TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
TRẦN THỊ PHƯƠNG THẢO ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ NHIỄM VI KHUẨN Edwardsiella
ictaluri VÀ THUỐC TRỪ SÂU CYRUS LÊN SỰ THAY
ĐỔI MỘT SỐ CHỈ TIÊU HUYẾT HỌC CÁ TRA
(Pangasianodon hypophthalmus)
MỘT SỐ CHỈ TIÊU HUYẾT HỌC CÁ TRA (Pangasianodon
hypophthalmus) LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
PGs. Ts. ĐỖ THỊ THANH HƯƠNG
Ts. PHẠM MINH ĐỨC
2010 ii
iii
TÓM TẮT Đề tài được thực hiện nhằm tìm hiểu sự nhiễm bệnh và hóa chất lên một
số chỉ tiêu huyết học của cá tra. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với
2 thí nghiệm: thí nghiệm 1 cá nhiễm thuốc trừ sâu với nồng độ cypermethrin
(LC
50
-96 giờ, 1/2 LC
50
-96 giờ) và đối chứng, thí nghiệm 2 cá nhiễm bệnh do vi
khuẩn Edwardsiella icaluri ở mật độ 3,5x10
4
cfu/ml, 3,5x10
2
cfu/ml và đối chứng
tiêm nước muối sinh lý.
Kết quả cho thấy cypermethrin có độ độc cao đối với cá tra (LC
50
-96 giờ
là 0,072 mg/L). Số lượng hồng cầu và tỷ lệ huyết cầu giảm khi cá tiếp xúc thuốc,
sau 6, 9 giờ có dấu hiệu tăng nhẹ và tiếp tục giảm sau đó. Số lương bạch cầu có
dấu hiệu giảm khi cá nhiễm cypermethrin đến 96giờ mới có dấu hiệu tăng nhưng
iv
ABSTRACT
The aim of this study was to investigate the effects of pesticide and
bacteria on hematological parameters of Tra fish. There was 2 experiments: the
first experiment was randomly designed with 2 different concentrations of
cypermethrin (LD
50
-96 hours and 1/2 LD
50
-96 hours) and control. The second
experiment were infected with bacteria Edwardsiella ictaluri on Tra fish.
The result showed cypermethrin was highly toxic to Tra fish (LC50-96h is
3,89 mg/L). The erythrocyte quantity and hematocrit value decreased after
administration of cypermethrin. MCV, MCH and MCHC were changed lightly
and non-significant with control. Results from haematological analysis evealed a
significant reduction in total number red blood cell in infected striped catfish
(ranged from 1,4-1,51 milion cells/mm
3
) compared to the healthy one (1,85
milion cells/mm
3
). The number of white blood cell in infectedstriped catfish
ranged from 14,94-16,02 thousand cells/mm
3
which was signficant lower than
the number of white cells in health striped catfish (18,08 thousand cells/mm
3
). Of
these, the number of lymphocyte and thrombocyte decreased but the monocyte
vi
MỤC LỤC
2.6 Một số nghiên cứu về vi khuẩn Edwardsiella ictaluri 8
CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
3.1 Vật liệu nghiên cứu 12
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 12
3.1.2 Dụng cụ thí nghiệm 12
3.1.3 Hóa chất 12
3.1.4 Vi khuẩn 13
3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm: 13
3.2.1 Thí Nghiệm 1: Xác định LC
50
của Cypermerthrin 13
3.2.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của vi khuẩn E. ictaluri lên một số chỉ tiêu
huyết học của cá tra giống 14
3.2.3 Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của Cypermerthrin lên một số chỉ tiêu chỉ tiêu
huyết học của cá tra giống 15
3.3 Phương pháp thu mẫu 15
vii
3.3.1 Thời gian thu mẫu 15
3.4 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu huyết học 16
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 17
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 18
4.1 Giá trị LC50 của thuốc trừ sâu Cyrus 25EC chứa hoạt chất cypermethrin lên
cá tra 18
4.2 Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Cyrus chứa hoạt chất cypermethrin lên chỉ tiêu
huyết học 19
4.2.1 Số lượng hồng cầu 19
4.2.2 Số lượng bạch cầu 21
4.2.3 Hàm lượng huyết sắc tố (Hemoglobin, mmol/l) 22
4.2.4 Tỷ lệ huyết cầu (%) 23
viii
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 4.1: Số lượng hồng cầu thí nghiệm cá nhiễm cypermethrin 31
Bảng 4.2: Số lượng bạch cầu thí nghiệm cá nhiễm cypermethrin 32
Bảng 4.3: Hàm lượng huyết sắc tố (mmol/l) thí nghiệm cá nhiễm cypermethrin . 33
Bảng 4.4: Tỷ lệ huyết cầu (%) thí nghiệm cá nhiễm cypermethrin 34
Bảng 4.5: Thể tích hồng cầu thí nghiệm cá nhiễm cypermethrin 34
Bảng 4.6: MCH (pg) thí nghiệm cá nhiễm cypermethrin 35
Bảng 4.7: MCHC (%) thí nghiệm cá nhiễm cypermethrin 36
Bảng 4.8: Các chỉ tiêu huyết học thí nghiệm cá tiêm vi khuẩn E.ictaluri 37
1
CHƯƠNG 1:
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Có thể nói hiện nay trên thế giới có hàng trăm đối tượng thủy hải sản được
gia hóa và sử dụng cho nuôi trồng thủy sản ở cả 3 môi trường: ngọt, lợ và mặn.
