Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và kết quả phẫu thuật nội soi tăng sản lành tính tuyến tiền liệt được điều tra tại thái bình - Pdf 19



1

Đặt vấn đề

Tăng sản lành tính tuyến tiền liệt (TSLT/TTL) là bệnh thường gặp ở
người đàn ông cao tuổi, tỷ lệ mắc tăng dần theo lứa tuổi, và được coi là bệnh
tiến triển chậm [42].

Tỷ lệ mắc TSLT/TTL có xu hướng ngày một gia tăng trên toàn thế
giới. Bệnh đang trở thành gánh nặng cho cá nhân và cho toàn xã hội [129].
Hiện nay số người mắc đứng sau bệnh lý mạch vành, tăng mỡ máu, tăng
huyết áp, và tiểu đường [63], [110]. Hằng năm tại Mỹ có khoảng 1.200.000
người mắc trong đó có khoảng 400.000 người cần phải can thiệp; tại Pháp có
khoảng 1.400.000 người mắc trong đó có khoảng 80.000 người cần phải can
thiệp. Tại Việt Nam, tại các khoa Tiết niệu của các Bệnh viện, sè bệnh nhân
đến khám về TSLT/TTL đã ngang số người đến khám về các bệnh khác của
tiết niệu và số bệnh nhân cần phải can thiệp phẫu thuật đứng vị trí thứ hai sau
các phẫu thuật về sỏi tiết niệu.

Chi phí điều trị đối với bệnh lý này cũng là vấn đề đang được xã hội
quan tâm. Tại Brazin, năm 2003, ước tính chi phí điều trị bệnh lý này khoảng
2,26-3,83 tỷ đô la [79]. Tại Hoa Kỳ năm 2000, ước tính chi phí điều trị bệnh
lý này khoảng 1,1 tỷ đô la, chưa bao gồm các trường hợp điều trị ngoại trú
bằng thuốc, trung bình mỗi một người dân mất 7,3 giê / năm cho việc khám
và điều trị. Đánh giá kinh tế của bệnh lý này được phân tích dùa vào 3 lĩnh
vực: trực tiếp liên quan đến chi phí Ytế cho điều trị; chi phí do phải nghỉ việc,
công việc bị hạn chế; những chi phí không thể tính được đó là những khó chịu
do bệnh gây ra mà người bệnh phải gánh chịu [89].
3
Chương 1
Tổng quan tài liệu

1.1. Giải phẫu học tuyến tiền liệt.

1.1.1. Hình thể ngoài của tuyến tiền liệt.

Hình 1.1: Giải phẫu tuyến tiền liệt
(Nguồn: Frank H.Neter.MD; ATLAS giải phẫu người; Tr 373)

Tuyến tiền liệt (TTL) là mét tổ chức tuyến xơ cơ (adéno-fibro-
myome), có dạng hình tháp đảo ngược, đỉnh ở dưới, nền ở trên tiếp xúc với
nền bàng quang. Ở người trưởng thành trọng lượng TTL khoảng 15-20g. Về
hình thể, TTL có 4 mặt, một nền và một đỉnh:

+) Mặt trước: Phẳng, dựng đứng, nằm ngay sau xương mu. Giữa mặt
trước TTL và mặt sau xương mu là đám rối tĩnh mạch Santorini.
4
+) Mặt sau: Nằm ở phía trước trực tràng, được ngăn cách với thành

- Vùng ngoại vi là tổ chức mô tiết. Chính vùng này chứa gần như toàn
bộ (gần 75%) các mô của TTL và là nơi xuất phát của phần lớn ung thư TTL. 5

- Vùng trung tâm, vÒ mô học cách sắp xếp ở đây giống như ở tói tinh.
Tỷ lệ mắc ung thư ở vùng này rất thấp, chỉ ngang với tỷ lệ ung thư tói tinh.

- Vùng mô trước (quanh niệu đạo), đây là vùng nhỏ nhất, phức tạp
nhất với sự xếp kề nhau của các tế bào vừa là tuyến vừa không phải là tuyến.

