Thái độ thực chất của Cao Bá Nhạ đối với Cao Bá Quát qua "Tự tình khúc" và "Trần tình văn" - Pdf 19

Thái độ thực chất của Cao Bá
Nhạ đối với Cao Bá Quát qua "Tự
tình khúc" và "Trần tình văn" Trong lịch sử phong kiến Việt Nam từng có nhiều vụ án phải tội tru di tam tộc nhưng
có lẽ kinh hoàng nhất, chấn động đời sống tinh thần xã hội lâu dài và đau thương nhất là vụ
án Lệ Chi Viên - dưới thời Lê Thái Tông (1442). Gia đình quan đại thần Nguyễn Trãi phải
chịu hình phạt oan khốc tru di ba họ, kèm theo đó là cả một sự hủy diệt tàn bạo đối với toàn
bộ di sản tinh thần của dòng họ này nói chung cũng như của thi hào Nguyễn Trãi nói riêng.
Thứ hai là vụ án tru di tam tộc họ Cao ở Phú Thị, Gia Lâm dưới triều Tự Đức (1855) mà hệ
quả của nó cũng không khác gì thông lệ: “tang tóc ngập xứ Bắc” (Trần Ngọc) và toàn bộ
trước tác của Chu Thần Cao Bá Quát cũng như của dòng tộc văn chương này đều bị tịch thu
tiêu hủy. Tuy nhiên, từ nỗi oan khuất tột cùng này, có một nho sĩ họ Cao đã kịp để lại cho hậu
thế 27 bài thơ chữ Hán và hai văn liệu tuyệt vời: Tự tình khúc (Nôm) và Trần tình
văn (Hán) - mà bất cứ ai được đọc đều không thể không cùng ông khổ đau, cảm thông, bi
phẫn. Ông là Cao Bá Nhạ.
Cao Bá Nhạ gọi Cao Bá Quát là chú ruột (Cha ông là Cao Bá Đạt, anh em sinh đôi với
Cao Bá Quát). Thân phụ hai ông là Cao Huy Giảng mong muốn đến tuổi trưởng thành các
con mình sẽ công thành danh toại, trở nên rường cột của nhà nước phong kiến phụng sự
Triều đình, nên đã dựa vào thiên Vi tử trong sách Luận ngữ, lấy tên của hai hiền sĩ đời Chu -
cũng là một trong bốn cặp sinh đôi - để đặt tên cho các con. Tuy nhiên hai anh em song sinh
này là hai tính cách trái ngược. Cùng chịu sự dạy dỗ giáo dưỡng phẩm hạnh theo khuôn
thước đạo đức Nho giáo nhưng Cao Bá Đạt thì hiền lành, mô phạm, còn em trai, trái lại cao
ngạo, khảng khái và ưa hoạt động. Năm Minh Mệnh thứ 15 (1834), Cao Bá Đạt đỗ Cử nhân,
được bổ làm Tri huyện Nông Cống (Thanh Hóa). Là vị quan chính sự nghiêm cẩn, tính cách
ôn hòa nên ông luôn được dân sở tại kính trọng. Tháng Mười năm 1854, vùng Sơn Tây bị
hạn nặng lại sinh dịch châu chấu hoành hành phá mùa màng. Đời sống nông dân khó khăn

lẫy lừng nhất vùng Phú Thị không thể không ám ảnh đau đáu trong sâu thẳm lòng ông.
Nhưng vì thời gian đã ngót mươi năm, cũng có lúc “Gối nhàn tạm chợp, mối phiền tạm
khuây” nên ông mới không di chuyển vợ con đi nơi khác, ông không muốn kinh động cuộc
sống bình lặng của họ - họ đâu có biết gì về cái quá khứ hãi hùng của ông. Cứ như thế, Cao
Bá Nhạ vừa day dứt vừa âm thầm hy vọng một ngày nào đó được nhà vua xuống chiếu ân xá
- hy vọng trong nỗi đau buồn thắc thỏm “thôi ngơ ngẩn sớm, lại trằn trọc khuya” mà không
thể chia sẻ cùng ai:
Mối tâm sự rối mười phần thảm,
Gánh gia tình nặng tám năm dư.
Khi ngày mong bức xá thư,
Khi đêm than bóng, khi trưa hỏi lòng.
Thế rồi, cái kết cục mà nhà thơ vẫn canh cánh lo sợ kia cũng trở thành hiện thực. Có
kẻ phát giác tố cáo, ông bị bắt, bị đày ải khắp các nhà lao ở Hà Nội, Hải Dương, Bắc Ninh:
- Nay phó xuống Đông Thành tạm trú,
Mai truyền sang Bắc Lộ ruổi ra.
Thân sao như gánh hàng hoa,
Sớm qua chợ sớm, chiều qua chợ chiều.
- Gông ba thước ai bày nên nợ,
Cũi một gian khéo giở ra trò.
Mới qua là kẻ văn nho,
Bỗng nay đổi dạng tù đồ, bởi đâu!
cuối cùng bị tống đi biệt xứ nơi rừng thiêng nước độc. Ông bỏ xác ở đâu, gia đình,
người thân kẻ sơ chẳng bao giờ biết được. Bởi thế, cái chi tiết bình thường nhất trong tiểu sử
một con người là năm sinh, năm mất ông cũng chẳng có
(3)
.
Khi bị bắt, Cao Bá Nhạ đã viết một bản Trần tình văn bằng chữ Hán (biền văn) gửi lên
Triều đình nhà Nguyễn xin ân xá và trong những ngày bị cầm tù ông đã sáng tác một khúc
ngâm song thất lục bát là Tự tình khúc bằng chữ Nôm. Tuy tác giả của hai văn phẩm này thì
“biệt tích” trong tâm trí mọi người song chẳng hiểu vì lý do gì tác phẩm của ông vẫn may

bằng. Người viết rơi vào cứng nhắc ở chỗ, đã khảo sát một cách cô lập và chỉ trên bề nổi
những phương diện, yếu tố khác nhau cấu thành tác phẩm của họ Cao, trong khi những
phương diện, yếu tố ấy không thể chỉ xem xét một cách đơn nhất hóa, cũng không thể lấy cái
nọ làm tiêu chí đánh giá cái kia. Có người còn nhìn nhận phiến diện các quan điểm tư tưởng
cũng như thái độ chính trị của nhà thơ trong tác phẩm mà bỏ qua hoàn toàn tiếng nói khách
quan toát lên từ phía sau những câu chữ, ngôn từ. Chẳng hạn, nhà khảo cứu Trần Ngọc khi
hiệu khảo Tự tình khúc, mặc dù hết sức ca ngợi cái hay, cái đẹp của tác phẩm vẫn buông lời
phê phán tư chất kẻ sĩ của Cao Bá Nhạ. Ông chê Cao Bá Nhạ vì quá ham sống, tha thiết xin
ân xá nên đánh mất “khí tiết của nhà nho”, lại “quá thổ lộ về thú ham sống của mình đến nỗi
đành quên cả tâm hồn nghĩa khí của họ Cao và quên cái án tru di thảm khốc xảy ra tám năm
trước”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status