Trong nhóm các đối tượng nuôi nước ngọt, cá tra là lòai cá da trơn có giá trị kinh
tế cao. Trong những năm gần đây, cá tra là một trong những đối tượng nuôi
quan trọng của Đồng bằng sông Cửu Long. Tại Cần Thơ, diện tích nuôi đến
tháng 11 là 14.113 ha, bằng 110% so với cùng kỳ năm 2009, trong đó diện tích
nuôi cá tra là 581 ha; sản lượng nuôi đạt 164.579 tấn vượt 8% so với cùng kỳ.
Vĩnh Long diện tích nuôi cá tra là 405,9 ha và sản lượng đạt 108.746 tấn .
Với sự mở rộng nhanh chóng của nghề nuôi, vấn đề suy thoái môi trường và
dịch bệnh đã và đang trở thành một trong những trở ngại lớn cho sự phát triển
bền vững của nuôi trồng thủy sản nước ngọt Việt Nam. Theo Phạm Đình Khôi
(2009) trong vòng 5 năm qua, môi trường ô nhiễm và dịch bệnh đã làm tỷ lệ
sống trung bình của cá nuôi giảm từ 90% xuống còn 80%. Lý Thị Thanh Loan và
ctv. (2006) khi thu và phân lập vi khuẩn gây bệnh trên cá Tra ở ĐBSCL thì bệnh
50
-96 giờ của thuốc trừ sâu Cyrux 25EC (hoạt chất cypermethrin)
trên cá tra giống.
- Ảnh hưởng của vi khuẩn Edwardsiella ictaluri CT 258 lên một số chỉ tiêu
huyết học (hồng cầu, bạch cầu, hematorite và hemoglobin) của cá tra giống.
- Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Cyrux 25EC lên một số chỉ tiêu chỉ tiêu huyết học
(hồng cầu, bạch cầu, hematorite và hemoglobin) của cá tra giống.
1.4 Thời gian thực hiện đề tài
Từ tháng 8/2009 đến tháng 12/2010 3
CHƯƠNG 2:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học cá tra
2.1.1 Phân loại: cá tra là một trong số 11 lòai thuộc họ cá tra (Pangasiidae) đã
được xác định ở sông Cửu Long. Tài liệu phân lọai gần đây nhất của tác giả
Rainboth xếp cá tra nằm trong giống cá tra dầu (Pangasianodon).
Bộ Siluriformes
Họ Pangasiidae
Giống Pangasianodon
Loài Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878)
2.1.2 Đặc điểm sinh học
Cá tra có khả năng sống trong điều kiện môi trường nhiều mùn bã hữu cơ,
nước tù đọng, oxi hòa tan thấp (Dương Nhựt Long, 2003). Cá tra thể hiện tính ăn
rộng, ăn đáy và ăn tạp thiên về động vật nhưng dễ chuyển đổi loại thức ăn, trong
điều kiện ao nuôi cá dễ thích ứng với nhiều loại thức ăn có nguồn gốc động vật
và thực vật (Lê Như Xuân, 2000). Cá tra sống chủ yếu trong nước ngọt, có thể
sống được ở vùng nước lợ (nồng độ muối 7-10‰), có thể chịu đựng được nước
2.2 Sinh lý máu và huyết học của cá
Ở cá, máu chiếm 2-4% trọng lượng cơ thể, ít hơn những động vật có xương
sống khác (5-8%). Những thông số huyết học của cá liên quan đến tuổi, giới tính,
khẩu phần ăn, lòai, mùa vụ trong năm và nhiệt độ nước (Branson, 1993).
