Nghiên cứu vai trò của thang điểm framingham trong đánh giá nguy cơ bệnh mạch vành ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 - Pdf 19

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, đái tháo đường (ĐTĐ) đang là vấn đề sức
khoẻ toàn cầu với tỷ lệ mắc bệnh ngày càng gia tăng ở các nước phát triển và
đang phát triển. Khoảng 70 % tử vong ở bệnh nhân ĐTĐ là do biến chứng
mạch máu lớn trong đó bệnh mạch vành là chủ yếu [70]. Nhiều nghiên cứu
cho thấy bệnh nhân ĐTĐ mà không có bệnh lý mạch vành trước đó thì nguy
cơ tương đương với bệnh nhân đã có bệnh mạch vành mà không ĐTĐ [18],
[90]. Bệnh mạch vành có thể xuất hiện sau ĐTĐ một thời gian hoặc có thể có
ngay từ khi chẩn đoán. Theo nghiên cứu của Guzder và cộng sự, tại thời điểm
chẩn đoán ĐTĐ đó có 20,1 % bệnh nhân đó cú bệnh tim mạch và 14,2% có
bệnh mạch vành [75]. Nghiên cứu khác của Premela trên 4471 bệnh nhân
ĐTĐ mới phát hiện, tỷ lệ bệnh mạch vành là 7,9 % [74].
Bệnh nhân ĐTĐ thì nguy cơ mắc bệnh mạch vành gấp 2-4 lần so với
bệnh nhân không ĐTĐ [30],[75]. Tuy nhiên sự gia tăng nguy cơ bệnh mạch
vành ở bệnh nhân ĐTĐ không hoàn toàn chỉ do tăng glucose máu mà còn do
phối hợp nhiều yếu tố khác như: tăng huyết áp, rối loạn lipid máu: giảm
HDL-C, tăng LDL- C nhỏ đậm đặc, hút thuốc lỏ, bộo trung tâm … Người ta
thấy rằng các yếu tố nguy cơ này có khuynh hướng xuất hiện cùng nhau và
tác động cộng hưởng. Những người có nhiều yếu tố nguy cơ thì khả năng xuất
hiện các biến cố mạch vành sẽ cao hơn nhiều. Do vậy, khi đánh giá nguy cơ
bệnh mạch vành không thể chỉ đơn thuần dựa vào một yếu tố mà cần dựa vào
nhiều yếu tố để tính nguy cơ chung cho từng cá thể.
Trên thế giới có nhiều nghiên cứu dịch tễ học lớn nhằm đưa ra một công
thức tính toán nguy cơ bệnh mạch vành và bệnh tim mạch nói chung dựa trên
các yếu tố nguy cơ như thang điểm Framingham, thang điểm SCORE, thang
1
điểm PROCAM … trong đó thang điểm Framingham được sử dụng phổ biến
nhất. Nhiều tác giả đã tiến hành các nghiên cứu trên quần thể chung cũng như
trên những bệnh nhân ĐTĐ nhằm xác định tính chính xác của thang điểm
nguy cơ Framinham trong dự báo nguy cơ bệnh mạch vành như: Ruth (2007)
[79], Amber (2009) [12], Kelly (2009) [82] … mỗi tác giả đưa ra các kết luận

