Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
năm nay có nhiều công trình của một số nhà bác học anh, Mỹ. Người ta đã nuôi cấy và phân
lập trên môi trường P.P.L.O, môi trường này chỉ dành riêng cho loại vi trùng này và cũng từ
môi trường này mới phân lập được. Việc chẩn đoán Virus học bằng cách tìm kháng thể trong
huyết thanh súc vật ốm. Bằng phản ứng trung hòa Virus, cho phát hiện những hiệu giá kháng
thể cao.
2. Truyền nhiễm học
2.1 Loài mắc bệnh
Bệnh Viêm phổi truyền nhiễm gây chủ yếu cho loài lợn nhất là lợn con sau cai sữa 2-6 tháng
chết nhiều, lây lan nhanh, bên cạnh đó còn có lợn mẹ đang thời kỳ có chữa và sau khi có
chữa.
2.2 Chất chứa mầm bệnh
Trong cơ thể con vật mầm bệnh có nhiều ở phổi, chủ yếu là ở 3 thùy, thùy tim, thùy đỉnh,
thùy hoành cách mô. Trong dịch của phế quản, ở trong mũi. Những con khỏi bệnh còn mang
bệnh một thời gian dài, ở trong đường hô hấp.
2.3 Đường xâm nhập
Mầm bệnh xâm nhập chủ yếu vào đường hô hấp, rồi tiến thẳng vào phổi còn các đường khác
không lây.
2.4 Cách sinh bệnh
Sau khi cơ thể bị một tác nhân nào đó, làm cho cơ thể yếu đi, mầm bệnh xâm nhập vào,
đường hô hấp, vào phổi gây bệnh tích chủ yếu ở phổi. Trong 2 lá phổi, ở cả 3 thùy đối xứng
nhau. Trong giai đoạn này, phổi cũng như ở trong cơ thể con vật, bạch cầu đơn nhân, đa nhân
tăng, có khi lấp cả tiểu phế quản. Nếu ở phổi có nhiều vi khuẩn khác cư trú, thì làm cho quá
trình viêm ngày càng tăng.
2.5 Cách lây lan và truyền bệnh
Bệnh Viêm phổi truyền nhiễm truyền duy nhất bằng con đường hô hấp. Con vật thở khó, thở
mạnh, ho nhiều, lây lan nhanh. Có thể lây từ lợn mẹ sang lợn con. Trong điều kiện chăn nuôi
kém, chuồng không hợp vệ sinh hoặc quá trình vận chuyển, thời tiết thay đổi.
3. Triệu chứng
Thời kỳ nung bệnh 3-4 tuần biểu hiện các thể sau:
chất Fibrin dính vào lồng ngực từng đám một. Hạch phổi, hạch khí quản sưng to, thấm nước
không có hiện tượng xuất huyết, vùng viêm phế quản phổi mờ đi, vùng viêm càng nặng vết
mờ càng lan dần. Trong giai đoạn này nếu làm phiến đồ thì thấy trong tổ chức có sự tăng sinh
lớn của lám ba cầu. Ngoài ra còn một số bệnh tích, phế quản viêm đỏ, khí quản viêm có bọt,
có nước, có máu và có mủ. Nếu có Vi khuẩn thứ phát kết hợp, như: bệnh tụ huyết trùng thì
vùng gan hóa của phổi rộng lớn hơn sâu vào trong kèm theo sự hoại tử, tạo những đám bã
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
167
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
đậu, có Vi khuẩn nung mủ, hình thành những ổ áp xe. Bệnh tiến triển lan ra ở các khí quản
phủ tạng.
5. Chẩn đoán
5.1 Chẩn đoán lâm sàng dịch tể học
Dựa vào triệu chứng bệnh tích chủ yếu là đường hô hấp. Đặc biệt là ở phổi. Phổi bị viêm ở cả
3 thùy của 2 lá phổi đối xứng nhau.
5.2 Nuôi cấy phân lập
Dùng bệnh phẩm là phổi, nghiền nát với nước sinh lý, tạo thành huyễn dịch cấy lên môi
trường P.P.L.O (xử lý bằng kháng sinh Penicilline hoặc Streptomycine). Để ủ ấm 37
o
C trong
vòng 3-5 ngày, thấy trên môi trường khuẩn lạc mọc lên rất nhiều. Lấy khuẩn lạc phết lên
kính nhuộm bằng phương pháp nhuộm Giemsa. Nó có hình cầu, hình tròn, hoặc hình trứng
có đường kính từ 0,2-0.5µ hoặc 0,5-0,8µ .
5.3 Tiêm truyền động vật thí nghiệm
Dùng lợn con từ 10-30 ngày tuổi, lấy bệnh phẩm ở huyễn dịch trên tiêm vào phổi hoặc nhỏ
mũi. Theo dõi trong vòng 5 tuần, bệnh phát ra. Giết lợn, lấy phổi nghiền nát, pha huyễn dịch
1/20ml, cho kháng sinh vào diệt tap khuẩn. Sau đó cấy vào môi trường P.P.L.O để tủ ấm
37
o
C trong vòng 30', kiểm tra kết quả.
Đức. Từ năm 1841 nấm phổi lần lượt được tìm thấy ở các loại gia cầm, loài có vú và người.