2.2.1 Chức năng của máu
Máu cá tương tự như động vật có xương sống khác bao gồn thể dịch và các
thành phần tế bào (Hibiya, 1982). Máu cá cũng có chức năng vận chuyển (khí,
dinh dưỡng, các sản phẩm của quá trình trao đổi chất), chức năng điều hòa thể
dịch, chức năng bảo vệ, duy trì môi trường bên trong cơ thể (Đỗ Thị Thanh
Hương và Trần Thị Thanh Hiền, 2000).
2.2.2 Thành phần và đặc tính lý hóa học của máu
Tế bào máu gồm có hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu (Đỗ Thị Thanh Hương và
Trần Thị Thanh Hiền, 2000).
Hồng cầu: Theo Supranee et al. (1991), hồng cầu đuợc chia thành 2 nhóm: hồng
cầu trưởng thành và hồng cầu chưa trưởng thành. Ở cá có dạng hình bầu dục, hai
bên lồi, ở giữa có nhân, kích thước biến đổi tùy theo lòai cá, to nhất là cá sụn, cá
miệng tròn rồi đến cá xương. Ở cá tra khoảng 6,16×6,87 µm. Hồng cầu biến
động theo tình trạng sinh lý của cá, theo giống loài, theo chế độ dinh dưỡng, theo
tuổi cũng như sự biến động của các yếu tố môi trường. Hồng cầu là những tế bào
có tính đàn hồi có thể co dãn được và biến đổi hình thể để chui vào các mao
mạch. Thành phần hóa học của hồng cầu gồm nước (60%), chất khô (40%) trong
đó chủ yếu là hemoglobine (90%). Mỗi hồng cầu chứa khỏang 340 triệu phân tử
Hemoglobine. Ngoài ra cũng có protein, lipip, muối vô cơ và enzyme. Lượng
Hemoglobine biến đổi theo sự biến đổi số lượng hồng cầu (Đỗ Thị Thanh Hương
và Trần Thị Thanh Hiền, 2000).
Bạch cầu: Theo Đỗ Thị Thanh Hương và Trần Thị Thanh Hiền (2000) bạch cầu
là loại
tế bào có nhân lớn, kích thước lớn hơn hồng cầu, số lượng bạch cầu biến
đổi tùy loài, sinh lý, tuổi, dinh dưỡng, nhiệt độ, thành thục sinh dục. Chức năng
của bạch cầu là bảo vê cơ thể chống lại sự xâm nhập vào cơ thể bằng phương
vài ngày trong tuần hòan máu, tham gia vào quá trình trình diện kháng nguyên.
Lymphocyte: chiếm khỏang 20-25% tổng số bạch cầu, ở các động vật còn non
có thể chiếm đến 50%. Có khả năng thực bào khi ra ngoài mạch máu vào tổ chức
liên kết. Có vai trò quan trọng trong hệ miễn dịch sau khi liên kết với các mô của
cơ quan đích.
Tiểu cầu: có kích thước nhỏ cỡ nhân hồng cấu, hình thoi không ổn định, tồn tại
trong máu từ 5-9 ngày, có nhân to, có một lớp nguyên sinh chất mỏng có vai trò
6
trong quá trình đông máu vì nó dễ tan để giải phóng men Thronbokinaza có tác
dụng biến fibrinogen thành fibrin (Đỗ Thị Thanh Hương và Trần Thị Thanh
Hiền, 2000).
Đặc tính lý hóa học của máu: máu cá có tỉ trọng bình quân 1,032- 1,051 (Đỗ
Thị Thanh Hương và Trần Thị Thanh Hiền, 2000). Độ dẫn điện cá nước ngọt
thấp hơn so với động vật bậc cao và áp suất thẩm thấu biến động tùy lòai (Đỗ Thị
Thanh Hương và Trần Thị Thanh Hiền, 2000).
