Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế hộ tại xã Tú Xuyên – Huyện Văn Quan – Tỉnh Lạng Sơn - Pdf 19

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Diễn giải
BQ Bình quân
BQLĐ Bình quân lao động
BQNNK Bình quân nhân khẩu
CC
Cơ cấu
CNH – HĐH
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
CN – TNCN
Công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp
GO
Tổng giá trị sản xuất
GTSX
Giá trị sản xuất
GTSXNN
Giá trị sản xuất nông nghiệp
KT – XH
Kinh tế xã hội

Lao động
LĐNN
Lao động nông nghiệp
NK
Nhân khẩu
NKNN
Nhân khẩu nông nghiệp
NN
Nông nghiệp
SL

cần được giải quyết đó là:
Sản xuất trong kinh tế hộ hiện nay chủ yếu là họat động sản xuất nông
nghiệp, yêu cầu ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất bị kìm hãm bởi diện
tích đất manh mún và quy mô nhỏ lẻ do kết quả của việc chia đất bình quân.
1
Mâu thuẫn giữa tăng dân số và thiếu việc làm, kết hợp với tính thời vụ
trong nông nghiệp tạo ra hiện tượng dư thừa lao động, dẫn đến năng suất lao
động bình quân thấp.
Tình trạng thiếu kiến thức, thiếu vốn đầu tư đang là tình trạng chung
của các hộ gia đình nên khi có chính sách cho vay vốn hộ cũng không biết sử
dụng sao cho có hiệu quả.
Những khó khăn này tồn taị chủ yếu ở các tỉnh miền núi, các vùng dân
tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa,…đã gây nhiều trở ngại cho tiến trình phát
triển của đất nước.
Tú Xuyên là một xã miền núi thuộc Huyện Văn Quan – Tỉnh Lạng Sơn
nền sản xuất của xã nói chung vẫn là dựa vào nông nghiệp. Kinh tế nông
nghiệp nói chung và kinh tế hộ của xã nói riêng đang phát triển theo đà phát
triển chung của cả nước nhưng nó cũng không tránh khỏi những mâu thuẫn
tồn tại cần được giải quyết.
Tú Xuyên là một xã miền núi, đất đai rộng lớn chủ yếu là đất đồi núi,
trình độ sản xuất thấp, việc khai thác và sử dụng các nguồn lực của hộ nông
dân vẫn còn chưa tốt.
Vấn đề phát triển kinh tế hộ nông dân đang được cấp ủy Đảng, chính
quyền, đoàn thể các ngành và các nhà khoa học quan tâm. Những vấn đề cần
làm rõ là: Hiện trạng kinh tế hộ nông dân xã Tú Xuyên- Huyện Văn Quan-
Tỉnh Lạng Sơn ra sao? Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ
nông dân? Đó là một số vấn đề đặt ra cần nghiên cứu giải quyết.
Xuất phát từ thực trạng trên em xin tiến hành nghiên cứu đề tài:”Thực
trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế hộ tại xã Tú Xuyên –
Huyện Văn Quan – Tỉnh Lạng Sơn”.

1.1. Cơ sở lý luận của đối tượng
1.1.1. Một số khái niệm về hộ, hộ nông dân và kinh tế hộ
Hộ nông dân đã có và tồn tại từ rất lâu đời, nó gắn liền với sự tồn tại
của xã hội loài người và trải qua nhiều hình thức khác nhau. Nó là một trong
những đối tượng được các nhà khoa học, các tổ chức trên các lĩnh vực khác
nhau quan tâm. Đứng ở mỗi góc độ khác nhau, họ đưa ra những quan điểm
khác nhau về hộ.
1.1.1.1. Khái niệm hộ
Trên phương diện thống kê, Liên Hợp Quốc cho rằng:”Hộ là tất cả
những người sống chung một mái nhà, cùng ăn chung và cùng chung một
ngân quỹ”.
Theo Raul Hunnena giáo sư đại học tổng hợp Lisbon thì :”Hộ là những
người cùng chung một huyết tộc, có quan hệ mật thiết với nhau trong quá
trình sáng tạo ra sản phẩm để bảo tồn chính bản thân và cộng đồng”.
1.1.1.2. Khái niệm về hộ nông dân
“Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai
trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để
sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc
trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động
với mức độ không hoàn chỉnh cao”. [3]
“Nông hộ là tế bào kinh tế của xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong
nông nghiệp và nông thôn”. [7]
“Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa
rộng bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông
thôn”. [8]
“Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường
xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi,
dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật,…)
và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”. [2]
1.1.1.3. Khái niệm kinh tế hộ nông dân

