Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
3.4. Cách sinh bệnh
Bệnh Dịch tả lợn thời gian nung bệnh từ 2-22 ngày, trung bình 3-8 ngày. Virus theo đường
tiêu hóa, niêm mạc vào các hạch, tuyến hạnh nhân ở hầu, hạch màng ruột, hệ thống lâm ba.
Từ đó vào máu, sinh sôi nẩy nở ở thành mạch quản, gây xuất huyết, bại huyết, hoại tử, ứ máu
ở hạch lâm ba, nhổi huyết lách, sốt và gây rối loạn tuần hoàn trầm trọng. Virus Dịch tả lợn
tác động đến ruột non, ruột già, hình thành mụn loét. Sau đó đến nang lâm ba, gây nên nốt
loét hình cúc áo. Trong một số trường hợp xảy ra hiện tượng dị ứng, do cơ thể bị nhiễm
Virus, có thể sinh sản ra kháng thể. Khi tiêm Vaccine vào thì kháng thể đó trung hoà kháng
nguyên của Virus còn lại kháng thể sẽ cư trú trong tế bào. Nên khi kháng nguyên vào, nó sẽ
gây ra phản ứng trên đỏ da, gây viêm tế bào. Thường là kết hợp với những Vi khuẩn kế phát
như: Phó thương hàn Samonella Choleraesuis, Samonella Typhisuis, Samonella
typhimurium, Fasteurella multocida, E.Coli, Staphilococcus và Erysipelothria mumopathiae.
Con vật mắc bệnh sau khi khỏi có miễn dịch lâu dài, kháng thể miễn dịch được truyền tæì
meû cho lợn con.
4. Triệu chứng
Bệnh Dịch tả lợn có thời kỳ nung bệnh 3-4 ngày, có khi 3-4 tuần, biểu hiện các thể sau:
4.1. Thể quá cấp tính
Con vật nung bệnh 1-3 ngày. Thân nhiệt lên đến 41
0
C-42
0
C, da đỏ chuyển sang tím bầm, con
vật chết rất nhanh.
4.2. Thể cấp tính
Lợn con ủ rủ, kém ăn, đứng tụm lại thành từng đám. Vật sốt 41
0
C-42
0
C giữ nguyên 4-5 ngày
6. Chẩn đoán
6.1. Chẩn đoán lâm sàng
Bệnh Dịch tả lợn lưu hành rất lớn, nhanh, mạnh, rộng ở tất cả lợn mọi lứa tuổi, mẫn cảm nhất
là lợn con sau cai sữa. Có rất nhiều triệu chứng, bệnh tích. Đặc biệt là sốt cao liên tục 3-4
ngày liền vật không ăn, đi táo, ỉa chảy gầy nhanh chết do bại liệt.
6.2. Chẩn đoán do Virus
Tiêm truyền cho lợn con 3-4 tháng tuổi, không có bệnh, lấy máu, bệnh phẩm đã pha, tiêm
cho động vật 1-2ml, sau 5-7 ngày thì vật phát bệnh.
6.3. Chẩn đoán huyết thanh học
6.3.1. Phản ứng huỳnh quang
Phản ứng huỳnh quang là phản ứng chính xác nhất. Bệnh phẩm là lách, hạch. Kháng nguyên
Virus, kháng thể huỳnh quang, nếu có Virus Dịch tả lợn thì có phát quang màu xanh lục.
6.3.2. Phản ứng trung hoà
Chọn hai thỏ khoẻ, tiêm cho nó Virus Dịch tả lợn thiên nhiên cường độc 1ml vào tĩnh mạch
tai, để thỏ hình thành miễn dịch trong cơ thể. Sau 5-7 ngày thì miễn dịch bằng cách: tiêm
Virus nhược độc với lớn cho thỏ 1ml, đồng thời tiêm cho hai thỏ đối chứng. Hai thỏ thí
nghiệm không sốt, tiêm cho hai thỏ mới không sốt, chứng tỏ Virus nhược độc Dịch tả lợn đã
bị kháng thể Dịch tả lợn trong máu thỏ trung hoà. Điều đó chứng minh bệnh phẩm chứa
Virus Dịch tả lợn. Ngoài ra, còn xử lý trên môi trường tế bào.
6.3.3. Phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch
Dùng 1ml kháng huyết thanh dương tính cho vào giữa kháng nguyên dương tính lấy từ huyễn
dịch của lách, hạch lợn. Nếu giữa kháng nguyên và kháng thể có kết tủa rõ, dương tính. Nếu
ở giữa kháng nguyên và kháng thể có kết tủa mờ, âm tính (không có bệnh).