năm 2010, chẩn đoán ĐTĐ nếu có 1 trong 4 tiểu chuẩn sau [14]:
1. Glucose máu bất kỳ ≥ 11,1mmol/l kết hợp với các triệu chứng của
tăng glucose máu. Hoặc:
2. Glucose mỏu lỳc đói ≥ 7,0mmol/l. Glucose mỏu đúi được định nghĩa
là sau ít nhất 8h không ăn. Hoặc:
3. Glucose máu 2h sau khi uống 75g glucose ≥11,1mmol/l. Hoặc:
4. HbA1C ≥ 6,5 % bằng phương pháp sắc ký lỏng.
1.1.3. Tình hình bệnh đái tháo đường
Tỷ lệ ĐTĐ ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển dân số, lóo hoỏ, đô
thị hoá và sự gia tăng của béo phì, lối sống tĩnh tại. Theo ước tính, năm 2000
trên thế giới tỷ lệ ĐTĐ là 2,8% (171 triệu người) và sẽ gấp đôi (4,4%) vào
3
năm 2030 (366 triệu người), trong đó Ấn Độ là nước có số người mắc cao
nhất, tiếp theo là Trung Quốc và Mỹ [81].
Theo kết quả của điều tra sức khoẻ tại Mỹ, năm 1993 có khoảng 7,8 triệu
người được chẩn đoán ĐTĐ trong đó có 90-95% là ĐTĐ týp 2 [8], đến năm
2000 Mỹ có khoảng 17,7 triệu người ĐTĐ và ước tính tăng lên khoảng 30,3
triệu người vào năm 2010 [81].
Tại Việt Nam, theo điều tra cơ bản năm 1992 tại một số quận nội thành
TP Hồ Chí Minh cho thấy tỉ lệ ĐTĐ là 2,52 ± 0,4% [8], điều tra 1999-2001 tỷ
lệ ĐTĐ tại thành phố Hà Nội là 2,42% [1]. Theo ước tính của Shaw và cộng
sự, năm 2010, số người ĐTĐ ở Việt Nam xấp xỉ 1,65 triệu người, chiếm 2,9%
dân số và năm 2030 là 3,4 triệu người, chiếm 4,4% dân số [50].
1.2. Bệnh mạch vành ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2
1.2.1. Đặc điểm bệnh mạch vành ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2
Bệnh tim mạch, đặc biệt bệnh mạch vành là nguyên nhân chính gây bệnh
tật và tử vong ở bệnh nhân ĐTĐ [30]. Bệnh nhân ĐTĐ nguy cơ mắc bệnh
mạch vành gấp 2-4 lần người không ĐTĐ [30],[44],[75],[90]. Trong nghiên
cứu MRFIT (Multiple Risk Factor Intervention Trial), tỷ lệ bệnh mạch vành ở
bệnh nhân nam có ĐTĐ gấp 3 lần bệnh nhân nam không ĐTĐ ngay cả khi

mới thực sự có những thay đổi mạnh mẽ trong hai thập kỷ gần đây. Ngày nay
người ta thống nhất rằng xơ vữa động mạch là một quá trình viêm mạn tính
chứ không phải là sự suy thoái của mạch theo tuổi tác. Hơn nữa, chính sự đứt
gãy hay sự ăn mòn của mảng xơ vữa chứ không phải mức độ tắc nghẽn mạch
là nguyên nhân chính của các biến cố tim mạch cấp tính trên lâm sàng [63].
Đái tháo đường là nguyên nhân chính làm tăng quá trình viêm mạn tính
đặc trưng bởi các mảng xơ vữa mạch, điều này đã được chứng minh bởi
Pedro và cộng sự khi nghiên cứu các tiêu bản cắt lát động mạch vành ở những
bệnh nhân đái tháo đường và không đái tháo đường có nhồi máu cơ tim cấp.
Tác giả thấy rằng trên tiêu bản lát cắt mảnh động mạch vành của bệnh nhân
đái tháo đường có nhiều mảng xơ vữa giàu lipid, thâm nhiễm nhiều đại thực
bào và huyết khối lớn hơn so với bệnh nhân không đái tháo đường. Sự khác
biệt này gợi ý có sự tăng tính không ổn định của mảng xơ vữa ở bệnh nhân
đái tháo đường [68].
Có rất nhiều yếu tố góp phần gây nên biến chứng mạch máu ở bệnh nhân
ĐTĐ týp 2. Sự đa dạng của các yếu tố nguy cơ đều tập trung tác động vào
mạch máu làm thúc đẩy tình trạng xơ vữa mạch.
Tăng glucose máu làm giảm sản xuất các yếu tố kích thích prostaglandin
(prostacyclin - stimulating factor - PSF), giảm hoạt tính của nitric oxide NO,
tăng bradykinin trong lớp nội mạc bị tổn thương và làm thay đổi chuyển hoá
lipoprotein và tương tác lipid - tế bào. Những thay đổi này góp phần thúc đẩy
tiến triển của mảng xơ vữa ở bệnh nhân đái tháo đường do làm giảm tính giãn
mạch của lớp nội mạc, bradykinin làm tăng tính co mạch, và tăng sinh tế bào
cơ trơn thành mạch.
6
Tăng nồng độ glucose máu làm tăng quá trình glycosyl hoá lipoprotein,
tăng tính nhạy cảm với các tác động oxy hoá. Những lipoprotein glycosyl hoá
này làm giảm tiêu fibrin và tăng độ tập trung tiểu cầu do vậy làm tăng khả
năng hình thành huyết khối; kích thích các phân tử bỏm dớnh tế bào (CAMs),
bạch cầu đơn nhõn bỏm dính vào lớp tế bào nội mạc sau đó di chuyển xuống