Năm 1855 Freusesius nghiên cứu nấm ở cơ quan hô hấp gia cầm và đặt tên cho căn bệnh là
Aspergillosis fumigatus. Từ đó bệnh có tên là Aspergillosis. Hiện nay bệnh có khắp nơi trên
thế giới, ở Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu bệnh này, nhưng trong khi mổ khám
xác chết của nhiều loại thủy cầm, thường xuyên thấy các dấu hiệu mãn tính của bệnh nấm
phổi.
Trong các khối u, sợi Nấm có đường kính 3-4µ, chia nhánh bào tử xếp thành chuổi có kích
thước 2,5-3µ bắt màu tốt với Lactofucsin. Có thể nuôi cấy nấm dễ dàng trên môi trường
thạch Furo, thạch Saburo, thạch Manto, ở nhiệt độ 30
o
C, khuẩn lạc có dạng đen mịn trắng,
sau chuyển sang vàng sám hay xanh tro. Trong phòng thí nghiệm có thể gây bệnh cho thỏ,
chuột lang bằng cách tiêm bào tử Nấm vào tỉnh mạch. U nấm sẽ xuất hiện ở phổi. Nấm có
sức đề kháng lớn với nhiệt độ và hóa chất. Hấp khô ở nhiệt độ 120
o
C mất 1giờ, đun sôi 5
phút Nấm mới chết. Các hóa chất như Formol 2,5%, Acide salicilic 2,5% mới diệt được
Nấm.
2. Truyền nhiễm học
Trong thiên nhiên tất cả các loại gia cầm, chim đều mắc bệnh, nhưng vịt và ngỗng dể cảm
thụ nhất. Con non cảm thụ bệnh hơn con già, tỷ lệ chết cao hơn, bệnh ở loài gia cầm lớn
thường ở thể mãn tính. Nguồn bệnh nhiễm là từ thức ăn, ổ rơm, máy ấp. Bệnh lây chủ yếu
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
169
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
qua đường hô hấp, gia cầm hít phải sẽ nhiễm bệnh. Bệnh thường phổ biến ở những nơi nuôi
công nghiệp, nuôi tập trung mật độ lớn. Ngoài đường hô hấp có thể lây qua đường tiêu hóa,
qua thức ăn, nước uống. Trong thực tế bệnh Nấm có liên quan trực tiếp với dùng rơm rạ, cỏ
khô độn chuồng. Việc lưu hành của bệnh còn phụ thuộc vào mùa vụ và sức đề kháng của cơ
thể.
Công tác vệ sinh chuồng trại có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc phòng bệnh Nấm. Vì
vậy không nên tích trữ thức ăn quá lâu, hoặc rơm rạ quá ẩm trong chuồng, phải thường xuyên
thay đổi chất độn chuồng, giữ cho nền chuồng khô ráo, thoáng mát. Không ấp trứng từ lò ấp,
hoặc trứng đã nhiễm Nấm. Có thể thực hiện bằng cách 1m vuông nền xông 40ml Formol duy
trì trong 24 giờ. Việc duy trì sức đề kháng cho con vật có ý nghĩa quan trọng. Vì vậy trong
khẩu phần thức ăn có thể bổ sung Vitamine A, B, C có thể dùng các hóa chất điều trị như,
dung dịch diệt Nấm Iode-kali 0,8% cho uống hoặc Flavofungin, Fungixiline hòa với nước
theo tỷ lệ 350.000-425.000 trong 1lít, phun dưới dạng khí dung. Mỗi ngày cho gia cầm hít
thở 6 phút, hoặc dùng kháng sinh Micostatin, hoặc Tricomicine hoặc Penicilline, Biomicine,
Tetramincine có tác dụng diệt nấm.
BỆNH NẤM ĐƯỜNG TIÊU HÓA CANDIDA
(Candidamycosis, slomatilis, oidica, oidiomycosis, soor, trush,
moniliasis)
1. Đặc điểm căn bệnh
Bệnh Candida là một bệnh chung cho người và gia súc. Hay thấy hơn cả là ở gia cầm. Đặc
điểm chủ yếu của bệnh là xuất hiện những khuẩn lạc mền ở dưới hình thức các chấm trắng.
Hay màng giả niêm mạc mồm, thực quản, diều, dày tuyến.
Bệnh Nấm Candida đầu tiên được Ambodic Macximovich miêu tả năm 1718 ở người, sau đó
đến Plan phát hiện trên gia cầm. Hiện nay bệnh có nhiều trên thế giới. Ở Việt Nam có nhiều
dấu hiệu của bệnh nhưng chưa phát dịch. Candida là loại Nấm men đơn bào có đường kính 2-
4µ, sinh sản thành chuổi và sinh nội độc tố.
Có thể nuôi cấy trên thạch Saburo có 2% đường Gloco và một số loại môi trường khác. Nhiệt
độ thích hợp 20-37
o
C. Nếu thêm vào môi trường chất nhủ Mucine coctizon, Oreomycine,
Tetramycine, sẽ kích thích Nấm phát triển và tăng độc lực. Trong phòng thì nghiệm, cảm thụ
nhất là chuột bạch, thỏ, phôi thai gà. Tiêm cho chuột con 20 ngày tuổi 0,5-1ml canh trùng
Nấm vào phúc mạc, sau 1-10 ngày chuột có triệu chứng bệnh, vật gầy yếu, tăng bạch cầu.