5
1.1.2. Vai trò của kinh tế hộ
Kinh tế hộ đã có từ lâu đời cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triển.
Trải qua mỗi thời kì lịch sử khác nhau thì kinh tế hộ biểu hiện dưới nhiều
hình thức khác nhau, càng ngày nó càng khẳng định được tầm quan trọng và
vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân.
Kinh tế hộ là tế bào của xã hội, sự phát triển của nó giúp nâng cao đời
sống của người dân và góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước.
Kinh tế hộ đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần đổi mới công
nghệ sản xuất. Hộ là nơi tích lũy kinh nghiệm sản xuất truyền thống cũng là
nơi áp dụng công nghệ mới vào sản xuất. Khi chuyển sang sản xuất hàng hóa,
xuất hiện cạnh tranh thị trường, hộ buộc phải đổi mới công nghệ nhằm tạo ra
sản phẩm có chất lượng tốt hơn với giá thành rẻ hơn. Việc đổi mới công nghệ
trước hết phải nhằm khai thác tốt kinh nghiệm truyền thống từ lâu đời.
1.1.3. Đặc trưng của kinh tế hộ
- Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu, quá trình quản lý và sử
dụng các yếu tố sản xuất. Sở hữu trong nông hộ là sở hữu chung, nghĩa là mọi
thành viên trong hộ đều có quyền sở hữu với những tư liệu sản xuất vốn có,
cũng như các tài sản khác của hộ.Mặt khác dựa trên cơ sở kinh tế chung và có
cùng chung ngân quỹ nên mọi người trong hộ đều có ý thức trách nhiệm rất
cao và việc bố trí sắp xếp công việc cũng rất linh hoạt, hợp lý. Từ đó dẫn đến
hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nông hộ rất cao.
- Kinh tế hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh rất cao. Do kinh tế
hộ có quy mô nhỏ nên dễ điều chỉnh hơn so với các doanh nghiệp nông
nghiệp khác. Nếu gặp điều kiện thuận lợi hộ có thể tập trung mọi nguồn lực
vào sản xuất để mở rộng sản xuất, khi gặp điều kiện bất lợi họ dễ dàng thu
hẹp quy mô, thậm chí hộ có thể trở về sản xuất tự cung, tự cấp.
- Có sự gắn bó chặt chẽ giữa kết quả sản xuất với lợi ích người lao
động. Trong kinh tế hộ mọi người gắn bó với nhau cả trên cơ sở kinh tế lẫn
huyết tộc và có chung ngân quỹ nên dễ dàng có được sự nhất trí, sự đồng tâm

hình kinh tế mang đặc trưng của mô hình kinh tế trang trại.
Trên đây là các nhóm hộ thuần nông. Các hộ có thu nhập chủ yếu từ
ngành trồng trọt và chăn nuôi. Đặc trưng của các hộ này là chịu ảnh hưởng
lớn của điều kiện tự nhiên. Ngoài các hộ thuần nông còn có hộ kiêm ngành
7
nghề, dịch vụ đây là những hộ ngoià sản xuất nông nghiệp còn biết tận dụng
những cái có sẵn của ông cha để lại như ngành nghề truyền thồng được kế
thừa từ đời này sang đời khác nhằm nâng cao thu nhập cho gia đình và tận
dụng lao động lúc nông nhàn ở nông thôn. Vì vậy, loại hình này có vốn để
đầu tư cho sản xuất kinh doanh và có kiến thức về thị trường.
1.1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ
1.1.5.1. Nhóm yếu tố thuộc điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý và đất đai
Vị trí địa lý có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và sự phát
triển của kinh tế hộ nông dân. Những hộ nông dân có vị trí địa lý thuận lợi
như: Gần đường giao thông, gần các cơ sở chế biến nông sản, gần thị trường
tiêu thụ sản phẩm, gần trung tâm các khu công nghiệp, đô thị lớn…sẽ có điều
kiện phát triển kinh tế.
Sản xuất chủ yếu của hộ nông dân là nông nghiệp. Đất đai là yếu tố
quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ nông dân. Cuộc sống của họ
gắn liền với ruộng đất. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay
thế trong quá trình sản xuất. Do vậy quy mô đất đai, địa hình và tính chất
nông hóa thổ nhưỡng có liên quan mật thiết tới từng loại nông sản phẩm, tới
giá trị sản phẩm và lợi nhuận thu được.
- Khí hậu thời tiết và môi trường sinh thái
Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Điều
kiện thời tiết, khí hậu, lượng mưa, nhiệt độ, ánh sáng… có mối quan hệ chặt
chẽ đến sự hình thành và sử dụng các loại đất. Thực tế cho thấy ở những nơi
khí hậu thời tiết khí hậu thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi sẽ hạn chế những
bất lợi và rủi ro, có cơ hội để phát triển kinh tế.