2.3 Một số nghiên cứu về huyết học ở cá
Benli và Yildiz (2004) đã có nghiên cứu là có sự thay đổi các chỉ tiêu huyết
học của cá rô phi nhiễm Edwardsiella tarda. Theo Ueda et al. (2001) nghiên cứu
thành phần các loại huyết cầu cá rô phi (Oreochromis niloticus) cho biết ở cá rô
phi có các loại huyết cầu tương tự ở người gồm hồng cầu, tiểu cầu và các loại
bạch cầu. Tác giả mô tả chi tiết hình dạng, cấu tạo và chức năng của các loại
huyết cầu cá rô phi. Nghiên cứu về huyết học ở cá trê trắng (Clarias batrachus)
tác giả cho biết có 5 lọai tế bào máu tham gia vào vòng tuần hoàn máu gồm
hồng cầu, bạch cầu đơn nhân, bạch cầu trung tính, tiểu cầu và tế bào lympho
(Chinabut et al., 1991). Trong khi đó, Hrubec et al. (2000) đã đưa ra những số
liệu cụ thể về kích thước và số lượng từng lọai huyết cầu cá rô phi lai
(Oreochromis hybrid). Cá Trắm cỏ bị nhiễm bệnh do Aeromonas hydrophila thì
số lượng hồng cầu giảm, số lượng bạch cầu tăng lên. Kích thước tế bào hồng cầu
cá bệnh nhỏ hơn cá bình thường. So với cá khỏe bình thường, tỷ lệ các bạch cầu
NH
3
lên máu cá hồi (Oncorhynchus mykiss) trương thành trong thời gian 14 ngày
ở các nồng độ 0,09; 0,04; 0,024; 0,012 ppm. Kết quả cho thấy hàm lượng
hemoglobin và số lượng hồng cầu trong máu giảm có ý nghĩa (P<0,05) đồng thời
gia tăng đáng kể các tế bào hồng cầu bị tổn thương. Hồ Thị Thanh Tuyến (2008)
khảo sát sự biến đổi một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa của cá tra nuôi ở 2 mật độ
khác nhau khi sử dụng kháng sinh Enrofloxacine. Kết quả cho thấy số lượng
bạch cầu và hồng cầu tăng sau khi cho an kháng sinh 7 ngày.
2.4 Tổng quan tình hình bệnh, sử dụng thuốc và hóa chất trong nuôi trồng
thủy sản
2.4.1 Tình hình bệnh cá tra ở Đồng bằng sông Cửu Long
Trong vài năm trở lại đây, phong trào nuôi cá tra xuất khẩu ở ĐBSCL tăng
rất nhanh, đem về cho đất nước một nguồn ngoại tệ rất lớn. Thế nhưng, do phát
triển quá nhanh không theo quy hoạch nên bệnh trên cá tra nuôi hiện nay xảy ra
ngày càng nhiều nhưng việc điều trị lại kém hiệu quả đang là vấn đề quan tâm
hàng đầu của người nuôi cá và cả các nhà chuyên môn. Hàng năm các nguồn
chất thải do nuôi trồng thủy sản ở khu vực ĐBSCL thải ra chưa được xử lý triệt
để vào sông rạch trong khu vực là rất lớn làm mất cân bằng sinh thái trong nuôi
trồng thủy sản mà thể hiện rõ nét ở tình trạng dịch bệnh phát sinh trên diện rộng
do ô nhiễm môi trường đối với đối tượng nuôi này tăng nhanh gây tổn thất kinh
tế trong nghề nuôi cao. Theo Bùi Quang Tề (2001) và Nguyễn Thị Phương Nga
(2004) dịch bệnh trong nghề nuôi cá tra hiện nay xảy ra quanh năm nhưng cao
8
nặng nhất là trong giai đọan giao mùa, thời tiết, nhiệt độ thay đổi đột ngột và vào
mùa mưa, mùa nước đổ. Trên cá Tra bè bệnh do vi khuẩn chủ yếu do
Edwardsiella ictaluri, Aeromonas hydrophila, Pseudomnas sp. và
Flavobacterium columnaris (Nguyễn Quốc Thịnh, 2006). Trên cá Tra nuôi ao,
khảo sát của Truong Thi Ho et al. (2008) cho thấy E. ictaluri hiện diện 87,9%
50
của E. ictaluri trong thí nghiệm cảm nhiễm với
cá nheo (Ictalurus punctatus) là 10
4
. Lương Trần Thục Đoan (2006) khi gây cảm
nhiễm bằng phương pháp tiêm vi khuẩn E. ictaluri trên cá tra ở nhiệt độ 26
0
C –
28
0
C đưa ra kết luận mật độ vi khuẩn 1×10
6
cfu/ml và 1×10
5
cfu/ml có độc lực
đủ mạnh để gây chết cá. Hùynh Chí Thanh (2007) cho biết LD
50
là 3,16×106
cfu/ml khi tiến hành phân lập vi khuẩn ở ngòai tự nhiên (cá tra bệnh mủ gan ở
An Giang). Vi khuẩn E. ictaluri đã được phân lập trên cá trê sông nâu (Ictalurus
nebulosus) và vi khuẩn này cũng được phát hiện trên cá nheo Mỹ (channel
catfish) (Hawke, 1979). Ngòai ra Crumlish (2001) và Bùi Quang Tề (2003) vi
9
khuẩn này cũng được phân lập trên cá tra nuôi (Pangasius hypophthalmus) (trích
dẫn của Bùi Quang Tề, 2005). Rahman and Kawai (2000) thí nghiệm gây cảm
nhiễm Aeromonas hydrophila cá vàng bằng 4 cách gây cảm nhiễm là tiêm ở
bụng (3×10
8
- 3×10
mục các lọai thuốc cấm nhưng một số người vẫn còn sử dụng mà chưa hiểu rõ về
các nguy cơ của việc sử dụng thuốc, hóa chất trong phòng trị bệnh cá (Nguyễn
Chính, 2005).