- Vùng chuyển tiếp, gồm những ống tuyến. Thường các ống tuyến của
vùng này chỉ chiếm <5% khối lượng TTL. Dù nhỏ bé và Ýt quan trọng về
chức năng, nhưng đây là vùng tăng sinh mạnh nhất khi TTL quá sản lành tính
tạo thành nhân (nodule).
P = peripheral zone (Vùng ngoại vi); S = preprostatic sphincter (Phần TTL dưới cơ thắt);
T = transition zone (Vùng chuyển tiếp); U = urethra (Vùng quanh niệu đạo);
V = verumontanum (Vùng quanh ụ núi)
Hìmh 1.2: Sự phân chia các vùng của TTL theo McNeal JE
(Nguồn: Journal of Andrology, 1991, Vol. 12, 348-355 [90]).

1.2. Dịch tễ tăng sản lành tính tuyến tiền liệt.

1.2.1. Tỷ lệ mắc tăng sản lành tính tuyến tiền liệt.
Khái niệm về dịch tễ học của TSLT/TTL và xác định chính xác tỷ lệ
mắc bệnh (Prevalence) còn chưa được thống nhất. Khái niệm có bệnh và

triệu chứng có ưu thế là dự báo diễn biến của triệu chứng, và dự báo kết quả
điều trị. Sau phẫu thuật, những trường hợp có điểm triệu chứng mức độ nhẹ
thường không cải thiện nhiều hơn những trường hợp điểm triệu chứng mức độ 7
nặng. Ở người đàn ông trước phẫu thuật điểm IPSS lớn hơn 17 điểm thì sau
phẫu thuật điểm IPSS có thể cải thiện khoảng 87% [111].

Việc đánh giá mức độ triệu chứng dùa vào thang điểm IPSS, qua các
câu hỏi và cho điểm, cho phép lượng hóa mức độ triệu chứng chủ quan của
bệnh nhân, nhưng tính chính xác của các kết quả thu được không thực sự cao
và đôi khi không khách quan. Theo Pupca, số bệnh nhân hiểu rõ các câu hỏi chỉ
là 84% [102]. Gee W. F và cộng sự (1995), tiến hành đánh giá khả năng thực
hành chẩn đoán và theo dõi TSLT/TTL của nhân viên Y tế trong 514 khoa Tiết
niệu tại Hoa Kỳ, kÕt quả cho thấy 99% số người được kiểm tra có kiến thức và
sử dụng được thang điểm triệu chứng, tuy nhiên trong số này có 21% số người
thay đổi chẩn đoán trong quá trình quản lý và theo dõi bệnh [70].

Triệu chứng đường tiểu dưới không hoàn toàn đặc trưng cho
TSLT/TTL. Bàng quang tăng thúc tính và TSLT/TTL có những triệu chứng
giống nhau, nhiều trường hợp đã tìm thấy kết hợp cùng nhau, rất khó khăn tìm
ra nguyên nhân khác nhau, và khó khăn cho việc lùa chọn phương pháp điều
trị. Một nghiên cứu theo dõi dọc 12 tháng trong năm 2004, thấy tỷ lệ mắc
bàng quang tăng thúc tính ở nữ giới nhiều hơn ở nam giới. Một nghiên cứu
vào năm 2005, trong tổng số 4.806 nam giới mắc triệu chứng đường tiểu
dưới, nhóm nghiên cứu có nhận xét: Nam giới với triệu chứng đường tiểu
dưới thì nguyên nhân do TSLT/TTL gặp nhiều hơn là bàng quang tăng thúc
tính. Nam giới mắc bàng quang tăng thúc tính, với nguyên nhân đặc trưng là
tổn thương cơ Detrusor [109]. Sự liên quan điểm triệu chứng và khối lượng

