LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập tại Học viện Quản lý Giáo dục, tôi đã tiếp thu
được nhiều kiến thức, kinh nghiệm quản lý quý báu về các vấn đề liên quan
đến quản lý thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo nhờ sự giảng dạy, giúp đỡ
nhiệt tình của các thầy, cô giáo của Học viện.
Với mong muốn được góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư trong lĩnh
vực giáo dục và đào tạo, tôi đã xây dựng và nghiên cứu đề tài “Biện pháp
quản lý đầu tư xây dựng cơ sở vật chất của Bộ KH&ĐT đối với các cơ sở
đào tạo Đại học và Cao đẳng giai đoạn 2012-2015” để làm luận văn tốt
nghiệp Thạc sỹ.
Với quyết tâm, nỗ lực cố gắng của bản thân và sự giúp đỡ, hướng dẫn
nhiệt tình của TS. Nguyễn Thị Mai Lan, hiện đang công tác tại Học viện
Khoa học Xã hội, tôi đã hoàn thành được bản Luận văn này.
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban
Giám đốc Học viện Quản lý Giáo dục, các thầy cô giáo tham gia giảng dạy tại
lớp Cao học K3C đã giúp đỡ, truyền thụ kiến thức, cơ sở khoa học để tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài này. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
TS. Nguyễn Thị Mai Lan đã tận tình hướng dẫn, truyền thụ kiến thức, phương
pháp nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành bản luận văn này.
Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài, mặc dù bản thân đã có
nhiều nỗ lực cố gắng, song do hạn chế về thời gian và kinh nghiệm nghiên
cứu nên nội dung đề tài khó tránh khỏi thiếu sót, kính mong các thầy giáo, cô
giáo trong Hội đồng khoa học, bạn bè - đồng nghiệp chỉ dẫn góp ý.
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 8 năm 2012
Nguyễn Thái Hùng
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 8
1. Lý do chọn đề tài 8
2. Mục đích nghiên cứu 10
nước ta trong 05 năm qua (2005-2010) 42
2.2.1. Thực trạng nguồn lực tài chính đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho các trường
cao đẳng và đại học 42
2.2.2. Đánh giá thực trạng nguồn lực tài chính đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho các
trường cao đẳng và đại học 51
2.3. Thực trạng quản lý đầu tư xây dựng cơ sở vật chất của Bộ kế hoạch đầu tư đối với
các trường cao đẳng và đại học 53
2.3.1. Tổ chức nghiên cứu thực trạng 53
2.3.2. Kết quả nghiên cứu thực trạng quản lý đầu tư xây dựng cơ sở vật chất của Bộ
Kế hoạch Đầu tư đối với các trường cao đẳng và đại học ở Việt Nam 55
2.3.3. Thực trạng quản lý việc xây dựng kế hoạch về đầu tư xây dựng cơ sở vật chất
cho các trường CĐ&ĐH của Bộ KH&ĐT 58
3
2.3.4. Quản lý việc xây dựng tổng mức và cơ cấu vốn đầu tư cho các trường CĐ&ĐH
của Bộ kế hoạch đầu tư 60
2.3.5. Quản lý việc tổng hợp phân bổ chi tiết vốn đầu tư trong cân đối ngân sách cho
các Bộ, ngành đối với việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho các trường CĐ&ĐH;61
2.3.6.Thực trạng quản lý việc kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả sư dụng vốn đầu
tư xây dựng cơ sở vật chất đối với các trường CĐ&ĐH 63
2.4. Đánh giá chung về kết quả đạt được trong quản lý đầu tư xây dựng cơ sở vật chất
của Bộ KH&ĐT đối với các trường CĐ&ĐH 64
2.4.1. Những thành công đã đạt được: 64
2.4.2. Những hạn chế: 66
2.5. Nguyên nhân của những thành công và hạn chế 67
2.6. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến các biện pháp quản lý đầu tư xây dựng cơ sở
vật chất của các trường CĐ&ĐH ở Việt Nam 68
Tiểu kết Chương 2 72
Chương 3
BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ
XÂY DỰNG CƠ SỞ VẬT CHẤT CỦA BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
4
cho các trường 89
3.4.4. Với biện pháp 4: Quản lý việc tăng cường công tác xã hội hoá về đầu tư xây
dụng cho các trường CĐ&ĐH ở nước ta hiện nay 89
3.4.5. Với Biện pháp 5: Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong lĩnh vực đầu tư
xây dựng cho các trường CĐ&ĐH ở nước ta hiện nay 89
