ĐẶT VẤN ĐỀ
U phì đại lành tính tiền liệt tuyến hay còn gọi u xơ tiền liệt tuyến là một
loại u lành tính thường xuất hiện ở nam giới khi tuổi bắt đầu cao. Theo tài liệu
nghiên cứu dịch tễ học của các nước Mỹ, Nhật, Singapore cho biết có khoảng
50% nam giới ở tuổi 60-70 và 80% ở độ tuổi ngoài 80 mắc bệnh u xơ tiền liệt
tuyến. Ở Việt Nam theo Trần Đức Hòe, tỷ lệ bệnh phì đại lành tính tiền liệt
tuyến ở nam giới trên 50 tuổi là 50%, tỷ lệ này tăng theo lứa tuổi [8], [10].
Hầu hết bệnh nhân u xơ tiền liệt tuyến đều có các triệu chứng của đường
tiểu dưới như tiểu phải rặn, tia tiểu yếu, tiểu gấp, tiểu nhiều lần, tiểu đêm…
Tình trạng rối loạn tiểu tiện này ảnh hưởng đến đời sống và tâm lý của người
bệnh, đồng thời gây nên nhiều biến chứng phức tạp. Vì vậy mục tiêu chính
của điều trị là cải thiện tình trạng rối loạn tiểu tiện của bệnh nhân. Để đánh
giá mức độ cải thiện, trước đây chủ yếu dựa vào lâm sàng. Tuy nhiên, nhờ
vào sự tiến bộ của khoa học, nhiều phương tiện chẩn đoán và theo dõi bệnh đã
được phát triển và đã giúp ích trong chẩn đoán và theo dõi điều trị bệnh như
siêu âm, xét nghiệm niệu động học…
Niệu động học là phương pháp khám và đo đạt khả năng đào thải nước tiểu
của đường tiểu. Trong thực hành lâm sàng, các phương pháp khảo sát niệu
động học nhằm để đánh giá đường tiểu dưới. Năm 1858 Heidenlein và
Kolberg đã sử dụng phương pháp đo bàng quang đồ, năm 1897 Rehfish mới
mô tả phương pháp này. Tuy nhiên các nghiên cứu cơ bản về niệu động học
trên kinh nghiệm cũng như trên lâm sàng đã được Enhoning (1981) cũng như
Bors và Comarr (1981) đặt nền móng [23]. Đây là một lĩnh vực chuyên sâu
của niệu động học, còn khá mới và đòi hỏi những trang thiết bị như máy đo
lưu lượng dòng tiểu, áp lực bàng quang, ghi hình niệu đạo. Ở nhiều nước trên
1
thế giới việc sử dụng các trang thiết bị được áp dụng cho nghiên cứu niệu
động học và đặc biệt dùng các chỉ số này áp dụng trong việc chẩn đoán và
theo dõi những bệnh nhân có rối loạn tiểu tiện.
Trong điều kiện nước ta, việc sử dụng các phương pháp khảo sát niệu động
học cơ bản góp phần cho chẩn đoán, theo dõi và đánh giá chức năng ở bệnh
thùy: thùy trước, thùy giữa, hai thùy bên, thùy sau [19].
- Về phương diện giải phẫu người ta chia tiền liệt tuyến làm 3 thùy là thùy
phải và thùy trái, ngăn cách bởi một rãnh ở mặt sau. Thùy thứ ba là eo tiền liệt
tuyến hay thùy giữa [17].
3
1.1.3. Hệ thống mạch máu và thần kinh của tiền liệt tuyến
- Động mạch: tiền liệt tuyến được cấp máu bởi động mạch bàng quang dưới
và động mạch trực tràng giữa [17], [32].
- Tĩnh mạch: tạo thành đám rối tĩnh mạch tiền liệt [17], [32].
- Thần kinh: đám rối tuyến tiền liệt tách từ đám rối hạ vị [17], [32].