[89],[92]. Trong nghiên cứu của Tetsuo và cộng sự, nồng độ LDL-C nhỏ đậm
đặc có mối liên quan chặt chẽ với độ dày lớp trung nội mạc động mạch cảnh
ngay cả khi đã hiệu chỉnh về tuổi, giới, THA, ĐTĐ, CRP, hút thuốc và mức
lọc cầu thận. Theo NCEP – ATP III (National Cholesterol Education Program
- Adult Treatment Panel III - chương trình Giáo dục Quốc gia về Cholesterol
hướng dẫn điều trị cho người lớn lần III): nếu giảm 1% LDL-C thì sẽ giảm
1% nguy cơ bệnh mạch vành [84]. Trong nghiên cứu The Strong Heart Study,
các tác giả kết luận cứ giảm 1 mg/dl LDL-C sẽ giảm 12% nguy cơ bệnh tim
mạch [85], nghiên cứu khác của Stephen N. Davis cũng cho cứ thấy giảm 1
mmol/l LDL-C (18mg/dl) sẽ giảm 36% nguy cơ mạch vành [89].
• HDL-C (High density lipoprotein cholesterol)
Tầm quan trọng của HDL-C trong bảo vệ tim mạch đã được chứng minh
bởi các nghiên cứu dịch tễ học về mối quan hệ nghịch giữa nồng độ HDL-C
và nguy cơ bệnh mạch vành. Mặc dù vai trò trực tiếp lên cơ chế xơ vữa mạch
chưa được hiểu biết đầy đủ nhưng người ta thấy rằng HDL-C thấp thường kết
hợp với tăng LDL-C nhỏ đậm đặc, và liên quan đến sự xuất hiện các yếu tố
gây xơ vữa mạch khác. Trong nghiên cứu PROCAM (PROspective
CArdiovascular Munster Study), HDL-C thấp là yếu tố tiên đoán độc lập
nguy cơ bệnh mạch vành với tất cả các mức LDL-C [38], tăng 1% HDL-C sẽ
8
giảm 2-3% nguy cơ bệnh mạch vành [38]. Trong nghiên cứu UKPDS, nguy cơ
tương đối bệnh tim mạch (trong đó có bệnh mạch vành) giảm 0,15 lần với giảm
mỗi 0,1mmol/l HDL-C ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2. Các bằng chứng về vai trò bảo
vệ của HDL cũng được củng cố bởi các nghiên cứu quan sát khác [89].
• Triglyceride
Ngày nay có rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh vai trò của triglyceride
đối với nguy cơ bệnh mạch vành. Cùng với HDL-C, triglyceride là yếu tố
quan trọng góp phần vào nguy cơ tồn dư bệnh mạch máu lớn. Theo nghiên
cứu PROVE-IT TIMI- 22 (The Pravastatin or Atorvastatin Evaluation and
Infection Therapy—Thrombolysisin Myocardial Infarction 22), ngay cả khi

bệnh nhân ĐTĐ bao gồm bệnh mạch vành, đột quỵ và tử vong [60].
1.2.3.4. Hút thuốc lá
Có nhiều bằng chứng cho thấy hút thuốc lá làm tăng nguy cơ tiến triển
thành ĐTĐ và làm tăng nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ týp2 [94], ngừng
hút thuốc là làm giảm đáng kể tỷ lệ bệnh tật và tử vong do ĐTĐ [31]. Theo
Negri, bệnh nhân ngừng thuốc lá 5 năm trở lên thì nguy cơ bệnh mạch vành
gần như những người không hút thuốc lá bao giờ [33]. Trong nghiên cứu
INTERHEART, tỷ lệ bệnh mạch vành ở những người hút thuốc lá trên 20
điếu/ngày tăng 3 lần ở bệnh nhân nam và 6 lần đối với nữ không hút thuốc lá
[47]. Một nghiên cứu khác thực hiện trờn cỏc nữ điều dưỡng có ĐTĐ týp 2
cho thấy hút thuốc lá kết hợp chặt chẽ với tăng nguy cơ bệnh mạch vành và
nguy cơ này tăng cùng với số điếu thuốc hút trong ngày. So với người không
hút thuốc lá, nguy cơ tương đối bệnh mạch vành là 1,21 với người từng hút
thuốc lá trong quá khứ; 1,66 với người hiện đang hút thuốc dưới 14 điếu/ngày
và 2,68 với người đang hỳt trờn 14 điếu một ngày [11].
10
1.2.3.5. Tình trạng kháng insulin
Kháng insulin hay tăng nồng độ insulin máu xuất hiện ở phần lớn những
bệnh nhân có HCCH. Nó kết hợp chặt chẽ với các yếu tố khác của HCCH và
có mối liên quan với nguy cơ bệnh tim mạch. Cơ chế chưa rõ ràng, người ta
cho rằng kháng insulin gây rối loạn chứng năng nội mạc mạch máu thông qua
giảm tổng hợp NO - là chất gây giãn mạch chính và quan trọng nhất [25].
Kháng insulin là yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành quan trọng kể cả đối
với những đối tượng ĐTĐ týp 2. Kazunari Matsumoto và cộng sự nghiên cứu
chỉ số nhạy cảm insulin giữa 2 nhóm bệnh nhân ĐTĐ có và không có bệnh
mạch vành thấy rằng chỉ số nhạy cảm insulin ở nhóm không có bệnh mạch
vành cao hơn hẳn (3,23%/phút so với 2,4%/ phút, p < 0,01) [56].
1.2.3.6. Tình trạng tiền viêm
Biểu hiện bằng tăng protein C phản ứng (C - reactive protein - CRP),
xuất hiện phổ biến ở những đối tượng có hội chứng chuyển hóa, một trong