Theo kết quả kiểm sóat dư lượng các chất độc hại trong sản phẩm thủy sản
nuôi tháng 12/2007 của Bộ Thủy sản cập nhật ngày 29/1/2008 tại Cao Lãnh -
Đồng Tháp phát hiện một mẫu cá tra nhiễm Chloramphenicol (0,43 ppb), phát
hiện dư lượng kháng sinh hạn chế sử dụng thuộc nhóm Fluoroquinolones trong
05 mẫu cá tra, trong đó có 04 mẫu nhiễm Enrofloxacin/Ciprofloxacin (03 mẫu tại
Châu Đốc, Long Xuyên, Chợ Mới – An Giang; 01 mẫu tại Thốt Nốt, Cần Thơ,
giá trị phát hiện từ 2,33 – 70,7 ppb) và 01 mẫu nhiễm Sarafloxacin (tại Thốt Nốt-
Cần Thơ với mức phát hiện là 10,1 ppb) nhưng đều ở dưới mức giới hạn tối đa
cho phép. Theo báo cáo 05 mẫu cá tra có dư lượng flofeniclo (tại Châu Đốc- An
Giang; Thốt Nốt, Ô Môn-Cần Thơ, Phụng Hiệp-Hậu Giang, Tx. Vĩnh Long-Vĩnh
Long, mỗi địa phương 01 mẫu) nhưng đều thấp hơn nhiều so với mức giới hạn
tối đa cho phép (giá trị phát hiện từ 0,2 đến 210,69 ppb). Tại Đồng Tháp,
Nguyễn Quốc Thịnh (2006) nhận thấy rằng, có 48 loại thuốc kháng sinh trị bệnh
thì Encrofloxacine chiếm 83,3% và Encrofloxacine chiếm 69,6%. Châu Hồng
10
Thúy (2008) trên cá Tra nuôi thì kháng sinh cấm sử dụng có thành phần
Norfloxacine, Enrofloxacine vẫn có người nuôi cá sử dụng với quan niệm kháng
sinh trên vẫn được sử dụng khi cá còn nhỏ.
2.5 Tổng quan thuốc trừ sâu Cyrus (chứa hoạt chất cypermethrin)
2.5.1 Cypermethrin:
Đại cương về Cypermethrin:
Hình 2.7: Cấu tạo Cypermethrin
(Nguồn:
Công thức Cypermethrin: C
22
Cypermethrin thực tế không gây độc cho loài chim (Yilmaz, 2005).
Cypermethrin hòa tan trong nước rất thấp từ 5-10 µg/L (Stephenson, 1982) trích
dẫn bởi Suchismita Saha (2008). Bradbury and Coats (1989) đã báo cáo độc tính
của pyrethroid đối với những động vật hữu nhũ, các loài chim, cá và đưa ra giá
trị LC
50
-96h của cypermethrin là 2,2µg/L trên cá Tilapia nilotica, 0,9 – 1,1 µg/L
trên cá chép (Cyprinus carpio), 1,2 µg/L trên cá brown trout (Salmo trutta), 0,5
µg/L trên cá rainbow trout (Salmo gairdneri) và 0,4 µg/L trên cá Scardinius
erthropthalmus. Theo Polat et al. (2002) đã tìm giá trị LC
50
-48h của beta-
cypermethrin trên nhóm guppies 21,4 µg/L. Theo Stephenson (1983) đã cho kết
quả nghiên cứu LC
50
của cypermethrin trên cá loài cá như: 2,8 µg/L trên cá
rainbow trout (Oncorhynchus mykiss), 1,2 µg/L trên cá fathead minnow và 0,93
µg/L trên Pimephales promelas. Trên nghiên cứu khác của Stephenson (1982)
cũng nghiên cứu ảnh hưởng của cypermethrin trên một số lòai cá như Cyprinus
carpio, Scardinius erythrophthalmus, Salmo gairdneri, Salmo trutta và Tilapia
nilotica và tìm ra giá trị LC
50
ở khỏang giữa 0,4 – 2,2 µg/L.