1.2. TẦN SUẤT VÀ DỊCH TỄ CỦA BỆNH U XƠ TIỀN LIỆT TUYẾN
Từ lâu người ta đã ghi nhận mối liên hệ mật thiết giữa bệnh u xơ tiền liệt
tuyến và độ tuổi nam giới. Bệnh này thường xuất hiện ở tuổi 40 nhưng thường
có triệu chứng lâm sàng ở tuổi trên 45. Khoảng 50% nam giới từ 60 tuổi bị u
xơ tiền liệt tuyến và tỷ lệ này là 90% ở tuổi 85 [25], [35].
Ở Hà nội trước năm 1954 Huard và Mayer May cho rằng bệnh này ít gặp hơn
ở người Châu Á so với người Châu Âu. Barry-1990 báo cáo u xơ tiền liệt tuyến
gặp ở người da đen nhiều hơn nguời da trắng (trích theo Nguyễn Đình Hóa)
[11].
Hiện nay vẫn chưa có một kết luận chắc chắn nào về mối liên quan của
bệnh u xơ tiền liệt tuyến với các yếu tố như dân tộc, địa lý, chế độ ăn uống,
thói quen hút thuốc lá, bia rượu,…
1.3. CƠ CHẾ BỆNH SINH CỦA U XƠ TIỀN LIỆT TUYẾN
1.3.1. Yếu tố nội tiết
Trong những năm gần đây, người ta tìm ra vai trò của Testosteron, đúng hơn là
Dihydrotestosteron (DHT), tác động vào tế bào tiền liệt tuyến, thứ đến là
Oestradial có tác dụng giúp DHT ít nhất là cũng giai đoạn đầu của bệnh [5], [19].
1.3.2. Yếu tố tăng trưởng
Người ta nhận thấy sự tác động sinh học của các yếu tố ngoại sinh lên tiền
liệt tuyến được qua trung gian các yếu tố điều hòa sự tăng trưởng peptit.
5
1.5.3. Vi thể
Về vi thể, gồm các thành phần tuyến, chất keo, và sợi cơ trơn với tỷ lệ khác
nhau. Các sợi cơ trơn có vai trò quan trọng trong biểu hiện bệnh lý của u xơ
tiền liệt tuyến. Thành phần tuyến gồm các chùm nang, có nhiều hình nhú bên
trong. Tỷ lệ giữa mô tuyến và mô đệm là 22-40% và 60-80% (Bostwick). Có
thể tìm thấy hình ảnh tăng sản nội biểu mô tuyến tiền liệt. Viền các chùm
nang là hai lớp tế bào: lớp tế bào tiết, hình khối, cao, với nhân nằm sát màng
đáy; lớp tế bào đáy dẹt và nhỏ, không thấy nhân chia [19].
1.6. CHẨN ĐOÁN
1.6.1. Chẩn đoán xác định
1.6.1.1. Hỏi bệnh sử
Theo Trần Văn Sáng, u xơ tiền liệt tuyến có đặc điểm: bệnh tiến triển chậm,
kéo nhiều năm, do đó bệnh nhân thích nghi dần, khó xác định thời điểm khởi
phát của bệnh. Vì vậy, khai thác bệnh sử có giá trị trong chẩn đoán [18].
1.6.1.2. Triệu chứng cơ năng
Hội chứng kích thích bàng quang
Vì phải luôn luôn tăng cường sức co bóp để chống đối với sức cản gây nên
do u xơ tiền liệt tuyến, nên bàng quang dễ bị kích thích hơn bình thường. Có 2
dấu hiệu 1) Buồn tiểu nhưng không nhịn quá vài phút hoặc nhịn rất khó vì
bàng quang ức chế kém. 2) Tiểu nhiều lần cả ngày lẫn đêm, đặc biệt là ban
đêm gây mất ngủ, sau là tiểu nhiều về ban ngày.
Hội chứng tắc nghẽn
- Tiểu khó: 3 dấu hiệu 1) Phải rặn nhiều mới tiểu được; 2) Tia tiểu yếu phải
rặn lâu mới tiểu được; 3) Phải tiểu ngắt quãng.