kháng insulin và tiên lượng nguy cơ tiến triển thành ĐTĐ týp 2 thực sự [57].
Các dữ liệu từ nghiên cứu HOPE (The Heart Outcomes Prevention
Evaluation) cho rằng bất kỳ nồng độ microalbumin niệu nào đều có giá trị
tiên lượng bệnh mạch vành ở bệnh nhân có hay không có ĐTĐ, nguy cơ tăng
cùng với tỷ lệ MAU/creatinin niệu tăng ngay cả khi nồng độ microalbumin
niệu dưới ngưỡng chẩn đoán [39]. Nghiờn cứu của Klausen và cộng sự cũng
cho kết quả tương tự [58].
1.2.4. Đặc điểm tổn thương mạch vành ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2
12
Nhiều nghiên cứu khoa học đã chứng minh tổn thương mạch vành ở
bệnh nhân ĐTĐ là tổn thương nhiều nhánh, phức tạp, lan toả và hẹp nặng, do
vậy việc điều trị can thiệp khó khăn hơn. Trong nghiên cứu của Goraya và
cộng sự tiến hành giải phẫu tổn thương mạch vành trờn cỏc đối tượng tử vong
chia làm 2 nhúm cú ĐTĐ và không ĐTĐ cho thấy: BN ĐTĐ bị xơ vữa mạch
vành giai đoạn nặng chiếm 75% và 58% là tổn thương nặng nhiều nhánh
trong khi ở BN không ĐTĐ là 55% và 48% theo thứ tự, sự khác biệt có ý
nghĩa với p < 0,001 (CI: 95%) [40]. Trong một nghiên cứu khác của Gabija và
cộng sự tiến hành đánh giá tính chất mảng xơ vữa ở bệnh nhân ĐTĐ không
triệu chứng bằng chụp MSCT (multislice Computed Tomography Scans)
mạch vành nhận thấy mảng xơ vữa lớn hơn và lan toả ở bệnh nhân ĐTĐ so
với không ĐTĐ, chính nó tạo nên tính không ổn định của mảng xơ vữa và các
biến cố mạch vành xảy ra chủ yếu do sự đứt gãy của các mảng xơ vữa này [35].
Một nghiên cứu khác của Adnal và cộng sự tiến hành đánh giá ảnh
hưởng của đái tháo đường lên quá trình hình thành cấu trúc tuần hoàn bàng hệ
mạch vành thấy rằng điểm tuần hoàn bàng hệ trung bình ở nhóm bệnh nhân
đái tháo đường là 2,41 ± 2,20 thấp hơn so với nhúm khụng đái tháo đường là
2,60 ± 2,39, điều này có thể lý giải rằng nội mạc mạch máu đóng vai trò quan
trọng trong hình thành tuần hoàn bàng hệ, và chức năng nội mạc bị rối loạn ở
bệnh nhân đái tháo đường týp 2, do đó tỷ lệ tuần hoàn bàng hệ ở bệnh nhân
đái tháo đường týp 2 thấp hơn nhiều so với bệnh nhân không đái tháo đường.