Theo Suchismita Saha (2008) đã tìm được giá trị LC
50
96h của cypermethrin
từ 0,03 µg/L trên giáp xác đến 9,0 µg/L trên nòng nọc. Là loại thuốc trừ sâu có
tác dụng độc lên một số chỉ tiêu sinh hóa của cá đã được báo cáo (Oluah et
al,2001; Omoregie et al, 1990). Ở Việt Nam, cypermethrin là loại thuốc trừ sâu
phổ biến do đó có khả năng rằng nó có thể làm ô nhiễm nguồn nước trong lĩnh
Phương pháp pha nồng độ thuốc: thuốc được pha thành 2 bước, bước 1 pha
dung dịch thuốc mẹ từ thuốc ban đầu và bước 2 là pha nồng độ thuốc cho các bể
thí nghiệm. Cả 2 dung dịch pha (dung dịch mẹ và dung dịch thí nghiệm) đều dựa
vào công thức tính nồng độ sau: C
1
xV
1
= C
2
xV
2
Trong đó:
C
1
là nồng độ thuốc dung dịch mẹ
V
1
là thể tích dung dịch mẹ cần cho vào bể thí nghiệm
C
2
là nồng độ thuốc cần cho thí nghiệm
V
2
là thể tích dung dịch thuốc trong thí nghiệm
Hóa chất phân tích mẫu:
Dung dịch nhuộm hồng cầu: Dung dịch Natt-Herrick
13
Dung dịch nhuộm bạch cầu: Dung dịch Methanol 100%, Wright, Giemsa, dung
dịch pH 6,2; pH 6,8; nước cất, nước muối sinh lí.
, 10
7
, 10
6
, 10
5
, 10
4
, 10
3
, 10
2
cfu/ml. Mật độ vi
khuẩn cũng được xác định bằng cách nhỏ 20µl (lặp lại 6 lần) dung dịch vi khuẩn
đã điều chỉnh mật độ lên đĩa TSA và ủ ở 28-30
o
C rồi đếm số khuẩn lạc trung
bình sau 24-48 giờ.
3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm:
3.2.2 Thí Nghiệm 1: Xác định LC
50
của Cypermerthrin
Xác định LC
50
của Cypermerthrin :
Thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp nước tĩnh (APHA, 2001) và không
thay nước trong thời gian 96 giờ. Thí nghiệm được tiến hành qua hai bước.
Bước 1: Thí nghiệm xác định khoảng gây độc (thí nghiệm thăm dò)
Thí nghiệm sẽ được tiến hành trong bể kính 60 L có thể tích nước là 50 lít.
Mỗi bể thả 10 cá với kích cỡ là 20- 25 g/con. Thí nghiệm được tiến hành với 8
huyết học của cá tra giống
Thí nghiệm xác định LD
50
: thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 6
nghiệm thức và nghiệm thức đối chứng không tiêm, mỗi nghiệm thức lặp lại 3
lần với mật độ 10 con/bể. Cá thí nghiệm được tiêm (0,1ml vi khuẩn/cá) tại gốc vi
ngực. mật độ vi khuẩn E. ictaluri tiêm cho cá thí nghiệm được trình bày như
sau :
Sau khi tiêm, biểu hiện của cá được theo dõi liên tục trong 14 ngày. Những cá có
dấu hiệu lờ đờ, bơi lội kém linh hoạt được thu để giải phẩu quan sát dấu hiệu
bệnh mủ gan và tái phân lập vi khuẩn từ gan, thận tỳ tạng. Nồng độ vi khuẩn gây
chết 50% cá thí nghiệm (LD
50
) được xác định theo công thức của Reed and
Muench (1938) :
LogLD
50
= LogA +(50%-d%)/(%t-%d)xLog10