- Có nước tiểu tồn dư: có 2 dấu hiệu 1) Có cảm giác chưa tiểu hết khi vừa
tiểu xong; 2) Phải đi tiểu lại trong vòng chưa đầy 2 giờ.
6
1.6.1.3. Triệu chứng thực thể
- Trước tiên cần đánh giá tình trạng đi tiểu của bệnh nhân, điều này cho phép
3 mức độ: rối loạn nhẹ từ 0-7, rối loạn trung bình từ 8-19 điểm, rối loạn nặng
từ 20-35 điểm [21], [28].
1.6.1.6. Bảng điểm về chất lượng cuộc sống (Quality of Life)
Điểm chất lượng cuộc sống (CLCS) là một câu hỏi duy nhất để bệnh nhân
đánh giá về những triệu chứng hội chứng tiền liệt tuyến lên CLCS của bệnh
nhân. Qua các lần họp Hiệp hội Tiết niệu quốc tế đề nghị thêm 1 câu hỏi số 8
vào bảng đánh giá triệu chứng AUA-7 nhằm đánh giá CLCS của bệnh nhân.
Câu hỏi nếu ông sống mãi với triệu chứng như thế này, ông nghĩ như thế nào?
Câu trả lời biến thiên từ hoan nghênh đến không chịu được hoặc cho điểm số
từ 1 đến 6, ghi nhận theo các mức sau: 1-2 điểm triệu chứng nhẹ, 3-4 điểm:
triệu chứng trung bình, 5-6 điểm: triệu chứng nặng [19].
1.6.1.7. Xét nghiệm thăm dò
Siêu âm
Là xét nghiệm tương đối có giá trị và dễ thực hiện. Siêu âm cho phép đo các
đường kính trước sau của tiền liệt tuyến, sự phì đại của thành bàng quang trước
và sau khi đi tiểu, tính được kích thước của u xơ. Siêu âm có đầu dò trong trực
tràng cho phép đo chính xác khối lượng u, đặc biệt là phì đại thùy giữa. Phát
hiện các điểm giảm âm của ung thư tiền liệt tuyến. Siêu âm giúp đo thể tích cặn
bàng quang. Ngoài ra, siêu âm phát hiện được các biến chứng kèm theo như
sỏi, túi thừa, u bàng quang, thận và niệu quản do ứ nước [5], [19].
Định lượng PSA huyết thanh
8
- Bình thường PSA trong máu từ 2-4 ng/ml. PSA có thể tăng theo tỷ lệ thuận
với trọng lượng của tiền liệt tuyến. Nếu PSA trong máu bệnh nhân trên
30ng/ml thì cần phải làm sinh thiết để phát hiện ung thư. Do đó PSA chỉ là
chất theo dõi sau điều trị [18].
- Tuy nhiên, PSA cũng tăng trong trường hợp viêm tiền liệt tuyến cấp tính, u
xơ tiền liệt tuyến gây bí tiểu hoặc định lượng sau khi khám trực tràng.
Các xét nghiệm để đánh giá tình trạng chung :
- Xét nghiệm urê, creatinine máu để đánh giá chức năng thận.
việc xử lý các dữ liệu của xét nghiệm niệu động học được thuận lợi hơn
nhiều. Ngày nay, các hệ thống máy tính kỹ thuật số đã được ứng dụng vào các
xét nghiệm niệu động học.
1.7.2. Phép đo niệu dòng đồ
- Đây là phép đo duy nhất không xâm nhập trong các phép đo niệu động học.
Cách đo lại khá đơn giản: chỉ cần bệnh nhân đi tiểu một lượng thích hợp vào
phễu hứng của máy đo vốn được gắn kết với một máy biến năng, rồi trọng
lượng của nước tiểu sẽ được chuyển thành dung tích và ghi lại thành biểu đồ
với tốc độ ml/giây. Phép đo niệu dòng là quan trọng nhất trong các phép đo
niệu động học, có thể dùng như là một xét nghiệm tầm soát về chức năng
đường tiểu dưới, nhanh chóng và rẻ tiền [3].
