Tình hình văn học chữ Hán
nửa sau thế kỉ XIX Lời Tòa soạn: Nhà văn, nhà giáo, nhà nghiên cứu, phê bình văn học Trần Thanh
Mại (1911-1965), quê ở Thừa Thiên - Huế. Sinh thời Trần Thanh Mại đã viết nhiều
chuyên luận, chuyên khảo, tiểu luận, phần lớn đã được in lại trong sách Trần Thanh
Mại - Toàn tập (Hồng Diệu sưu tầm, biên soạn, giới thiệu), 3 tập, Nxb. Văn học, H,
2004
Bản thảo Tình hình văn học chữ Hán nửa sau thế kỷ XIX do nhà văn Hồng
Diệu và gia đình cố nhà văn Trần Thanh Mại đã lưu giữ và cung cấp. Trân trọng những
đóng góp của nhà khoa học Trần Thanh Mại và tôn trọng tính lịch sử, về cơ bản chúng
tôi in nguyên văn bản thảo và giới thiệu cùng bạn đọc.
Nếu như thơ văn chữ Hán đã chiếm ưu thế trong văn học phong kiến nửa đầu
thế kỉ XIX, thì tình hình ấy vẫn còn được duy trì ở thời kì nửa sau, và hầu như khối
lượng thơ văn chữ Hán, số lượng người sáng tác bằng chữ Hán ở thời kì này lại còn tăng
thêm. Không những chúng ta có một danh sách tác gia dài dòng hơn, mà danh sách tác
phẩm của từng nhà thơ cũng dài dòng hơn; số người đã từng ghi dăm bảy tập thơ văn
trong “bản thành tích” của mình không phải là ít, thậm chí có khá nhiều người có những
sự nghiệp khá qui mô như Nhữ Bá Sĩ, Nguyễn Tư Giản, Miên Thẩm, Miên Trinh, Phạm
Phú Thứ, đến cả Tự Đức nữa.
Câu thơ của người đương thời Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán - Thi đáo Tùng,
Tuy thất Thịnh Đường, nghĩa là: Văn như văn của Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát thì
thời Tiền Hán không đáng kể nữa; mà thơ đến như thơ của Tùng Thiện Vương (Miên
Thẩm) và Tuy Lý Vương (Miên Trinh) thì thời Thịnh Đường cũng chẳng thấm vào đâu!
Nó là một câu thơ huênh hoang, khoác lác, không có thực chất, nhằm đề cao một cách
nhà thơ Đường đã làm sẵn, hoặc làm những bài “thuận nghịch độc”, nghĩa là đọc xuôi
cũng được, mà đọc ngược từ cuối trở lên cũng thành bài thơ, hay là những bài đọc xuôi
thì là thơ chữ Hán, mà đọc ngược lại thì là thơ tiếng Việt. Những thơ kiểu ấy thì thử hỏi
nội dung sẽ nói lên được cái gì?
Cho nên, đứng về đại thể mà nói, nội dung thơ văn thời kì này là nghèo nàn, nhạt
nhẽo, nếu không phải ngâm trăng vịnh gió thì thù tạc, đón đưa. Tư tưởng là tư tưởng bi
quan, tiêu cực, hoặc thoát ly thực tiễn xã hội. Tâm sự người làm thơ là tâm sự bắt
chước; nếu có thì đó là tâm sự của kẻ bất mãn cá nhân vụn vặt, thi không đỗ, quan
không thăng, bị đàn hặc oan, bị trừng phạt bậy, v.v
Tư tưởng triết lí, khoa học, đạo đức thời này khá tối tăm, bế tắc. Trừ một số ít
người mà tên họ có thể đếm trên đầu ngón tay, có cơ hội tiếp xúc với cái học phương
Tây, đã tỏ ra có cái nhìn tương đối rộng, xa, sáng suốt, như Nguyễn Đức Hậu, Nguyễn
Điều, Đinh Văn Điền, đặc biệt như Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Lộ Trạch, còn thì ù ù
cạc cạc với nhau, như bị bịt mắt bưng tai, quanh quẩn trong hầm kín. Công việc đầu tiên
của Phan Thanh Giản khi được giao trách nhiệm trông coi việc khai một mỏ bạc ở Thái
Nguyên, là lập đàn và viết sớ cầu thần cho khí vàng tụ lại chỗ mỏ đừng bay mất đi. Lý
Văn Phức khi đi sứ sang Phúc Kiến, giao trả những người dân chài Trung Quốc bị bão
tấp vào bờ biển ta, nhất định từ chối mọi biện pháp để nói hoặc viết ra tên húy của Minh
Mạng cho viên tổng đốc Phúc Kiến viết vào báo cáo gửi lên triều Mãn Thanh, kể cả biện
pháp ngồi nhìn cho người ta lần lượt chỉ từng chữ một trong bộ Khang Hy tự điển để đến
chữ đúng tên thì chỉ cần gật một cái cho người ta biết. Đến biện pháp ấy, Lý cũng từ
chối, không chịu theo, cho rằng để người khác biết tên vua mình là thất trung. Nhữ Bá Sĩ
làm văn tế vợ chết trẻ, hứa với linh hồn vợ sẽ lấy ngay vợ khác, để chóng có con trai nó
sẽ thờ cúng người vợ đã chết đi! Đại loại, ý thức hệ thuở bấy giờ là như vậy. Cho nên,
thơ văn chữ Hán thời kì này, nếu lấy số nhiều mà nói, không có giá trị mấy, không có
tác dụng mấy đối với xã hội, và tiếng thơ của phần lớn các nhà thơ cũng tắt liền khi hơi
thở họ tắt.