tuổi đặc hiệu mắc bệnh ở mức nặng của triệu chứng đường tiểu dưới. Nhóm
nghiên cứu nhận thấy, 18,5% ở mức độ trung bình, 4,8% ở mức độ nặng,
trường hợp có Ýt nhất một triệu chứng là 83%. Triệu chứng đường tiểu dưới
phụ thuộc mật thiết với tuổi, với 1,8% triệu chứng mức độ nặng trong số tuổi
đời 45-49, và tăng dần tới 9,7% trong số những người 75-79 tuổi. Tiểu tiện 9
nhiều lần là triệu chứng gặp nhiều nhất ở đàn ông dưới 70 tuổi, và tiểu đêm
nhiều gặp ở đàn ông trên 70 tuổi. Trong số này chỉ 29% có điểm IPSS > 7 mà
trước đó họ được chẩn đoán có vấn đề tiểu tiện, và chỉ có 11% thừa nhận có sử
dụng thuốc [123]. Theo Nguyễn Quang (2002), điều tra cắt ngang tại một số xã
thuộc huyện Sóc Sơn Hà Nội, theo thang điểm IPSS, nam giới từ 40 tuổi trở
lên, 97,5% trường hợp có Ýt nhất một triệu chứng [19].

b) Điểm chất lượng cuộc sống.
Điểm chất lượng cuộc sống (QoL - Quality of life), được coi là câu
hỏi thứ 8 của điểm IPSS [111]. Tổng điểm QoL là 6 điểm, được phân loại nh-
sau: ≤ 2 điểm được coi là nhẹ; 3-4 điểm được coi là trung bình; 5-6 điểm
được coi là nặng (Phô lục 1).

Việc đánh giá kết quả dùa trên chỉ số QoL dễ dàng hơn, nhưng tính
đặc hiệu không cao do bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác ngoài bệnh cảnh của
TSLT/TTL. Điểm IPSS phản ánh trung thực hơn so với điểm QoL về mức độ
bệnh [63]. Cùng có số điểm IPSS nh- nhau, nhưng điểm QoL có thể khác
nhau [112].

c) Đo tốc độ dòng tiểu.
Đo tốc độ dòng tiểu bằng máy niệu động học (uroflowmetry), là
những số liệu chắc chắn đáng tin cậy, đánh giá sự tắc nghẽn bàng quang

Theo Rosette J và cộng sự (2006), siêu âm để đo lượng nước tiểu tồn
dư (Post-void residual - PVR), là một phương pháp đơn giản không xâm lấn
(non-invasive). Lượng nước tiểu tồn dư lớn (>200-300 ml) có nghĩa là bàng
quang kém chức năng và dự báo kết quả điều trị kém thuận lợi hơn. Lượng
nước tiểu tồn dư lớn chống chỉ định đối với theo dõi và chờ đợi hoặc điều trị
bằng thuốc [111]. Faruk Turgut và cộng sự (2006), đã tiến hành siêu âm
đường thành bụng bằng đầu dò 4,0 MHz, cho 100 đối tượng thuộc nhóm
TSLT/TTL (nhóm Bệnh) và 53 đối tượng thuộc nhóm không có bệnh (nhóm
Chứng). Các đối tượng được đo khối lượng TTL và nước tiểu tồn dư. Đo
lượng nước tiểu tồn dư được tiến hành ngay sau khi đi tiểu. Khối lượng TTL
trung bình ở nhóm Bệnh và nhóm Chứng khác nhau rất có ý nghĩa (25,9 ± 2,8
ml và 9,3 ± 1,4 ml). Nước tiểu tồn dư ở nhóm Bệnh là 49,2 ± 5,6 ml [64].
Theo Francois Desgrandchamps và cộng sự (2006), những trường hợp
TSLT/TTL, lượng nước tiểu tồn dư trên 39 ml được xếp vào nhóm nguy cơ
cao, biện pháp lùa chọn tốt nhất là can thiệp Y tế [51].
11
e) Bí tiểu tiện.