phảm tốt hơn. Do đó, công cụ sản xuất có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả và
hiệu quả sản xuất của các nông hộ.
- Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng chủ yếu trong nông nghiệp nông thôn bao gồm: Đường
giao thông, hệ thống thủy lợi, hệ thống điện, nhà xưởng, trang thiết bị nông
nghiệp… Đấy là những yếu tố quan trọng trong phát triến sản xuất kinh tế của
9
hộ nông dân. Thực tế cho thấy nơi nào cơ sở hạ tầng phát triển thì ở đó sản xuất
phát triển, thu nhập tăng, đời sống của người dân được ổn định và cải thiện.
- Thị trường
Nhu cầu thị trường sẽ quyết định hộ sản xuất sản phẩm gì? Với số
lượng là bao nhiêu? Và theo tiêu chuẩn chất lượng như thế nào? Trong cơ chế
thị trường, các hộ nông dân hoàn toàn tự do lựa chọn loại sản phẩm mà thị
trường cần trong điều kiện sản xuất của họ. Từ đó, kinh tế hộ nông dân mới
có điều kiện phát triển.
1.1.5.3. Nhóm nhân tố thuộc khoa học kỹ thuật và công nghệ
- Kỹ thuật canh tác
Do điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng là khác nhau, với yêu
cầu giống cây, con giống khác nhau đòi hỏi phải có kĩ thuật canh tác khác nhau.
Trong nông nghiệp, tập quán, kỹ thuật canh tác của từng vùng, từng địa phương
có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế hộ.
- Ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ
Sản xuất của hộ nông dân không thế tách rời những tiến bộ khoa học kỹ
thuật. Vì nó đã tạo ra cây trồng vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt.
Thực tế cho thấy những hộ nhạy cảm với những tiến bộ kĩ thuật về giống,
công nghệ sản xuất, hiểu biết thị trường, dám đầu tư lớn và chấp nhận những
rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, họ giàu lên rất nhanh. Nhờ có công nghệ
mà các yếu tố sản xuất như lao động, đất đai, sinh vật, máy móc và thời tiết
khí hậu kết hợp với nhau để tạo ra sản phẩm nông nghiệp. Như vậy, ứng dụng
các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp có tác dụng thúc đẩy sản

QĐsố
1143/2000/QĐ
–LĐTBXH
Dưới 150 Dưới 100
Năm 2006-
2010
QĐ số
170/2005/QĐ –
TTg
Dưới 260 Dưới 200
Năm 2011 –
2015
QĐ số
09/2011/QĐ –
TTg
Dưới 500 Dưới 400
501 - 650 401 - 520
Căn cứ vào quyết định ban hành chuẩn hộ nghèo, cận nghèo trên đồng
thời kết hợp với tiêu chí xét hộ nghèo ở xã Tú Xuyên, chia các hộ ra làm 3
nhóm như sau:
- Nhóm hộ khá-giàu: Là những hộ có mức thu nhập bình quân
520.000đ/người/tháng trở lên.
- Nhóm hộ trung bình: Là những hộ có mức thu nhập bình quân từ
401.000 - 520.000đ/người/tháng.
- Nhóm hộ nghèo: Là những hộ có mức thu nhập bình quân dưới
400.000/người/tháng.
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
11
1.2.1. Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ ở thế giới
* Thái Lan