Tiểu kết Chương 3 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92
1. Kết luận 92
2. Kiến nghị 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
5
DANH MỤC KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ KH&ĐT Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bộ GD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
CSVC cơ sở vật chất
CTMT chương trình mục tiêu
CTMTQG GD-ĐT Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và
đào tạo
ĐTPT đầu tư phát triển
ĐTNN đầu tư nước ngoài
CĐ&ĐH cao đẳng và đại học
GDĐH giáo dục đại học
GD&ĐT giáo dục và đào tạo
KTX ký túc xá
NSNN ngân sách Nhà nước
NCKH nghiên cứu khoa học
UBND ủy ban nhân dân
XDCB xây dựng cơ bản
XH xã hội
triển kinh tế, mỗi dân tộc không còn con đường nào khác là bắt đầu từ chính
con người. Một nền giáo dục tốt là một nền giáo dục phong phú, gần cuộc
sống và luôn thích ứng với những đòi hỏi của cuộc sống. Nhận thức được tầm
quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển của đất nước, Đảng ta đã xác
định “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng
đầu”, phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng
thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy
nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế
nhanh và bền vững.
Giáo dục là một trong số 12 ngành dịch vụ mà ngay khi gia nhập WTO,
Việt Nam đã chủ động cam kết thực hiện theo Hiệp định chung về thương mại
dịch vụ (GATS). Bước đi mạnh mẽ này của Việt Nam nhằm thu hút thêm
nhiều vốn đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục, góp
phần nâng cao chất lượng đào tạo trong nước, phát triển nguồn nhân lực.
Hội nghị lần thứ hai của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã
khẳng định: “Phải phát triển mạnh giáo dục và đào tạo; phát huy nguồn lực
con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”.
Để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực có chất lượng và có trình độ
cao phục vụ nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn 2011 – 2015.
Đảng và Nhà nước ta đã có rất nhiều chủ trương chính sách nhằm phát triển
nền giáo dục nước nhà. Trong đó, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra những chủ
chương, chính sách đầu tư về cơ sở vật chất cho các cơ sở giáo dục và đào tạo
trên cả nước trong đó có các trường đại học và cao đẳng. Bộ Chính trị ra
8
Thông báo số 242-TB/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2
(khóa VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020 đã
đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp để phát triển giáo dục đến năm 2020 trong đó
có giải pháp về tăng cường nguồn lực cho giáo dục: tăng đầu tư nhà nước cho
giáo dục và đào tạo; ưu tiên các chương trình mục tiêu quốc gia, khắc phục
tình trạng bình quân, dàn trải. Không ngừng đầu tư xây dựng, nâng cấp cơ sở
của Bộ KH&ĐT đối với các cơ sở đào tạo cao đẳng và đại học ở nước ta hiện
nay, những mặt được và hạn chế trong công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ sở
vật chất của Bộ KH&ĐT từ đó đề xuất những biện pháp quản lý nhằm nâng
cao hiệu quả quản lý đầu tư xây dựng cơ sở vật chất của các trường đại học và
cao đẳng ở nước ta.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quản lý đầu tư xây dựng cơ sở vật chất của Bộ KH&ĐT
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý đầu tư xây dựng cơ sở vật chất của Bộ KH&ĐT đối
với các cơ sở đào tạo cao đẳng và đại học
4. Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian và yêu cầu của luận văn, đề tài tập trung nghiên cứu thực
trạng và giải pháp quản lý đầu tư xây dựng cơ sở vật chất của Bộ KH&ĐT đối
với các cơ sở đào tạo cao đẳng và đại học từ năm 2006-2010 và đề xuất giải
pháp quản lý đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trong giai đoạn 2012-2015.
10
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Xác định cơ sở lý luận về quản lý đầu tư xây dựng cơ sở vật chất
của các trường cao đẳng và đại học.