Một biến chứng quan trọng thường gặp trong quá trính phát triển của
TSLT/TTL là bí đái cấp tính (AUR - acute urinary retention). Roehrborn
Claus G (2001), nghiên cứu theo dõi dọc nhóm đối tượng có hội chứng đường
tiểu dưới do TSLT/TTL nằm trong nhóm theo dõi và chờ đợi. Nghiên cứu sử
dụng định lượng nước tiểu trong bàng quang để xác định bí đái. Nếu điểm
triệu chứng ở mức độ nhẹ: Nam giới 50 tuổi sống đến 80 tuổi thì tỷ lệ bị bí
đái cấp là 20%; nếu 60 tuổi sống đến 80 tuổi thì tỷ lệ bí đái cấp là 23%; và 70
tuổi sống đến 80 tuổi tỷ lệ bí đái cấp sẽ là 30% [107].


bàng quang, thăm trực tràng, chụp IVU, chụp MRI và biện pháp thăm dò
khác [111]. Khối lượng TTL qua thăm trực tràng thường nhỏ hơn so với siêu
âm, đặc biệt với trường hợp TTL trên 30

– 40 cm
3
[111], [112].

c) Một số phương pháp khác.
Chụp cắt líp vi tính khó phân biệt được các vùng khác nhau của TTL.
Chụp cắt líp vi tính chỉ giúp cho việc xác định khối lượng TTL, khó xác định
khối bất thường trong tuyến khi mà vỏ bao tuyến vẫn còn nguyên vẹn, nhưng nó
có tác dụng đánh giá sự phát triển lan rộng của tuyến trong trường hợp ung thư.

Chụp cộng hưởng từ (Magnetic Resonant Imagery - MRI): Hiện nay, là
một phương pháp thăm dò khá hiệu quả trong trường hợp ung thư TTL. Hình
ảnh MRI có khả năng phân biệt được những vùng khác nhau của TTL và cho
những hình ảnh theo không gian ba chiều. Theo Kellogg J. P và cộng sự đã tiến
hành chụp 1100 phim MRI cho 540 nam để đo khối lượng TTL ở các thời điểm
nghiên cứu. Dùa vào kết quả số đo MRI xác định tổng khối lượng TTL [100].

Chụp niệu đạo ngược dòng, cho hình ảnh gián tiếp sự ảnh hưởng của
TTL chèn Ðp niệu đạo [111].
13
Chụp niệu đồ tĩnh mạch (IVU), cho hình ảnh gián tiếp khối lượng
TTL. Đặc biệt phương pháp này cho phép đánh giá sự ảnh hưởng của TTL
gây cản trở niệu quản - bàng quang. Theo kết quả nghiên cứu của 24 trung


Simpson R.J và cộng sự (1996), xác định tỷ lệ mắc dùa vào khối
lượng TTL trên 20 cm
3
, tốc độ dòng tiểu, và điểm IPSS. Tỷ lệ mắc của 1000
đàn ông theo nhóm tuổi: 40-49 là 615 trường hợp; 50-59 là 776 trường hợp;
60-69 là 889 trường hợp; Đối với tất cả các nhóm tuổi là 765 trường hợp
[118]. Theo Rosette J và cộng sự (2006), khối lượng TTL được ước lượng bởi
thăm trực tràng (Digital rectal examination- DRE) từ 40 cm
3
trở lên được coi
là có hiện tượng TSLT/TTL [111]. Theo Francois Desgrandchamps và cộng
sự (2006), khối lượng TTL> 31cm
3
; PSA>1,6 ng/ml; Nước tiểu tồn dư >39
ml; tốc độ dòng tiểu tối đa < 10,6 ml/s, cần phải can thiệp Y tế không nên lùa
chon phương pháp theo dõi và chờ đợi [51]. Theo Kellogg J. P và cộng sù,
xác định khối lượng TTL bằng phim chụp MRI, khối lượng TTL ≥ 40cm
3

được coi là có hiện tượng tăng sản. Theo tác giả, khối lượng TTL 40 cm
3

ngưỡng nếu không điều trị bằng thuốc hoặc phẫu thuật các triệu chứng của
đường tiểu dưới sẽ nặng dần lên trong khoảng thời gian 4 năm hoặc lâu hơn
[100].