phủ Malaysia cũng trú trọng việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu nông sản.
Nhờ đó một vài năm gần đây kinh tế hộ của người dân nước này có thu nhập
cao và ổn định.
Trung Quốc:
Trung Quốc là một nước đông dân nhất thế giới với hơn 1,3 tỷ dân.
Chính vì vậy kinh tế hộ được chính phủ quan tâm hàng đầu. Trong 15 năm trở
lại đây kinh tế nông nghiệp và nông thôn đã đạt được nhiều thành tựu to lớn.
Để đạt đực những thành tựu đó Trung Quốc đã đặc biệt coi trọng kinh tế hộ
với 3 mũi nhọn cơ bản đó là: Dựa vào đầu tư, chính sách, khoa học kĩ thuật.
+ Về chính sách: Chính phủ Trung Quốc đã tiến hành giao quyền sử
dụng đất lâu dài cho hộ nông dân. Tiếp sau đó là chính sách khuyến khích mở
rộng ngành nghề dịch vụ, phát triển hàng hóa, khuyến khích các thành phần
kinh tế trong nông thôn cùng phát triển.
+ Về đầu tư: Đầu tiên là việc tiến hành nâng cấp cơ sở vật chất kĩ
thuật. Bên cạnh đó còn tăng cường đầu tư tài chính, mở nhiều hình thức tín
dụng để nông hộ có điều kiện vay vốn phát triển sản xuất.
+ Về chuyển giao khoa học kỹ thuật:
Việc kết hợp khoa học kỹ thuật với tiềm năng kinh tế đã huy động và tận
dụng mọi năng lực sẵn có trong dân đặc biệt là nguồn vốn tự bỏ ra để không
ngừng nâng cao mức sống của hộ và xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa.
Trên đây là những kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ ở một số nước
trong khu vực có điều kiện tự nhiên gần giống với nước ta. Qua việc tìm hiểu.
Xem xét những kinh nghiệm đó chúng ta có thể tìm thấy những bài học quý
giá, đồng thời xác định được sự khác biệt về đặc điểm kinh tế xã hội riêng của
nước mình để đưa ra những chủ trương, đường lối phát triển sao cho phù hợp.
1.2.2. Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ ở một số địa phương trong nước
- Ninh Bình:
Hội nông dân Ninh Bình đang thực hiện nhiều phương thức giúp người
nông dân phát triển kinh tế hộ: hỗ trợ vốn cho nông dân thông qua quỹ hỗ trợ
nông dân của các cấp hội, phối hợp với ngân hàng chính sách xã hội , Ngân

giới hóa và tiến bộ khoa họckĩ thuật vào sản xuất nông nghiệp, kìm hãm tiến
trình sản xuất nông nghiệp hàng hóa cũng như tiêu thụ nông sản theo hợp
14
đồng. Chính vì thế, để phát huy những thành tựu đã đạt được sau khi dồn thửa
đổi ruộng năm 2003 cũng như khắc phục những hạn chế trong quá trình
chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tiến đến xây dựng nền nông nghiệp phát triển
bền vững. Định hướng đến năm 2020, Ban thường vụ tỉnh ủy chỉ đạo tiếp tục
thực hiện dồn thửa đổi ruộng, khuyến khích tích tụ đất đai trên cơ sở thỏa
thuận, góp vốn bằng đất để sản xuất nông nghiệp theo đúng pháp luật. Cùng
với đó, tỉnh ban hành nhiều cơ chế, chính sách đồng bộ hỗ trợ cho chủ có
ruộng đất phát huy được tư liệu sản xuất. Lối mở này đang mở ra tương lai tốt
đẹp hơn cho lĩnh vực sản xuất nông nghiệp của tỉnh, thêm cơ hội làm giàu và
từng bước giải phóng sức lao động cho người nông dân.
1.2.3. Xu hướng phát triển kinh tế nông hộ ở nước ta
Theo quy luật tất yếu của mọi sự vật hiện tượng thì nhu cầu của con
người ngày càng tăng trong khi đó nguồn lực sản xuất thì có giới hạn đặc biệt
là đất đai. Vì thế trong cơ chế kinh tế mới, nông nghiệp nông thôn sẽ phải có
những bước đi mới. Hiện nay ở nông thôn quá trình chuyển quyền sử dụng
đất và tích tụ đất dang diễn ra và dần diễn ra ở quy mô càng lớn hơn.Việc tích
tụ ruộng đất tạo điều kiện thuận lợi cho việc cơ giới hóa trong việc sản xuất
nông nghiệp, tiến tới một nền sản xuất hàng hóa với quy mô lớn. Cùng với xu
hướng chung của nền kinh tế nông nghiệp, để khẳng định mình kinh tế hộ có
thể phát triển theo 2 xu hướng sau:
+ Xu hướng 1: Một bộ phận nông dân sẽ trở thành các chủ thể sản xuất
kinh doanh độc lập, sẵn sàng chuyển từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng
hóa. Kết quả của quá trình tích tụ ruộng đất sẽ dẫn đến sự hình thành các
trang trại nông nghiệp, các trang trại này sẽ có điều kiện đầu tư tiến bộ khoa
học, kĩ thuật mới, đầu tư vốn đem lại lợi nhuận cao, đưa nền nông nghiệp
nước ta sang một giai đoạn mới.
+ Xu hướng 2: Một bộ phận nông hộ còn lại sau khi thực hiện quá trình

