạng tăng đông.
Tại vò trí thành mạch bò tổn thương do viêm, do chấn thương, do dò ứng… tiểu cầu sẽ
đến tụ lại, dính lên thành mạch tạo thành cục huyết khối trắng. Khi huyết khối trắng
này chứa thêm các hồng cầu trong lòng, sẽ tạo lập cục huyết khối đỏ. Cũng có những
mảng huyết khối chứa các lớp huyết khối trắng và đỏ xen kẽ nhau. Số phận của cục
huyết khối sau đó sẽ phụ thuộc vào tình trạng dòng máu tại sang thương. Dòng máu
chảy chậm lại sẽ làm tăng độ nhớt máu, tạo điều kiện để tạo lập huyết khối lớn thêm.
Cần phân biệt rõ hai thuật ngữ: viêm tónh mạch huyết khối (thrombophlebitis) và huyết
khối tónh mạch ( venous thrombosis). Viêm tónh mạch huyết khối là tình trạng viêm
của cả ba lớp thành mạch dẫn đến sự tạo lập huyết khối, thường xảy ra tại các tónh
mạch nông dưới da ở cùng thấp của cẳng chân. Thông thường, viêm TM nông huyết
khối này ít dẫn tới các biến chứng cấp tính hay mạn tính về sau. Điều trò bằng cách
rạch lấy huyết khối trong giai đoạn sớm.
Ngược lại trong huyết khối tónh mạch, các tónh mạch sâu bò tắc do có hiện diện của cục
huyết khối, mà thường không có biểu hiện tình trạng viêm. Huyết khối tónh mạch sâu
- Cải thiện tình trạng trao đổi chất giữa mao mạch và mô.
Trong giai đoạn khởi đầu, trò liệu với áp lực nên được tiến hành với băng cuốn áp lực.
Trong những giai đoạn về sau, hoặc khi ngăn ngừa hay khi có tái phát, bệnh nhân chỉ
cần mang vớ áp lực là đủ. Như một quy luật, băng cuốn áp lực dùng trong những
trường hợp cấp tính trong khi mang vớ áp lực giúp duy trì và ngăn ngừa. Người bệnh
cần hạn chế đứng và ngồi lâu, mà thay vào đó là nên nằm hay đi lại nhiều hơn.