mạch vành có hoặc không có tử vong sau 10 năm, phân tầng nguy cơ và mục
tiêu điều trị đối với từng mức độ [84].
Thang điểm này tính toán dựa vào 5 yếu tố nguy cơ mạch vành chính:
tuổi, giới, tăng huyết áp, cholesterol toàn phần, HDL-cholesterol, hút thuốc lá,
14
đối với mỗi yếu tố có thang điểm riêng sau đó tính tổng và ước tính nguy cơ
bệnh mạch vành 10 năm [84].
Cỏch tính điểm yếu tố nguy cơ biến cố mạch vành
Tuổi
Tuổi
20-
34
35-
39
40-
44
45-
49
50-
54
55-
59
60-
64
65-
69
70-
74
75-
79

Tuổi 20-39 40-49 50-59 60-69 70-79
Thuốc lá F M F M F M F M F M
Không 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0
Có 9 8 7 5 4 3 2 1 1 1
Nguy cơ 10 năm
Tổng số điểm
(nữ)
Nguy cơ 10 năm
(%) (nữ)
Tổng số điểm
(nam)
Nguy cơ 10 năm
(%) (Nam)
< 9 < 1 < 0 < 1
9 1 0 1
10 1 1 1
11 1 2 1
12 1 3 1
13 2 4 1
14 2 5 2
15 3 6 2
16 4 7 3
17 5 8 4
18 6 9 5
19 8 10 6
20 11 11 8
21 14 12 10
22 17 13 12
23 22 14 16
24 27 15 20

Ánh Diệu [2] áp dụng thang FRS dự báo bệnh mạch vành ở 101 bệnh nhân
ĐTĐ týp 2 thấy rằng tỷ lệ bệnh mạch vành tăng cao ở nhúm có nguy cơ cao
một cách có ý nghĩa [2].
17
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm tất cả các bệnh nhân tuổi từ 20-79, có triệu chứng đau ngực,
được chụp mạch vành tại phòng tim mạch can thiệp và được chẩn đoán ĐTĐ
týp 2, điều trị tại Khoa C3, C4 Viện Tim mạch - Bệnh viện Bạch Mai, từ
tháng 10/2010 đến tháng 5/2011.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
Bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu phải thỏa mãn tất cả các điều kiện sau:
- Bệnh nhân có triệu chứng đau ngực và được chụp mạch vành.
- Bệnh nhân đã được chẩn đoán ĐTĐ hoặc mới được chẩn đoán ĐTĐ
theo Hội đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) năm 2010 [14]. Ở Việt Nam
chưa thống nhất về lựa chọn tiêu chuẩn HbA1C trong chẩn đoán
ĐTĐ đồng thời trong nghiên cứu của chúng tôi có thể có tình trạng
tăng glucose máu giả tạo do stress, do đó chúng tôi phối hợp tiêu
chuẩn nồng độ HbA1C ≥ 6,5% kèm theo các tiêu chuẩn về tăng
glucose máu và các triệu chứng khác.
- Bệnh nhân được chẩn đoán ĐTĐ týp 2 phù hợp với điều kiện Việt
Nam [6]:
 Bệnh diễn biến từ từ.
 Glucose máu tăng ở mức vừa phải (< 15mmol/l).
 Không có nhiễm toan ceton.
 Thường có cơ địa béo phì hiện tại hoặc trước đó.
 Glucose máu ổn định khi áp dụng một hoặc nhiều biện pháp như
chế độ ăn, thuốc viên hạ glucose máu hoặc insulin liều thấp.
18

• Hỏi bệnh
 Khai thác tiền sử bản thân:
 THA và mức độ tuân thủ điều trị
 Rối loạn lipid máu
 Hút thuốc lá
 Đỏi tháo đường, thời gian mắc đái tháo đường.
 Tiền sử gia đình có người tử vong do các bệnh tim mạch hoặc
tai biến mạch não.
• Khám lâm sàng:
Bệnh nhân được thăm khám toàn thân, đặc biệt lưu ý tới:
 Đo chu vi vòng bụng: bằng thước dõy khụng chun giãn. Lấy số
đo chu vi vòng bụng nhỏ nhất từ mào chậu đến rốn, bệnh nhân
thở nhẹ nhàng, khụng thóp bụng, đo đến 0,5 cm.
 Đo vòng mông: bằng thước dây không chun giãn. Đo vị trí ngang
qua 2 mấu chuyển lớn xương đùi, tính bằng cm, đo đến 0,5 cm.
 Tính chỉ số eo/hụng (WHR: Waist-to- Hip Ratio):
WHR= vũng bụng/vũng mụng.
 Đo huyết áp: Tất cả bệnh nhân đều được đo bằng huyết áp kế
ANKA sản xuất tại Nhật Bản. Đo huyết áp tiến hành trong
trạng thái nghỉ ngơi ít nhất 10 phút, không có gắng sức, không
dùng chất kích thích trước đó.
• Xét nghiệm: Tất cả bệnh nhân đều được xét nghiệm máu bao gồm:
20
 Công thức máu: được làm tại Khoa Huyết học Bệnh viện Bạch
Mai bào bằng các loại máy đếm tế bào tự động (máy ADVIA
120, máy CD 3700, máy XT 1800i).
 Sinh hóa máu được làm tại Khoa Sinh hóa Bờnh viện Bạch Mai
bao gồm sinh hóa máu cấp cứu được làm trong vòng 3 giời sau
thời điểm bệnh nhân vào viện:
 Glucose, hsCRP, Ure, creatinin. Sinh hóa mỏu thường: Lấy