5.2. Phân tích thực trạng biện pháp quản lý đầu tư xây dựng cơ sở vật
chất của các trường cao đẳng và đại học ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
5.3. Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư xây dựng cơ
sở vật chất của các trường cao đẳng và đại học ở nước ta.
6. Giả thuyết khoa học
Các biện pháp quản lý đầu tư xây dựng các cơ sở đào tạo đại học và
cao đẳng ở nước ta hiện nay còn hạn chế, hiệu quả chưa cao. Nếu có những
biện pháp quản lý hoạt động đầu tư tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả mà cụ
thể là tăng cường cơ sở vật chất phục vụ công tác đào tạo của các cơ sở đào
tạo cao đẳng, đại học trong giai đoạn tới.
nguồn từ tư duy kinh tế về giáo dục và thực tiễn giải quyết mối quan hệ giữa
tài chính và giáo dục. Từ xa xưa, tư duy kinh tế của loài người về giáo dục đã
xuất hiện và phát triển không ngừng. Quản Trọng, nhà chính trị danh tiếng
thời Chiến Quốc đã hiến kế cho Tề Hoàn Công “Thập niên thụ mộc, bách
niên thụ nhân”. Phát triển tư tưởng trên, Khổng Tử đã diễn đạt tường minh
hơn “Thập niên chi kế, mạc nhi chủng mộc, bách niên chi kế mạc nhi chủng
nhân”. Bác Hồ của chúng ta đã lĩnh hội tư tưởng của các bậc tiền nhân căn
dặn thế hệ “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải
trồng người”.
Các nhà kinh tế học phương Tây Wiliam Petty (1623 – 1687) đến
Adam Smith (1723 – 1790) trong tác phẩm kinh điển đầu tiên của mình đã có
những phát biểu sâu sắc về giá trị của một con người có giáo dục. Vào những
năm 20 của thế kỷ 20, nhà kinh tế học người Nga X.E. Strummilin đã chứng
minh bằng thực tiễn rất xác đáng rằng: Bỏ một đồng vốn vào giáo dục sẽ sinh
lợi gấp bốn lần cho bên kinh tế. Ở những giai đoạn trước đây, nghiên cứu tài
chính, đầu tư xây dựng CSVC cho giáo dục đã được sự quan tâm của các nhà
kinh tế, các nhà giáo dục ở Liên Xô (cũ). Nhiều tác phẩm nghiên cứu về vấn
đề này đã được công bố như: V.I.Baxoc – Những vấn đề tài chính cho giáo
dục, NXB Tài chính Mát-xơ-cơ-va, năm 1971 [1]; V.A. Jamin – Kinh tế học
13
giáo dục, NXB Kinh tế Mát-xơ-cơ-va, năm 1960 [9]; V.E. Komarov – Những
vấn đề đào tạo và sử dụng chuyên môn, NXB Kinh tế, Mát-xơ-cơ-va, năm
1972 [14]; X.L. Kostanian – Đối tượng và phương pháp kinh tế giáo dục,
NXB Đại học năm 1996 [15]; E. Wayne Nafziger, Kinh tế học cho thế giới
thứ ba; Nhà xuất bản Giáo dục, 1998 [32].
1.1.2. Những nghiên cứu trong nước
Giáo dục xuất hiện cùng với đời sống của loài người. Sự tồn tại của
giáo dục luôn chịu sự chi phối của trình độ phát triển kinh tế XH và ngược lại
với chức năng của mình, giáo dục có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh
tế XH, Giáo dục được coi vừa là động lực, vừa là mục tiêu cho việc phát triển
dụng vốn của các doanh nghiệp ngành nhựa Việt Nam", Trường Đại học Kinh
tế Quốc dân, 2003.
- Nguyễn Đẩu, "Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển kinh tế thành
phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp", Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, 1999,
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
- Thế Đạt - Minh Anh, Đầu tư và hiệu quả, NXB Lao động, 1993. [5]
- Nguyễn Ngọc Mai, "Phân tích và quản lý các dự án đầu tư", NXB
Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, 1995. [19]
- Nguyễn Hồng Minh, "Phân tích hiệu quả đầu tư", NXB Nông
nghiệp, Hà Nội, 1993. [20]
- Trương Quốc Cường, Một số vấn đề về xác định hiệu quả kinh tế của
đầu tư, Tạp chí Ngân hàng, số 22 tháng 11/1998.