- Phép đo niệu dòng đồ là đo tốc độ dòng nước tiểu mà cụ thể là thể tích
nước tiểu tống thoát được trong một đơn vị thời gian (ml/giây) [24].
- Niệu dòng đồ được vẽ trên trục toạ độ: trục thẳng đứng (trục Oy) biểu diễn
lưu lượng dòng chảy của nước tiểu (đơn vị ml/giây) và trục ngang (trục Ox)
biểu diễn thời gian (đơn vị giây).
- Các thông số của niệu dòng đồ:
10
+ Lưu lượng tối đa (Qmax): nếu không có sự rặn mạnh của thành bụng và
nếu đường biểu diễn liên tục thì Qmax dễ dàng đọc được trên đường cong
biểu diễn của niệu dòng đồ. Qmax bị chi phối bởi các yếu tố: thể tích nước
tiểu, yếu tố tâm lý, tuổi tác và sức rặn của thành bụng, trong đó yếu tố thể tích
nước tiểu là đáng kể nhất [8].
+ Lưu lượng trung bình (Qave): là thương số của thể tích đi tiểu với thời
gian dòng tiểu [23]. Qmax có độ chuyên biệt cao hơn Qave và được sử dụng
trong lâm sàng nhiều hơn. Theo Siroky thì Qmax là một chỉ điểm của tình
trạng bế tắc dưới bàng quang nhạy hơn so với Qave [8]. Qave có thể bị sai
trong trường hợp bệnh nhân tiểu gián đoạn hoặc tiểu són cuối dòng.
+ Thời gian dòng tiểu (TQ): là thời gian thật sự dòng nước tiểu chảy vào máy
[8].
( Qmax, Qave thấp, Thời gian tiểu kéo dài)
1.7.3. Đo thể tích cặn bàng quang
- Là lượng nước tiểu còn sót lại trong bàng quang sau khi đi tiểu xong. Theo
Trần Văn Sáng, thể tích cặn bàng quang (RU) có giá trị rất lớn vì nó phản ánh
khá trung thực mức độ tắc nghẽn do u xơ tiền liệt tuyến gây nên. Bình thường
thể tích cặn vào khoảng 10-30 ml, thể tích cặn càng lớn chứng tỏ sự tắc nghẽn
càng nhiều [18].
- Có 2 cách đo RU: Cách đo gián tiếp: bằng cách đo qua siêu âm, đây là
phương pháp không xâm lấn nhưng có thể có sai số. Cách đo trực tiếp: bằng
phương pháp thông tiểu thì chính xác hơn, nhưng đây là phương pháp xâm
lấn, có thể gây nguy cơ nhiễm trùng.
- Đối với bệnh lý u xơ tiền liệt tuyến thì khi thể tích cặn bàng quang lớn hơn
100 ml thì phải có can thiệp ngoại khoa giải quyết nguyên nhân.
1.7.4. Các phương pháp khác
Ngoài các phương pháp nêu trên, một số các phương pháp khác cũng
đang được sử dụng như phương pháp đo áp lực bàng quang, đo áp lực niệu
đạo, phương pháp ghi điện cơ, siêu âm niệu động học, quay phim niệu
động học [3], [4].
13
Hình 1.4. Máy đo niệu động học hiệu Urodynamic 9301
14
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Gồm 34 bệnh nhân u xơ tiền liệt tuyến được phẫu thuật cắt đốt nội soi u xơ
qua niệu đạo từ tháng 5 năm 2008 đến tháng 5 năm 2009.
Tiêu chuẩn loại trừ: Những bệnh nhân không đo được niệu dòng đồ trước
phẫu thuật.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Áp dụng nghiên cứu tiến cứu mô tả.
Câu hỏi nếu ông
sống với tình
trạng tiết niệu
hiện nay, ông
thấy thế nào?