6.3.4. Phản ứng gián tiếp ngưng kết hồng cầu gà
Xử lý hồng cầu bằng Tamin bidiazotazala benzidin để làm dính Virus và hồng cầu. Virus là
hạch lách nghi có bệnh Dịch tả lợn. Sau đó cho kháng thể vào, nếu có dương tính thì nó tạo
thành chuổi ngưng kết.
6.3.5. Phản ứng hoá học màu
Lấy hạch lách nghi mắc bệnh nghiền nát với nước sinh lý, sấy khô, nhỏ Acide nitơric (HNO
3
ổ dịch, đưa thẳng Vaccine vào ổ dịch, con ốm phát bệnh, con khỏe có miễn dịch. Vaccine
tiêm với kháng huyết thanh để điều trị 2-4ml/1kg trọng lượng. Nhưng chỉ dùng cho gia súc
quá quý hiếm mới điều trị, bởi vì bệnh Dịch tả lợn điều trị khỏi nó vẫn còn mang mầm bệnh
và mầm bệnh đó luôn thải vào môi trường gây nên sự lây lan truyền nhiễm.
BỆNH LỠ MỒM LONG MÓNG
(Aphtae epizootica).
1.Đặc điểm về bệnh
Bệnh Lỡ mồm long móng (foot
and mouth disease), là một bệnh truyền
nhiễm cấp tính, lây lan rất nhanh, rất
mạnh và rất rộng của nhiều loài vật,
nhưng chủ yếu là loài nhai lại, vật nuôi ở
nhà và vật ở rừng. Bệnh có thể lây cho
lợn và người. Virus có hướng thượng bì,
thuỷ hóa các tế bào thượng bì, làm hình
thành những mụn nước ở miệng, da,
móng, gây tổn thất khá lớn về kinh tế.
Bệnh có từ lâu trên thế giới, ở Việt Nam
phát hiện năm 1898 ở Nha Trang và sau
đó xuất hiện ở các tỉnh khác trong cả
nước. Virus có kích thước từ 10-20mer.
Có 7 type Virus lỡ mồm long móng: O,
A, C, S, A, T-1, S, A, T-2, S,A, T-3 Và
Á Đông 1. Gây những triệu chứng lâm
sàng giống nhau, nhưng không gây miễn
dịch cho nhau. Có thể nuôi cấy Virus Lỡ
mồm long móng trên tổ chức da, trên
màng nhung niệu, trên thượng bì lưỡi
bò. Virus có sức đề kháng tương đối yếu
gây sốt. Sau khi mụn vở các vết têch ở thượng bì được lấp vào nhanh chóng, hoàn sinh nhanh
thượng bì, không có sẹo. Con cái và trong một số con trưởng thành, do nguyên nhân chưa rõ.
Virus lưu hành trong máu, rồi sinh sản trong nếp nhăn cơ tim, gây bại huyết thoái hóa tim.
Virus có thể xâm nhập vào phôi thai. Qua đường tuần hoàn con mẹ, xâm nhập vào thai, gây
sẩy thai.
2.5. Cách truyền lây
Bệnh Lỡ mồm long móng có thể truyền trực tiếp từ con ốm, sang con khoẻ qua nước bọt do
nhốt chung, chăn thả chung. Cũng có thể lây gián tiếp qua thức ăn, nước uống. Truyền qua
chó mèo chim muông. Có trường hợp khỏi bệnh, nhưng vẫn chứa Virus ở móng chân, máu,
nước tiểu. Người cũng yếu tố lây lan quan trọng. Việc vận chuyển gia súc đi xa cũng là
nguyên nhân lây lan bệnh. Bệnh có thể truyền từ mẹ qua bào thai.
3. Triệu chứng
Trâu, bò bë bệnh Lỡ mồm long móng, thời gian nung bệnh 2 - 7 ngày, có khi 16 giờ. Vật ủ rũ
lông dựng, đầu, mũi, khô, da nóng, sốt 40
0
C-41
0
C. Đầu gục xuống, tai và đuôi không ve vẩy.
Nằm hoặc đứng khó khăn, kém ăn, mụn bắt đầu nổi lên niêm mạc mồm, chân.