- GS.TS Trần Văn Chử, "Thất thoát trong đầu tư phát triển: nguyên
nhân và giải pháp khắc phục", Tạp chí Lý luận Chính trị, số 6/2005.
- Phan Tất Thứ, "Hoàn thiện phương pháp đánh giá hiệu quả dự án
15
đầu tư công cộng tại Việt Nam", Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học
Kinh tế Quốc dân Hà Nội, năm 2005.
- Trịnh Đình Dũng, "Những giải pháp chủ yếu khắc phục thất thoát
trong đầu tư xây dựng cơ bản", Luận văn thạc sỹ Kinh tế, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2000.
- Lưu Sỹ Quý, "Một số nguyên nhân nợ vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ
nguồn vốn ngân sách Nhà nước", Tạp chí Tài chính, số 4/năm 2006.
- TS. Trần Đình Khải, "Một số vấn đề về đổi mới quản lý đầu tư xây
dựng và đấu thầu ở nước ta hiện nay", Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 12/năm
2005.
- TS. Lê Hùng Sơn, "Biện pháp góp phần chống thất thoát lãng phí
trong đầu tư xây dựng", Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Trường Đại học Kinh
tế Quốc dân, số 3/năm 2006.
- Khoa Kế hoạch và Phát triển, “Giáo trình Kinh tế phát triển”, NXB
Khái niệm quản lý được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học.
Với tầm quan trọng như vậy mà đã hình thành nên cả một ngành khoa học –
Khoa học quản lý. Do vậy, có nhiều cách định nghĩa về khái niệm quản lý.
Các nhà nghiên cứu từ các góc độ tiếp cận khác nhau mà có những quan niệm
khác nhau về khái niệm này.
Xét về chức năng, quản lý là một hệ thống tổ chức. Từ góc độ của hoạt
động kinh doanh, các nhà doanh nghiệp Mỹ cho rằng: “Quản lý là đưa những
nguồn vốn về con người và của cải vào các đơn vị tổ chức và năng động để
đạt được mục tiêu, một mặt, bằng cách đảm bảo thoả mãn tối đa người hưởng
lợi, mặt khác, đảm bảo tinh thần và tình cảm về thực hiện cho những người
cấp vốn’’[18, trang 13]. Khi phân tích khái niệm quản lý, các nhà nghiên cứu
17
rất chú ý đến đối tượng của hoạt động quản lý. Người ta cho rằng, một điều
có tính nguyên tắc là trong ý thức của những người quản lý phải luôn luôn
hiện diện quan điểm : ‘‘Quản lý không phải là lãnh đạo sự việc, mà là sự phát
triển con người’’. Quản lý là chấp nhận con người như họ vốn thế, với sự hiểu
biết, sự đào tạo, kinh nghiệm của họ và đưa việc hoàn thiện họ bằng cách
nâng cao trình độ, cải thiện năng lực và sửa chữa khuyết điểm của họ. Thành
công của mọi sự nỗ lực quản lý phụ thuộc vào chính sự hoàn thiện này và
chính nó cho phép đo được năng khiếu lãnh đạo [18, trang 14].
Xét về mặt chức năng, quản lý là hệ thống tổ chức. Có nhiều cách định
nghĩa về hoạt động này.
Theo Mary Parker Follet (Mỹ): Quản lý là nghệ thuật khiến công việc
được thực hiện thông qua người khác.
Một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng quản lý là một quá trình kỹ
thuật và XH nhằm sử dụng các nguồn tác động tới hoạt động con người, nhằm
đạt được các mục tiêu của tổ chức.
1.2.1.2. Khái niệm về quản lí giáo dục
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống
những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý
dưỡng nhân tài. Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp với các
lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển
XH. Quản lý giáo dục chịu sự chi phối của các quy luật XH, tác động của
quản lý XH.
Bản chất của quản lý giáo dục:
- Quản lý bao giờ cũng chia ra thành chủ thể quản lý và đối tượng bị
quản lý. Đây là đặc điểm cơ bản đầu tiên của quản lý giáo dục.