Theo Đỗ Thị Khánh Hỷ, tại Việt Nam, đến tận năm 1989, sự điều tra
chính thức ở cộng đồng về bệnh lý này mới được bắt đầu. Trần Đức Thọ và cộng
sự tiến hành điều tra tại 4 vùng dân cư thuộc Hà Nội, Thanh Hóa, Bắc Thái, cho

Hình ảnh đại thể
Hình ảnh vi thể
Hình 1.3: Hình ảnh giải phẫu bệnh lý của TSLT/TTL
(nguồn: Pathology and Genetics of Tumours of the Urinary System and Male Genital Organs; 2004; pp: 69-
70) Về tổ chức của TSLT/TTL bao gồm: tổ chức liên kết chiếm khoảng
60%; tổ chức tuyến chiếm khoảng 20%; tổ chức cơ chiếm khoảng 20%. Tổ
chức liên kết càng nhiều thì phần tăng sản càng cứng, làm cho cơ cổ bàng
quang càng khó giãn nở lúc đi tiểu, do đó càng gây nhiều triệu chứng bế tắc.
Quá trình tăng sản của mô tuyến và mô đệm tạo thành những nhân ngày càng
phát triển về số lượng và kích thước. Thành phần tuyến gồm các chùm nang
có chứa các nhó bên trong. Khác với phần mô tuyến bình thường, có thể tìm
thấy ở đây những điểm nhồi máu, giãn các chùm nang, dị sản tế bào biểu mô.
Có thể tìm thấy hình ảnh tân sản nội biểu mô TTL (Prostatic Intraepithelila
Neoplasia - PIN) [21], [31].
16
Tỷ lệ mắc dùa vào tế bào và mô bệnh học cao hơn nhiều so với dùa
vào khối lượng TTL và điểm IPSS. Theo Gu F (2000), tỷ lệ mắc TSLT/TTL
qua số liệu xét nghiệm tế bào học là: 25% nhóm tuổi 40-50; 50% nhóm tuổi
50-60; 65% nhóm tuổi 60-70; 80% nhóm tuổi 70-80; 90% nhóm tuổi 80-90.
Tuy nhiên trong số này chỉ có 25-50% có triệu chứng lâm sàng [72]. Manzar
S (1997), đã tổng hợp tỷ lệ mắc theo triệu chứng lâm sàng và triệu chứng tế
bào mô bệnh học của mét số tác giả được trình bày tại bảng 1.1 [94].

Bảng 1.1: Tỷ lệ mắc TSLT/TTL của một số tác giả.

Franks
(n=211, tại U.K)
17%
40%
74%
80%
(Nguồn: Pakistan Journal of Surgery, Jan- March, 1997, Vol.13, No.1 [94])

Tỷ lệ mắc dùa vào tế bào và mô bệnh học Ýt được sử dụng trong điều
tra thống kê tỷ lệ mắc TSLT/TTL. Theo Rosette J (2006), xÐt nghiệm tế bào
học Ýt có giá trị trong việc xác định tỷ lệ mắc TSLT/TTL [111]. Xét nghiệm
tế bào và mô bệnh học chủ yếu để chẩn đoán phân biệt, đặc biệt với ung thư
TTL. Nhưng không thể cứ sinh thiết hàng loạt mà không dùa vào một gợi ý
nào. Những gợi ý đÓ chỉ định sinh thiết thường là: dÊu hiệu nghi ngờ khi
thăm khám TTL qua trực tràng; sau khi thăm dò bằng siêu âm; khi đo nồng độ
PSA huyết thanh cao hơn bình thường. Không thể chỉ sinh thiết một điểm, đa
số tác giả đề nghị sinh thiết 6 điểm quanh tuyến (hình lục lăng), có người đề
nghị 10 điểm. Theo Hà Thị Thu Hiền (2002), tiến hành nghiên cứu đối chiếu
hình ảnh mô bệnh học của tân sản nội biểu mô (PIN) với nồng độ PSA, trong 17
347 trường hợp được mổ bóc hoặc cắt nội soi TTL với chẩn đoán trước mổ là
TSLT/TTL, khi xét nghiệm mô bệnh học thấy: 17 trường hợp (4,9%) ung thư;
47 trường hợp PIN (13,5%); 283 trường hợp (81,56%) tăng sản lành tính.
Theo GS Trần Văn Sáng, có khoảng 10% số trường hợp chẩn đoán
TSLT/TTL, khi làm tế bào học mới phát hiện có tế bào ung thư [21].

