Về thể loại sử thi thần thoại
ở Tây Nguyên
Theo giới nghiên cứu thì trên thế giới có ba loại sử thi: sử thi dân gian, sử thi
do người có tài năng dựa vào di sản dân gian mà sáng tạo nên tác phẩm và sử thi do
các nhà văn sáng tác. Căn cứ vào sử thi Tây Nguyên, trước hết là sử thi Ê Đê, Mơ
Nông, chúng tôi cho rằng sử thi dân gian là loại sử thi do các nhóm người tài giỏi trong
cộng đồng am hiểu các tri thức về xã hội, tín ngưỡng, phong tục tập quán, địa lý, động
thực vật và mượn lời nói vần dân tộc để sáng tạo nên tác phẩm.
Sử thi được sáng tạo trên cái nền văn hoá truyền thống dân tộc, như sử
thi Kalêvala
(1)
của Phần Lan, sử thi Iliat - Ôđixê
(2)
của Hy Lạp, Mahabharata -
Ramayana
(3)
của Ấn Độ. Sử thi do các nhà văn sáng tác theo “phong cách sử thi”
nhưÊnâyđa của Virgie (nhà thơ La Mã cổ đại), Gerusalemme giải phóng của Torquato
Tasso (nhà thơ Ý), Thần khúc của Dante (thi hào người Ý), v.v Sử thi các dân tộc
thiểu số ở nước ta như Đẻ đất đẻ nước của người Mường, Dăm San của người Ê
Đê, Đẻ Tiăng (hay Bông, Rong và Tiăng) của người Mơ Nông thuộc phạm trù sử thi
cổ sơ. Còn sử thi Iliat - Ôđixê của Hy Lạp, Mahabharata và Ramayana của Ấn Độ
thuộc phạm trù sử thi cổ đại (còn gọi là sử thi cổ điển). Sử thi cổ sơ và sử thi cổ đại
khác nhau về cơ sở xã hội đã sản sinh ra chúng, khác nhau ở một số khía cạnh của hệ
nghệ nhân có người chết thì ba năm sau mới được hát kể (tất nhiên cũng không được
hát kể tại nhà mình). Trong làng có người chết thì không ai được hát kể. Nếu muốn
phải ra khỏi phạm vi bon làng. Khi ot ndrong qua đêm, sáng mai chủ nhà phải có lễ
cúng các thần cư ngụ xung quanh nhà để báo rằng mình đã nhờ người hát
kể ndrong cho cộng đồng nghe.
Khi nghệ nhân muốn diễn xướng tại nhà mình thì phải giết một con gà để làm
cúng thần. Theo người Mơ Nông, nếu không làm cúng mà cứ hát kể, người trong gia
đình nghệ nhân sẽ bị ốm đau, bệnh tật. Đó là tính thiêng của ot ndrong trong đời sống
cộng đồng. Rất có thể trước đây nó đã được coi trọng như những báu vật của thị tộc,
bộ lạc.
2. Lịch sử hóa hiện thực qua con đường thần thoại
Ở “xứ Bu Prâng” - cái nôi của sử thi Mơ Nông - nhiều sự vật được thần thoại
hoá: đó là nàng Kông (chị Lêng) gội đầu bằng nước cơm rồi đem đổ vào núi thành
nguồn nước mạch chảy quanh năm; hòn đá có hình quả lục lạc là chiếc lục lạc đeo cổ
con trâu của Ndu (em con dì của nhân vật Tiăng); hòn đá có hình chiếc lược là lược
chải đầu của bà Bung “thời ndrong”, v.v
Các mẩu truyền thuyết huyền thoại kể trên được các thế hệ truyền cho nhau
nghe. Qua con mắt của chúng ta, sự nhận thức thế giới khách quan của họ là thiên về
thêu dệt, hoang đường. Nhưng với họ nhiều hiện tượng trong thế giới được sự hình
thành và cụ thể hoá bằng các vật hữu hình là những cái có thật
(5)
.
Người Mơ Nông cho rằng ot ndrong là “lịch sử” của tộc người họ lúc mới sinh
thành. Lâu nay, nhận thức của cộng đồng về giống nòi, tổ tiên đều được quy chiếu
từ ot ndrong. Sử thi ot ndrong thoả mãn nhận thức của cộng đồng về nguồn gốc vũ trụ,
con người, vạn vật và những hoạt động mang tính thần thoại của con người thời viễn
cổ.
Khi diễn xướng ndrong nghệ nhân mong muốn một cách chân thành rằng người
nghe sẽ nắm được “thời ndrong” - thời khởi nguyên của tộc người họ.
Vũ trụ được nói tới trong sử thi Mơ Nông mang tính hỗn mang. Việc vi phạm
người. Nhân vật Tiăng không có được khả năng sáng tạo siêu nhiên như nhân vật
Bông, Rong. Hành động của nhân vật này vẫn được tiến hành theo cách thức ma thuật,
biến hoá nhưng vẻ thần thoại đã giảm đi ít nhiều.
Về trang sức, vũ khí, diện mạo của nhân vật anh hùng chiến trận trong sử thi Mơ
Nông được mô tả muôn màu muôn vẻ, chứ không chỉ có khiên đao, áo dài khuya, mặt
đỏ hồng như trong khan sử thi Ê Đê. Khả năng, sức mạnh của nhân vật trong ot
ndrong là siêu phàm, vạn năng. Đó là sức mạnh quăng quật của bão tố, là sự biến hoá
khôn lường.
Các nhân vật chính là con người trong ot ndrong được thể hiện qua màn sương
huyền thoại. Sức mạnh của người anh hùng bên cạnh sức mạnh thể chất có thể sánh
ngang với thần linh, họ còn có phép thuật biến hoá khôn lường. Trong đó các nhân vật
đánh nhau bằng trận nước lụt, bằng lửa cháy rừng, bằng cơn gió xoáy. Con người hoá
thành trâu bò húc nhau, thành con chim bay lên trời, con cá bơi trên nước. Những đoàn
quân “mặc áo lông chim” bay đi đánh nhau che kín cả ánh nắng mặt trời.
4. Thần linh
Thế giới thần linh trong sử thi Mơ Nông hoạt động ngấm ngầm mà ồn ào, sôi
động. Thường thì mỗi nhân vật chính trong ot ndrong có một vị thần phù hộ. Tất cả
các vị thần đều không có quyền uy tuyệt đối, đều không ngự ở một chốn thiêng nào
cả
(7)
, các vị thần luôn luôn tham gia vào các công việc của con người như hình với
bóng.
Hình dáng thần linh không kết tinh sắc đẹp thể chất của con người. Có vị thần
“ba chân, ba tay”, có vị thần “sáu chân, ba tay”, có vị thần “mười chân, chín tay”. Đặc
biệt là, cuộc sống giữa người trần gian với các vị thần không có “phân biệt” gì cả. Tất
cả xen cài vào nhau như trong một vũ trụ đang còn ở tình trạng hỗn mang vậy. Điều đó
chứng tỏ rằng quan niệm nguyên thuỷ sơ khai còn tồn tại một cách vững chắc và chi
phối mạnh mẽ nghệ nhân khi họ sáng tạo ot ndrong.
Thần linh trong sử thi Mơ Nông thật sự là “bộ máy hô hấp” góp phần quan trọng
tạo nên cái hơi thở phập phồng của cuộc sống sử thi. Đây là một trong những tiêu chí