- Quản lý bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin và đều có
mối quan hệ ngược
19
- Quản lý bao giờ cũng có khả năng thích nghi
- Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghề, vừa là một nghệ thuật.
1.2.1.3. Quản lý trường học
Trường học là cơ quan chuyên trách việc đào tạo con người mới của
XH. Tất nhiên, con người từ khi sinh ra và lớn lên, được giáo dục ở mọi nơi,
mọi lúc từ trong gia đình cho đến các nhóm XH khác, song trường học được
tổ chức và hoạt động theo một mục đích xác định với một nội dung giáo dục
được chọn lọc và sắp xếp theo hệ thống, với những phương pháp giáo dục có
cơ sở khoa học và đã được kiểm chứng trong thực tiễn, với những nhà sư
phạm đã được trạng bị đầy đủ kiến thức khoa học và trau dồi về phẩm chất
đạo đức với những phương tiện và cơ sở vật chất ngày một hoàn thiện.
Nhà trường là một tổ chức chuyên biệt trong XH, thực hiện chức năng
tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho duy trì và phát triển XH. Trường học là tổ
chức giáo dục cơ sở mang tính nhà nước, XH là nơi trực tiếp làm công tác đào
tạo thế hệ trẻ. Vì vậy, khi nói đến quản lý nhà trường cũng như hệ thống các
nhà trường, các nhà nghiên cứu giáo dục đã đưa ra một số khái niệm về quản
lý nhà trường như sau:
Theo tác giả Trần Kiểm, “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối
giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường
vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào
tinh vi. Các yếu tố này có vai trò quyết định đến năng suất lao động. Tình
hình này cũng tác động vào nhà trường, vào quá trình đào tạo. Một nhà
trường hiện đại, đáp ứng với sự phát triển chung của sự phát triển xã hội, đáp
ứng với xu thế hòa nhập về giáo dục và đào tạo trên thế giới phải là một nhà
trường vừa có nội dung, phương pháp dạy học hiện đại, vừa phải đạt đến trình
độ hiện đại của công cụ sản xuất chung cho quá trình sản xuất.
21
Chúng tôi đồng nhất quan điểm với các nhà nghiên cứu khi cho rằng:
“Cơ sở vật chất trường học chính là tất cả các phương tiện vật chất được
giáo viên và học sinh sử dụng nhằm thực hiện có hiệu quả các chương trình
giáo dục, giảng dạy” [8]. Do vậy, chúng tôi sử dụng khái niệm CSVC này
làm khái niệm cộng cụ của đề tài.
*Cơ sở vật chất của các trường cao đẳng, đại học:
CSVC của các trường CĐ&ĐH gồm một hệ thống đồng bộ, thống nhất
với nhiều công trình xây dựng được bố trí hợp lý với nhiều chức năng khác
nhau, ở đó diễn ra tất cả các hoạt động của toàn bộ quá trình giáo dục và đào
tạo của nhà trường. Ở đó tất cả các hoạt động của toàn bộ quá trình đào tạo
như: các hoạt động giảng dạy và học tập của giáo viên và học; các hoạt động
phục vụ đào tạo của các phòng ban chức năng; các hoạt động sinh hoạt ngoại
khóa của cán bộ công nhân viên chức trong toàn trường, của sinh viên được
diễn ra một cách có tổ chức và khoa học.
Trong đó CSVC về xây dựng cơ bản bao gồm:
1) Khối phòng học phục vụ hoạt động học tập: gồm nhiều loại phòng
học thông thường; giảng đường; phòng học bộ môn; phòng bảo vệ luận văn;
luận án; phòng hội thảo; hội nghị khoa học; phòng phòng thí nghiệm; phòng
thực hành; phòng học thể dục đa năng; phòng học cho các môn đặc thù: âm
nhạc; thể dục thể thao; tin học; ngoại ngữ; thư viện yêu cầu của khối phòng
học tập thực hiện nhiệm vụ đào tạo của nhà trường là phải được xây dựng
kiên cố; đủ để, đủ độ rộng; đủ ánh sáng; đủ thông thoáng; bảng viết và bàn
ghế phải đúng quy cách và phù hợp với đối tượng học; môn học
- Ba nhân tố: mục tiêu đào tạo; nội dung đào tạo; phương pháp đào tạo
liên kết chặt chẽ với nhau, quy định nhau và hỗ trợ nhau. Chúng có mối quan
23
hệ với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, trạng thái tiến bộ về văn hóa khoa
học của đất nước thời đại công nghệ sản xuất. Chúng tạo ra cái lõi của quá
trình đào tạo.