Rất
tốt
Tốt
Tạm
được
Vừa
phải
Không
thích
thú
Khốn
khổ
Không
thể chịu
đựng
được
0 1 2 3 4 5 6
Ghi nhận theo các mức sau: 1-2 điểm triệu chứng nhẹ, 3-4 điểm: triệu
chứng trung bình, 5-6 điểm: triệu chứng nặng [18], [19].
2.2.5. Bảng đánh giá các triệu chứng theo thang điểm quốc tế IPSS.
Chúng tôi tiến hành hỏi và cho điểm dựa theo thang điểm IPSS theo
khuyến cáo của Hội Tiết niệu Hoa Kỳ (1992). Tiến hành đánh giá trước
phẫu thuật và trước khi bệnh nhân xuất viện bằng cách phỏng vấn bệnh nhân.
16
Bảng 2.2. Bảng đánh giá thang điểm quốc tế IPSS
tiểu lại như vậy
0 1 2 3 4 5
4. Cảm thấy khó nín
tiểu khi muốn tiểu ?
0 1 2 3 4 5
5. Tia tiểu yếu khi đi
tiểu?
0 1 2 3 4 5
6. Phải rặn hoặc rặn có
sức mới có thể bắt đầu
tiểu được
0 1 2 3 4 5
7. Trung bình mỗi
đêm, ông phải dậy để
Không 1 lần 2 lần 3 lần 4 lần 5 lần
0 1 2 3 4 5
Đánh giá: Với 7 câu hỏi, cho điểm từ 0-5 điểm, điểm tối đa của 7 câu hỏi là
35 điểm. Ghi nhận theo các mức sau: từ 0 - 7 điểm: nhẹ, từ 8 - 19 điểm: trung
bình, từ 20 - 35 điểm: nặng [21], [28].
2.2.6. Đo niệu dòng đồ
- Chỉ định: Đo bệnh nhân trước phẫu thuật và trước khi xuất viện.
- Phương tiện: Máy URODYN 1000 của hãng Medtronic 2003.
- Cách tiến hành:
+ Truớc khi đo niệu dòng đồ khoảng 30 phút, bệnh nhân uống khoảng
300ml nước, sau đó hướng dẫn và giải thích cách đo niệu dòng đồ. Người
bệnh phải được hướng dẫn đi tiểu vào dụng cụ đo niệu dòng đồ một cách
17
thoải mái. Lúc đo, chỉ có một mình bệnh nhân trong phòng với tư thế thuận
tiện.
bằng 1, nên khối lượng TLT(P) được tính theo công
thức: P = Vx 1= 0,52.CC.CD.CR [7], [8], [13].
+ Phát hiện các bệnh kèm theo như sỏi tiết niệu,
thận ứ nước,… Hình 2.3 Máy siêu âm SSD - 5500
2.2.7.2. Cấy nước tiểu
Tất cả bệnh nhân nhập viện được cấy nước tiểu trước điều trị. Xét nghiệm
được làm tại Khoa Sinh hóa Bệnh viện Trung ương Huế.
Lấy bệnh phẩm theo phương pháp lấy nước tiểu giữa dòng: Bệnh nhân
được hướng dẫn làm vệ sinh bộ phận sinh dục bằng xà phòng, lau khô. Tiến
hành cho bệnh nhân đi tiểu bỏ nước tiểu đầu rồi hứng nước tiểu giữa dòng
vào ống nghiệm. Cấy nước tiểu để xác định vi khuẩn và làm xét nghiệm 10
thông số.
Ghi nhận các trường hợp cấy dương tính. Ghi nhận loại vi khuẩn cấy được.
2.2.7.3. Xét nghiệm urê, creatinin máu
19
- Tiến hành xét nghiệm máu khảo sát nồng độ urê, creatinin máu cho tất cả
bệnh nhân vào viện. Máu được lấy thường qui vào sáng sớm hôm sau ngày
nhập viện.
- Cách đánh giá: gọi là tăng urê, creatinin máu khi kết quả xét nghiệm có
Urê > 8,3 mmol/l, Creatinin > 115 µmol/l.