 Kiểm soát kém: HbA1C ≥ 7%.
• Đánh giá tổn thương mạch vành:
 Mức độ hẹp mạch vành: được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm
(%) độ hẹp so với đoạn mạch vành bình thường ngay sát chỗ
hẹp. Theo khuyến cáo của Hiệp hội Tim mạch Hoa
kỳ/Trường môn Tim mạch Hoa Kỳ (AHA/ACC) năm 2009
[26], chúng tôi chia mức độ hẹp mạch vành như sau:
- ĐMV bình thường hoặc xơ vữa nhẹ: hẹp <50%.
- Xơ vữa gây hẹp vừa: 50%  70%.
- Xơ vữa gây hẹp nặng: > 70% ở mạch vành phải, mạch
liên thất trước và nhánh mũ, hoặc >50% với động mạch
vành trái, hoặc tắc hoàn toàn.
22
Như vậy với mức độ hẹp 50% trở lên được coi là tổn thương
có ý nghĩa.
 Số nhánh mạch vành tổn thương:
- 1 nhánh.
- 2 nhánh.
- 3 nhánh.
Bước 3: Tính nguy cơ bệnh mạch vành theo thang điểm Framingham
Dựa vào thang điểm Framingham. Lần lượt tiến hành:
• Cho điểm từng yếu tố nguy cơ:
 Tuổi
 HDL-C
 Cholesterol toàn phần
 Hút thuốc lá
 Huyết áp tâm thu
• Tính tổng điểm đối với từng cá thể.
• Dựa vào bảng nguy cơ suy ra nguy cơ bệnh mạch vành (tính bằng
%) tương ứng với số điểm tính được .

• So sánh nguy cơ bệnh mạch vành trung bình giữa nhúm cú yếu tố
nguy cơ và không có yếu tố nguy cơ.
• Áp dụng phương trình tuyến tính, tìm mối liên quan giữa nguy cơ
bệnh mạch vành dựa vào FRS với 1 số yếu tố nguy cơ.
• So sánh mức độ tổn thương mạch vành và số nhánh mạch vành tổn
thương theo từng nhóm nguy cơ.
24
Bước 5: Đánh giá vai trò của thang điểm Framingham trên nhóm
bệnh nhân nghiên cứu
Phân nhóm đối tượng nghiên cứu thành nhóm nam, nữ và nhóm đối
tượng chung:
- Tính tỷ lệ có bệnh mạch vành theo từng nhóm nguy cơ.
- So sánh tỷ lệ bệnh mạch vành theo từng nhóm nguy cơ.
- Áp dụng đường cong ROC tìm ngưỡng tối ưu chẩn đoán bệnh
mạch vành.
2.2.4. Xử lý số liệu
• Số liệu của nghiên cứu được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0.
• Các biến định tính được tính tỷ lệ phần trăm, các biến định lượng
được tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn. So sánh có ý nghĩa
thống kê khi p < 0,05.
• Áp dụng đường cong ROC tìm ngưỡng tối ưu chẩn đoán. Độ chính
xỏc được tính bằng diện tích dưới đường cong (AUC - Area Under
the Curve). Xác định đơn giản mức độ chính xác dựa vào hệ thống
điểm sau đõy:
 0,90 -1 : rất tốt
 0,80 - 0,90 : tốt
 0,70 - 0,80 : khá tốt
 0,60 - 0,70 : tồi
 0,50 - 0,60 : không giá trị
• Sử dụng hệ số tương quan r tỡm hiểu mối liên quan giữa hai biến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status