- Ba nhân tố: lực lượng đào tạo; đối tượng đào tạo; cơ sở vật chất là
các lực lượng vật chất để hiện thực hóa được mục tiêu đào tạo, tái tạo, sáng
tạo nội dung đào tạo và phương pháp đào tạo.
Một nền giáo dục tiên tiến, một nhà trường tiến tiến hiện đại, đòi hỏi
không chỉ có mục tiêu đào tạo bắt kịp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội,
yêu cầu này đặt ra cho nền giáo dục là phải thường xuyên cải tiến nội dung,
phương pháp đào tạo. Việc cải tiến này chỉ có thể thực hiện được khi có thiết
bị dạy học, các phòng học, các phòng phục vụ hoạt động đào tạo; các khu ký túc
xá; các khu vui chơi của sinh viên, đây là tiền đề CSVC cốt yếu nhất để có thể
thực hiện tốt việc đổi mới quá trình đào tạo theo yêu cầu phát triển của xã hội.
1.2.2.2. Biện pháp quản lý đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho các trường
cao đẳng và đại học
- Khái niệm biện pháp:
Trong từ điển tiếng Việt, khái niệm biện pháp được định nghĩa là:
“cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể” [30] thì khái niệm biện pháp là
“cách thức giải quyết một vấn đề hoặc thể hiện một chủ trương”.
Nhiều người thường hay khó phân biệt khái niệm “giải pháp” và “biện
pháp”. [23]
Giải pháp là phương pháp giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó nhằm
đạt được mục đích nhất định.
Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể.
Như vậy, giải pháp là một khái niệm rộng, bao quát hơn biện pháp,
mang cả tính chất lý luận và có ý nghĩa định hướng cho nhiều biện pháp nhằm
giải quyết vấn đề theo mục đích đã định. Khái niệm giải pháp thường gần với
hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì,
nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn
nhất định”.
Điều 3, khoản 8, Luật Đầu tư quy định: Dự án đầu tư là tập hợp các đề
xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ
thể, trong khoảng thời gian xác định.
Tùy theo mục đích, phạm vi xem xét, khái niệm dự án đầu tư có thể
được diễn đạt khác nhau, nhưng có thể nói một cách ngắn gọn: Dự án đầu tư
là tập hợp các đối tượng đầu tư (hoạt động bỏ vốn) được hình thành và hoạt
động theo một kế hoạch cụ thể để đạt được mục tiêu nhất định (các lợi ích)
trong một khoảng thời gian xác định.
- Quản lý đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho các trường CĐ&ĐH
Mục đích của đầu tư xây dựng CSVC cho các trường CĐ&ĐH ở nước
ta là vì sự phát triển bền vững của nền giáo dục quốc dân nói riêng và sự phát
triển bền vững của toàn xã hội nói chung. Đối với hoạt động đầu tư xây dựng
CSVC với nhiệm vụ chính là tạo ra hệ thống các nhà trường CĐ&ĐH nước ta
theo chuẩn mực nhất định. Mặt khác, số lượng các nhà trường CĐ&ĐH công
trong hệ thống giáo dục nước ta rất lớn, do vậy đối với việc đâu tư xây dựng
CSVC ở các trường cao đẳng và đại học phải đảm bảo xây dựng CSVC đạt
được những yêu cầu đề ra về các tiêu chuẩn kỹ thuật và chất lượng với chi phí
thấp nhất.
Hoạt động đầu tư xây dựng CSVC cho các trường CĐ&ĐH là một hoạt
động đầu tư sử dụng phần lớn là vốn ngân sách nhà nước, vốn của các cơ sở
giáo dục và vốn huy động do XHH giáo dục để đầu tư xây dựng mới các công
trình hoặc cải tạo, sửa chữa, nâng cấp các dự án đầu tư xây dựng trong các
giai đoạn trước nhằm tạo ra các CSVC phục vụ cho các trường CĐ&ĐH thực
26