liên tục, giao thông khó khăn, vốn ít nên gây khó khăn trong việc mua giá
thấp với khối lượng lớn(mua buôn), mua lẻ thì giá lại rất cao, thiếu những nhà
cung cấp tin cậy và ổn định và còn thiếu cả thông tin để có cơ hội lựa chọn
phương án tối ưu. Vì thế, để thúc đẩy kinh tế hộ nông dân phát triển, nhà
16
nước cần có chế độ chính sách hỗ trợ cho người nông dân về giá vật tư nông
nghiệp và thông tin về nhu cầu của thị trường.
Từ thực tế cho thấy để phát triển kinh tế hộ nông dân bền vững và có
hiệu quả cao cần phát triển theo chiều sâu, trên cơ sở phát triển khoa học nông
nghiệp, những tiến bộ kỹ thuật mới, nhất là lĩnh vực ứng dụng công nghệ sinh
hoc, công nghệ thông tin trong lựa chọn và tạo giống.
Cần phá vỡ tính tự phát trong sản xuất trong sản xuất nông nghiệp của
người nông dân, để làm được điều này nhà nước cần định hướng, hõ trợ, tư
vấn cho người nông dân trong phát triển kinh tế nông hộ.
Đối với xã Tú Xuyên:
Xã Tú Xuyên là một xã thuộc khu vực miền núi, so với các xã khác về
điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn thách thức về thiên tai , hạn hán lũ
lụt bất thường, mùa đông rét đậm rét hại kéo dài. Nhưng trên tinh thần đó,
được sự quan tâm của cấp ủy đảng, sự giám sát của hội đồng nhân dân cùng
với sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể cán bộ và nhân dân trên địa bàn xã đã đạt
được một số chỉ tiêu về phát triển kinh tế xã hội, giữ vững an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội kinh tế tiếp tục phát triển và đời sống của người dân
từng bước được nâng lên, các vấn đề xã hội được giải quyết kịp thời. Tuy
nhiên, bên cạnh những mặt đã đạt được vẫn còn tồn tại những mặt yếu kém
như cơ sở hạ tầng nông thôn còn thấp kém , tỷ lệ hộ nghèo còn cao nên còn
ảnh hưởng nhiều về nền kinh tế - xã hội và mọi lĩnh vực liên quan đến sản
xuất. Để phá vỡ được tính tự phát trong sản xuất của người nông dân hạn chế
được những bất lợi cho các hộ nông dân, giá chi phí lên cao liên tục lại thiếu
những nhà cung cấp tin cậy và ổn định, thiếu thông tin để có cơ hội lựa chọn
tối ưu. Vì giao thông khó khăn, nguồn vốn có ít, việc bán sản phẩm với khối