1.1.2.4. Xác định tỷ lệ mắc dùa vào xét nghiệm PSA.
Khối lượng TTL tăng thì nồng độ PSA (Prostate Specific Antigen)

lên, tuổi trung bình 63, lấy máu tĩnh mạch xét nghiệm PSA, kéo dài 6 đến 37
tháng, xác định TTL qua siêu âm và sinh thiết (Biopsy) qua đường trực tràng,
nhận thấy: PSA rất có giá trị cho việc chẩn đoán ung thư TTL, làm tăng tỷ lệ
phát hiện ung thư so với sử dụng thăm trực tràng [46]. Theo Al Baha
Barqawi và cộng sự (2008), nguy cơ của ung thư TTL tăng dần theo tuổi,
yếu tố gia đình, một số thức ăn hàng ngày có ảnh hưởng tới tỷ lệ mắc. Tỷ lệ
mắc ở nhóm tuổi 40-59 là 2,2%; 60-70 là 13,7%. Tỷ lệ mắc dùa vào tử thiết
(autopsies) còn cao hơn, ở nhóm tuổi: 50-60 là 20%; 70-80 là 50% [41]. Đối
với tất cả bệnh nhân có nồng độ PSA>10 ng/ml, dù kết quả thăm trực tràng và
siêu âm như thế nào cũng cần làm sinh thiết dưới sự hướng dẫn của siêu âm
để xác định chẩn đoán. Nồng độ PSA tăng lên ngoài nguyên nhân do ung thư
TTL, còn do tuyến quá sản, viêm, hoặc do tác động cơ học tới nã, tuy nhiên
nó cũng không vượt quá giới hạn bình thường.

Tóm lại, tỷ lệ mắc theo các nghiên cứu dịch tễ học rất khác nhau, các
mẫu nghiên cứu của các tác giả nước ngoài là tương đối lớn, thời gian theo dõi
dọc có những nghiên cứu tới 20 năm. Ngược lại các nghiên cứu trong nước về
lĩnh vực này còn quá Ýt, mẫu nghiên cứu còn ở mức độ rất khiêm tốn, phương
pháp nghiên cứu chủ yếu là điều tra cắt ngang, chưa có nghiên cứu nào tiến hành
theo dõi dọc để đánh giá mức độ tiến triển của bệnh. Tiêu chuẩn để xác định tỷ
lệ mắc bệnh chưa hoàn toàn thống nhất, tùy theo điều kiện nghiên cứu, thời gian
nghiên cứu, địa bàn nghiên cứu, mỗi tác giả đưa ra một tiêu chuẩn đánh giá 19
riêng. Do đó nghiên cứu xác định tỷ lệ mắc tại một cụm dân cư nào đó sẽ giúp
cho việc lên kế hoạch chăm sóc và điều trị TSLT/TTL tại cụm dân cư đó.

1.2.2. Yếu tố liên quan đến tỷ lệ mắc tăng sản lành tính tuyến tiền liệt.
1.2.2.1. Tuổi đời

yếu tố di truyền và tỷ lệ mắc TSLT/TTL. Theo tác giả, yếu tố di truyền có liên
quan đến cảm thụ thể (Androgen receptor) tại cấu trúc của tế bào TTL, và
chính lý do này tác động đến sự khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh giữa các dân téc,
chủng téc [81].