3.1. Triệu chứng ở miệng
Thời kỳ đầu miệng nóng, lưỡi dày, cử động khó, có khi không thè lưỡi ra ngoài. Niêm mạc
mũi, chân răng khô, đỏ ửng. Mụn bàõt đầu mọc lên hàm trên, phía trong mép chân răng, môi,
lợi, lưỡi. Lúc đầu bằng hạt kê, lớn dấn bằng hạt ngô, quả mận. Lúc đầu trong, dần về sau đục.
Một vài ngày, mụn vỡ, để lộ lớp niêm mạc, mặt dưới đỏ. Khi mụn chưa vở nước bọt chảy ra
ít, trong, vật ăn thức ăn khó, nhai ra bọt trắng, mụn vỡ nước dãi chảy ra nhiều, có khi lẫn máu
và nước lâm ba. Con vật hay chép miệng, triệu chứng ở mũi có mụn loét màu xanh.
3.2. Triệu chứng ở chân
Con vật kém ăn mụn ở chân xuất hiện, móng nóng đau, vành móng và kẻ móng hơi sưng, da
móng có màu trắng hồng, tụ máu phồng lên, con vật đứng không yên, chân đau, nhấc lên, thả
xuống như giã gạo, bước bằng mũi của móng, không bước được nhanh, có khi què nặng. Con
màng xuất huyết thối, hoặc tụ máu. Hô hấp, viêm khí quản, cuống phổi, màng phổi. Bệnh
tích tim, cơ tim biến chất nên dễ nát, có vết xám, màng tâm nhỉ có chấm xuất huyết đầu đinh
gim. Lách sưng đen, chân loét, móng long. Có khi gây thoái hóa cơ vân.
5. Chẩn đoán
5.1. Chẩn đoán lâm sàng
Dựa vào triệu chứng, bệnh tích bệnh Lỡ mồm long móng. Phân biệt với Dịch tả trâu, bò vết
loét đặc biệt ở đường tiêu hóa.
5.2. Chẩn đoán thí nghiệm
Tiêm truyền Virus Lỡ mồm long móng trên lưỡi bò 2 giờ, mụn mọc lên. Khía da chuột lang
bôi vào, 12 giờ mụn mọc, có thủy thũng, đau ở chỗ khía. Dùng phản ứng kết hợp bổ thể.
Kháng huyết thanh đã biết hoặc kháng thể trong vật ốm, kháng nguyên là mụn bọc. Kháng
huyết thanh chế từ chuột lang tối miễn dịch, kháng thể xuất hiện ở ngày thứ 7, hàm lượng đạt
tối đa 2-3 tuần, sau giảm.
6. Phòng bệnh
6.1. Vệ sinh phòng bệnh
Đây là một bệnh lây lan mạnh. Vì vậy, công tác kiểm dịch, kiểm soát vận chuyển, cách li tiêu
độc, sát trùng. Lập đội phòng dịch, công bố dịch. Dùng Vaccine tiêm thẳng vào ổ dịch, tiêm
bao vây xung quanh bằng các loại Vaccine Formol keo phèn. Vaccine đơn giá tiêm 2 lần mỗi
lần 20ml, cách nhau 10 ngày. Dùng huyết thanh miễn dịch 20ml/100kgP.
6.2 Dùng thuốc
Dùng huyết thanh miễn dịch 120ml-500ml tuỳ trọng lượng lớn bé. Chữa mụn loét bằng khế,
chanh, xoa mật ong, thuốc đỏ 1%, phèn chua, Acide acetic 1-3%, thuốc tím 1
0
/
00
. Chữa
móng, than xoan 2 chén. Cây nhọ nồi (cỏ mực) 1 chén. Phèn chua, diêm sinh 1/3 chén. Lá
đào (phía bắc) 1 năm. Nghệ 3 cũ. Dầu lạc (dầu đậu phụng) 1 chén. (Cũ nghệ, lá đào cho vào
dầu đun sôi để nguội, trộn với các thứ còn lại đã giã nhỏ thành huyễn dịch bôi, đắp vào chỗ
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
từ 1-4 tuổi mắc nhiều hơn. Nước ta súc vật non hoặc những con gầy yếu hay mắc. Lợn, dê,
ngựa cũng mắc. Cừu mắc bệnh ở thể ẩn.
1.2 Chất chứa Virus
Máu con vật ốm bệnh Loét da quăn tai có độc lực, nhất là máu lấy lúc con vật sốt (phải dùng
300-500ml tiêm mới gây bệnh được). Não, hạch lâm ba cũng có độc lực. Nước mắt, nước
mũi, mụn ở vú, và các phụ tạng nghiền nát không có độc lực. Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
153