- Ghi nhận những trường hợp có urê, creatinin máu tăng.
2.2.7.4. Xét nghiệm PSA
- Xét nghiệm được làm trước phẫu thuật.
- Đánh giá PSA dựa vào các mức giá trị sau : ≤ 4 ng/ml: bình thường,
> 4 - 10 ng/ml: trung bình, > 10 ng/ml: cao [26].
2.3. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU
- Các biến số định lượng mô tả trung bình và độ lệch chuẩn.
- Các biến số định tính mô tả tỷ lệ phần trăm.
- Xử lý các biến số nhờ phần mềm tin học EXCEL và SPSS.
20
Tiểu máu 1 2,94
Lý do khác 2 5,88
Biểu đồ 3.2. So sánh lý do vào viện của bệnh nhân
Qua bảng và biểu đồ cho thấy bệnh nhân vào viện vì tiểu khó là chủ yếu
(61,76%), bệnh nhân vào viện tiểu máu và vì các lý do khác (gồm phù 2 chân,
xoàng đầu) chiếm tỷ lệ thấp nhất, với tỷ lệ 2,94% và 5,88%.
3.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
3.2.1. Triệu chứng cơ năng
Bảng 3.4: Triệu chứng cơ năng của bệnh nhân trước và sau phẫu thuật
Kết quả
Các triệu chứng
Trước PT Sau PT
P
N % N %
22
Hội chứng
kích thích
Tiểu nhiều lần về đêm 31 91,19 5 14,71 < 0,01
Tiểu rắt 31 91,18 3 8,82 < 0,01
Tiểu không tự chủ 20 58,82 7 20,59 < 0,05
Hội chứng tắc
nghẽn
Tiểu khó, đi tiểu phải rặn 34 100 5 14,71 < 0,01
Tia tiểu yếu 32 94,12 7 20,59 < 0,01
Tiểu ngắt quãng 32 94,12 2 5,58 < 0,01
Cảm giác chưa tiểu hết 29 85,29 11 32,35 < 0,01
Triệu chứng
khi có biến
Bí tiểu Hoàn toàn 5 14,71 0 0 > 0,05
Không hoàn toàn 3 8,82 0 0 > 0,05
bàng quang, sỏi bàng quang là bệnh lý tiết niệu chiếm tỷ lệ lần lượt là
17,65%; 11,76%.
3.2.4. Thang điểm IPSS trước phẫu thuật và sau phẫu thuật
Bảng 3.6: Thang điểm IPSS trước phẫu thuật và sau phẫu thuật
IPSS(điểm)
Trước phẫu thuật Sau phẫu thuật
P
N=34 Tỷ lệ(%) N=34 Tỷ lệ(%)
0-7 0 0 21 61,76
< 0,01
8-19 0 0 13 38,24
20-35 34 100 0 0
Tổng cộng 34 100 34 100
Trung bình 29,38 ± 4,75 7,38 ± 2,97
Qua bảng, trước mổ điểm IPSS từ 20-35 là 100%. Sau mổ điểm IPSS chủ
yếu là từ 0-7 (61,76%). Điểm trung bình trước mổ là 29,38 ± 4,75; sau mổ là
7,38 ± 2,97. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,01.
3.2.5. Điểm chất lượng cuộc sống (CLCS) trước và sau phẫu thuật
Bảng 3.7: Điểm chất lượng cuộc sống trước và sau phẫu thuật
24
QoL(điểm)
Trước phẫu thuật Sau phẫu thuật P
N=34 Tỷ lệ(%) N=34 Tỷ lệ(%)
< 0,01
1-2 0 0 31 91,18
3-4 4 11,76 3 8,82
5-6 30 88,24 0 0
Tổng cộng 34 100 34 100
Trung bình 5,47 ± 0,71 1,38 ± 0,65
Qua bảng, trước phẫu thuật, điểm CLCS chủ yếu từ 5-6 điểm (88,24%).