1.2.2.4. Yếu tố nhân trắc học.
Theo Kellogg J. P và cộng sự (2002), tiến hành nghiên cứu điều tra
cắt ngang và theo dõi dọc từ năm 1993 đến năm 2002, cho đối tượng là nam
giới từ 27 tuổi trở lên. Kết quả cho thấy trọng lượng cơ thể, chỉ số BMI khác
nhau có ý nghĩa thống kê giữa nhóm khối lượng TTL < 40cm
3
và nhóm khối
lượng TTL ≥ 40cm
3
, khi chỉ số BMI tăng lên 1 đơn vị, thì khối lượng TTL
tăng lên 0,41cm
3
. Chỉ số đo chiều cao cơ thể, vòng Eo/Hông, sự khác nhau
không có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm khối lượng TTL [100]. Ngược lại
theo Faruk Turgut và cộng sự (2008), nghiên cứu Bệnh-Chứng theo dõi dọc
153 đối tượng tại Thổ Nhĩ Kỳ có nhận xét: Chỉ số BMI, thãi quen hót thuốc
không phải là yếu tố nguy cơ TSLT/TTL [64]. Theo Rosette J và cộng sự
(2006), nguyên nhân bệnh sinh là rất phong phú đa dạng. Hiện nay, chưa có
một bằng chứng rõ ràng rằng hót thuốc lá, phẫu thuật thắt ống dẫn tinh, béo
phì, uống nhiều rượu, bia là nguy cơ phát triển triệu chứng lâm sàng của
TSLT/TTL. Những bệnh cảnh mạn tính như tiểu đường có mối quan hệ với
triệu chứng lâm sàng của TSLT/TTL. Nhưng chỉ có yếu tố liên quan chắc
chắn đến sự phát triển của bệnh là tuổi đời và vai trò của nội tiết [111]. Theo
Signorello và cộng sự (2001), nghiên cứu đặc điểm dịch tễ TSLT/TTL tại Hy
Lạp, với phương pháp nghiên cứu Bệnh-Chứng, các đối tượng có cùng nhóm

1.2.2.6. Mét số yếu tố khác.
Theo Shvartzman P. MD và cộng sự (2001), biểu hiện triệu chứng
đường tiểu dưới càng nặng lên khi tuổi của họ tăng lên. Tất cả những trường hợp 22
có biểu hiện triệu chứng đường tiểu dưới đều có nhiều hơn các bệnh mạn tính và
các vấn đề về Y tế so với nhóm không có triệu chứng đường tiểu dưới. Phân tích
ảnh hưởng của một số hoạt động thường ngày ở những trường hợp có biểu hiện
triệu chứng đường tiểu dưới với mức độ bệnh cho thấy, việc đi tiểu theo một giê
nhất định, kể cả khi đi ngủ cũng chủ động thức dậy để đi tiểu, ảnh hưởng không
rõ ràng đến mức độ nặng nhẹ của triệu chứng đường tiểu dưới [117].

Theo Philip M. Ullrich và cộng sự (2005), nghiên cứu cắt ngang về
những yếu tố Strest trong cuộc sống với các thông số bệnh lý của 83 trường
hợp được chẩn đoán TSLT/TTL. Nhóm nghiên cứu kết luận, yếu tố tâm lý có
ảnh hưởng đến các thông số bệnh lý TSLT/TTL [103].