bàn xã Tú Xuyên - Huyện Văn Quan- Tỉnh Lạng Sơn.
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu kinh tế hộ gia đình tại xã Tú Xuyên – Huyện Văn Quan –
Tỉnh Lạng Sơn.
2.1.2.1. Không gian
Đối tượng nghiên cứu 3 thôn: Bó Cáng, Hang Nà, Lũng Cải thuộc xã
Tú Xuyên mang những đặc trưng đại diện cho xã.
2.1.2.2. Thời gian
- Đề tài tập trung nghiên cứu, thu thập số liệu về sự phát triển kinh tế
hộ từ năm 2011-2013, số liệu khảo sát thực trạng được điều tra năm 2013.
- Thực tập từ tháng 2/2014 đến tháng 5/2014
2.2. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng tình hình phát triển kinh tế của các hộ tại
xã Tú Xuyên.
- Đánh giá quá trình sản xuất kinh doanh của các nhóm hộ điều tra.
- So sánh các nguồn lực và mức độ đầu tư giữa các hộ.
- Phân tích những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến sự phát triển
của hộ nông dân.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân tại
địa phương.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu
2.3.1.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Tài liệu thu thập được từ ủy ban nhân dân xã Tú Xuyên, các tổ chức xã
hội trong xã, các công trình khoa học, các báo cáo của cơ quan chức năng về
mặt dân số, lao động, đất đai, vốn và kết quả sản xuất kinh doanh. Tình hình
19
hộ nông dân như sản xuất, đời sống, nguồn vốn, việc làm, mở rộng ngành
nghề phi nông nghiệp, nhà ở, trình độ văn hóa,…
Thu thập số liệu từ các báo cáo tổng kết năm của UBND xã Tú Xuyên

cán bộ viên chức,
làm nông nghiệp
kiêm ngành nghề
như sửa chữa và
kinh doanh.
Kết quả chọn hộ: Toàn xã có 625 hộ trong đó tỷ lệ hộ nghèo chiếm
34,56%, cận nghèo chiếm 31,52%, trung bình chiếm 21,76% và 12,16% hộ
khá. Dựa vào đó tôi chọn 60 hộ điều tra tương ứng với 3 thôn mang tính đại
diện cho xã dựa trên tỷ lệ nhóm hộ khá, trung bình, cận nghèo và nghèo của
xã. Số lượng hộ điều tra bao gồm 8 hộ khá, 14 hộ trung bình, 18 hộ cận nghèo
và 20 hộ nghèo.
20
- Xây dựng phiếu điều tra: Phiếu điều tra được xây dựng cho hộ điều
tra, nội dung của phiếu điều tra bao gồm những thông tin chủ yếu về tên giới
tính, dân tộc, trình độ học vấn, tình hình hoạt động sản xuất, giá cả và đời
sống cũng như nhận thức của hộ…
+ Phương pháp PRA
Trực tiếp tiếp xúc với người dân tại địa bàn nghiên cứu đặt ra những
câu hỏi, những vấn đề người dân quan tâm từ đó tiến hành đàm thoại, phỏng
vấn nhằm thu những thông tin, nắm được thực trạng của sản xuất, kinh doanh,
đời sống vật chất tinh thần, những khó khăn và nhu cầu của người dân.
+ Phân tích SWOT
Xác định những thuận lợi và khó khăn bằng cách phân tích những ảnh
hưởng bên trong (mặt mạnh, mặt yếu) và những ảnh hưởng bên ngoài (cơ hội,
thách thức) mà nó tác động đến quá trình phát triển.
2.3.2. Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
Từ các nguồn số liệu điều tra thu thập được trên địa bàn nghiên cứu, tôi
tiến hành tổng hợp, xử lý và phân tích số liệu.
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá và tổng hợp, phương
pháp so sánh.

động sản xuất hàng hóa và dịch vụ mà những người lao động của hộ làm ra.
Giá trị gia tăng/người/tháng: Chỉ số phản ánh mức thu nhập của hộ
trong năm.
Giá trị tích lũy của hộ: Là chỉ số phản ánh giá trị tích lũy được của hộ
sau khi đã trừ đi chi phí sản xuất và sinh hoạt.
Công thức tính:
Giá trị tích lũy= VA-chi phí sinh hoạt
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm chung về địa bàn nghiên cứu
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status