Tế bào - Đơn vị căn bản của
sự sống
Không bào tiêu hóa được tìm thấy trong các nhóm sinh vật đơn giản, ít
tiến hóa – sinh vật nguyên sinh đơn bào và những sinh vật đa bào đơn
giản như bọt biển. Ở những sinh vật này, tế bào thu nhận những mảnh
thức ăn bởi sự thực bào, hình thành không bào tiêu hóa. Cùng với
lysosome, không bào tiêu hóa đảm nhận chức năng tiêu hóa, và các phân
tử nhỏ rời không bào và vào tế bào chất để được sử dụng hoặc cung cấp
cho các bào quan khác.
Không bào co bóp được tìm thấy trong các sinh vật đơn bào nước ngọt.
Chức năng của chúng là đẩy lượng nước thừa đã vào tế bào do sự chênh
lệch nồng độ muối giữa phần bên trong tế bào vào môi trường nước
ngọt. Không bào co bóp trương lên khi nhận nước từ môi trường, sau đó
co rút lại đột ngột, đẩy lượng nước ra khỏi tế bào qua những cấu trúc lộ
đặc biệt.
Bộ xương tế bào
Ngoài các bào quan, trong nguyên sinh chất của tế bào eukaryote còn có
các sợi dài, mảnh được gọi là bộ xương cùa tế bào. chúng có các vai trò
khác nhau tế bào nhưng ít nhất là có 2 vai trò chính:
Giữ hình dạng và có vait trò chống đỡ trong tế bào
Đóng vai trò trong sự di chuyển của tế bào, đưa đến nhiều dãng di
chuyển khác nhau của tế bào
Một vài sợi có vai trò trợ giúp sự di chuyển của các thứ trong tế
bào.
Bộ xương tế tào có 3 thành phần chính trong bộ xương của tế bào : vi sợi
màng sinh chất. các protein actin sau đó sẽ kết nối với các vi ống để tạo
thành cấu trúc vững chắc nhằm nâng đỡ tế bào.Ví dụ trong tế bào hấp
thụ chất dinh dưỡng ở ruột, các vi sợi sẽ giúp gia tăng diện tích bề mặt
của tế bào này nhằm gia tăng khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng.
Sợi trung gian
Sợi trung gian chỉ thấy trong các sinh vật đa bào. Trái với các thành
phần khác của bộ xương của tế bào, có đến ít nhất 50 loại sợi trung gian
khác nhau và thường đặc trưng với từng loại tế bào khác nhau. Chúng
thường được chia thành 6 nhóm phân tử, dựa trên các trình tự acid amin,
và tương đồng về cấu trúc, được cấu tạo bởi các protein dạng sợi thuộc
nhóm kearin,các protein cấu tạo nên tóc và móng. Trong tế bào thì
những protein dạng sợi này được tạo thành dạng dây thừng (ropelike) có
đường kính khoảng 8 đến 12nm. sợi trung gian có 2 chức năng chính:
Ổn định cấu trúc tế bào
Giảm áp lực của tế bào.
ở một số tế bào, sợi trung gian tỏa ra từ màng nhân và ổn định vị trí cuả
nhân cũng như các bào quan khác.
Vi ống: dài và rỗng
Vi ống dài, rỗng và không có nhánh, đường kính khoảng 25 nm và có
thể dài tới vài µm. trong tế bào vi ống có 2 chức năng chính:
Tạo cấu trúc vững chắc cho bộ xương của tế bào
Là khung chính cho các protein vận động có thể di chuyển trong tế
bào.
Vi ống được cấu tạo từ các phân tử protein tubulin. Các tubulin tồn tại ở
dạng dimer được cấu tạo từ các monomer α và β tubulin. Mười ba dimer
tubulin bao quanh khoang trung tâm của vi ống. Hai đầu cảu vi ống khác
nhau: một đầu dương (+) và một đầu âm (-). Các dimer tubulin có thể
được gắm thêm vào hay loại ra, thường là vào đầu +, làm cho vi ống dài
tế bào và được tế bào đưa ra bên ngoài màng plasma và chúng có vai trò
cực kỳ quan trọng trong bảo vệ và liên kết các tế bào với nhau. Vì các
chất này nằm ngoài màng plasma nên được gọi là các chất ngoại bào.
Thành peptidoglycan của tế bào vi khuẩn, thành( vách) tế bào của các tế
bào thực vật, cấu trúc ngoại bào của tế bào động vật là các chất ngoại vi
và có chức năng tương tự như vậy. Tất cảc các chất trên đều được cấu
thành từ một lượng lớn các sợi cao phân tử kết hợp lại trong môi trường
dẻo bên ngoài tế bào.
Thành tế bào thực vật chứa một lượng lớn cellulose
Thành tế bào thực vật là một cấu trúc bán rắn nằm ngoài màng plasma(
hình 4.25). Nó bao gồm các sợi cellulose đính vào các phân tử
polysaccharide và protein. Thành tế bào có 3 vai trò chính trong thực vật
-Có chức năng chống đỡ cho tế bào và hạn chế kích thước tế bào bằng
chất có tính chất cứng.
-Hoạt động như là hàng rào chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn và các
vi sinh vật gây bệnh khác đặc biệt là trên thực vật
-Góp phần vào việc định hình cho tế bào thực vật
Vách tế bào thực vật Nhờ có màng dày mà tế bào thực vật có thể quan sát một cách rõ ràng
từng tế bào tách bạch trên kính hiển vi quang học. Nhưng khi quan sát
bằng kính hiển vi điện tử ta thấy thật sự các tế bào thực vật không tách
biệt hoàn toàn. Nguyên sinh chất của các tế bào ở kề nhau được liên kết
bởi một số lượng lớn các kênh plasma, gọi là cầu liên
bào(plasmodesmata) chúng có diện tích khoảng 20 đến 40 nm và nối
thẳng xuyên qua màng tế bào vào trong nguyên sinh chất. Cầu liên bào
có thể cho nước, ion, các phân tử nhỏ, RNA và protein đi qua. Sự phức
phân tử còn lớn hơn cả tế bào prokaryote về mặt chiếm diện tích.