Theo Faruk Turgut và cộng sự (2008), nghiên cứu Bệnh-Chứng theo
dõi dọc 153 đối tượng tại Thổ Nhĩ Kỳ. Nhóm đối tượng nghiên cứu được đo
huyết áp liên tục trong 24 giê bằng máy đo tự động không xâm lấn. Nhóm
nghiên cứu nhận thấy có sự khác biệt về huyết áp vào ban đêm của nhóm có
TSLT/TTL và nhóm không có TSLT/TTL. Tác giả kết luận, đi tiểu đêm
không những làm nặng thêm điểm chất lượng cuộc sống mà nó còn làm tăng
nguy cơ bệnh lý tim mạch, sự thay đổi huyết áp không phải là dấu hiệu chỉ
báo bệnh TSLT/TTL, mà TSLT/TTL làm tăng nguy cơ bệnh lý về tim mạch
[64].

Theo Aruna V. Sarma, PHD (1998), nghiên cứu dịch tễ học ảnh
hưởng của bệnh tiểu đường và các chỉ số đánh giá TSLT/TTL. Nhóm nghiên

Tuổi
T.L mắc
Tại Hoa Kỳ
Roberts
1998
2.115
40-79
9%
2002
1.541
40-79
2,2%
Tại Hoa Kỳ
Collins
1998
58.955
≥ 18
8%
2002
31.681

16%
Tại Phần Lan
Mehik
2000
1.832
20-59
14,2%
Tại Italia
Rizzo

2002
3.147
20-50
8,7%

(Nguồn: International Journal of Impotence Research, 2002, Supl1, 99-104 [133])
24
Marie Chevret và cộng sự (2000), đã thống kê tỷ lệ mắc viêm tuyến
tiền liệt của một số nghiên cứu được trình bày tại bảng 1.2. Theo Trần Quán
Anh, viêm tuyến tiền liệt ở Việt Nam Ýt được phát hiện, có thể do người thày
thuốc chưa có một lưu ý đúng mức vào định hướng chẩn đoán bệnh này [2]
Theo Jennifer L. St và cộng sự (2006), nghiên cứu tác động của nhóm
thuốc kháng viêm Nonsteroid đối với sự phát triển TSLT/TTL. Kết quả
nghiên cứu cho thấy: thuốc kháng viêm Nonsteroid có tác dụng làm hạn chế
sự phát triển TSLT/TTL [86].

Theo Kenneth M và cộng sự (2000), có mối liên quan giữa
TSLT/TTL và bệnh lý mạch vành ở người đàn ông cao tuổi. Bệnh nhân ở
nhóm không có TSLT/TTL giảm đáng kể nguy cơ nhồi máu cơ tim so với
nhóm có TSLT/TTL [91].

Theo Gass R (2002), nhóm không hót thuốc lá có nguy cơ mắc
TSLT/TTL lớn hơn nhóm hót thuốc lá. Không có mối liên quan giữa trọng lượng
cơ thể và tỷ lệ mắc TSLT/TTL. Các thành phần trong cà phê làm tăng nồng độ
Cholesterol trong huyết thanh, nhân tố tham gia vào quá trình sinh lý bệnh của
TSLT/TTL [67]. Theo Richard B và cộng sự (1996), không có bằng chứng rõ
ràng thãi quen uống rượu là yếu tố nguy cơ của ung thư TTL và TSLT/TTL [105].

ông với điểm IPSS mức độ nhẹ nên lùa chọn phương án trì hoãn điều trị và
chờ đợi, bởi lẽ nó được coi nh- mét phần của quá trình lão hoá, sự tiến triển
thường chậm [129]. Mét số tác giả đưa ra phương hướng điều trị TSLT/TTL
nh- sau [51], [66], [111], [122], [127]:

- Theo dõi và chờ đợi (Watchfull waiting): Điểm IPSS ≤ 7; Điểm
QoL < 3; Không có yếu tố nguy cơ.

- Cần phải can thiệp Y tế (Medical Treatment): Điểm IPSS > 7; Điểm
QoL ≥ 3; Có yếu tố nguy cơ.

Trích đoạn Phương phỏp nghiờn cứu Dịch tễ học tăng sản lành tớnh tuyến tiền liệt tại tỉnh Thỏi Bỡnh Phẫu thuật nội soi Về đặc điểm bệnh nhõn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status