§Ò tμi:
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ NHẠY CẢM VỚI CIPROFLOXACIN
CỦA CÁC CHỦNG STREPTOCOCCUS PNEUMONIAE
PHÂN LẬP TỪ TRẺ EM DUWOIS 60 THÁNG TUỔI Ở HÀ
NỘI
Chñ nhiÖm ®Ò tμi: TS. NguyÔn Vò Trung
1
Đặt vấn đề
Nhiễm khuẩn hô hấp (NKHH) là một trong những nhóm bệnh phổ biến nhất trong
mô hình bệnh tật trên toàn thế giới, đặc biệt ở các nớc đang phát triển. Trong số
các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn hô hấp dới là nguyên nhân gây tử vong hàng
đầu cho trẻ em dới 5 tuổi. Ước tính mỗi năm, có khoảng 4 triệu trẻ em tử vong do
nhiễm khuẩn hô hấp cấp [6, 7]. ở các nớc đang phát triển, nhiều nghiên cứu cho
cho thấy, khoảng 10% số chủng giảm nhạy cảm với kháng sinh này [23, 24]. Thậm
chí, chỉ có 10% số chủng trong một nghiên cứu tại Anh là hoàn toàn nhạy cảm với
ciprofloxacin [17, 32]. Đây thực sự là một điều đang lo ngại vì ciprofloxacin ngày
càng đợc sử dụng rộng rãi trong điều trị các nhiễm khuẩn, kể cả nhiễm khuẩn
đờng hô hấp [25, 28-30, 34]. Thực nghiệm cho thấy, ciprofloxacin có tác dụng
bảo vệ tế bào biểu mô đờng hô hấp khỏi tác động của S. pneumoniae và các vi
khuẩn khác [53]. Việc tìm hiểu mức độ nhạy cảm của S. pneumoniae với
ciprofloxacin có ý nghĩa thực tế trong quá trình điều trị nhiễm khuẩn hô hấp trên
lâm sàng cũng nh giám sát tính nhạy cảm của vi khuẩn này đối với nhóm
fluoroquinolone nói chung. Chính vì lý do trên, chúng tôi tiến hành đề tài Đánh
giá mức độ nhạy cảm với ciprofloxacin của các chủng Streptococcus
pneumoniae phân lập từ họng mũi trẻ em đến 60 tháng tuổi tại Ba vì, Hà Nội
với 2 mục tiêu sau:
1. Xác định sự phân bố các chủng S. pneumoniae ở trẻ em đến 60 tháng tuổi tại
Ba Vì, Hà Nội.
2. Đánh giá mức độ nhạy cảm với ciprofloxacin của các chủng S. pneumoniae
phân lập từ họng mũi trẻ em đến 60 tháng tuổi tại Ba Vì, Hà Nội.
3
Chơng I
Tổng quan
1.1. Tình hình bệnh nhiễm khuẩn hô hấp
1.1.1. Trên thế giới
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, hàng năm có khoảng 4 triệu trẻ em tử vong do NKHH,
trong số đó có hơn 90% ở các nớc đang phát triển. NKHH là nhóm bệnh có tần suất
mắc cao, trung bình trẻ có thể mắc 3- 8 lần/năm, mỗi lần có thể kéo dài 3-5 ngày. Tỷ
khuẩn mọc có tính chất khuyếch tán, làm đục môi trờng và lắng cặn. Trên môi
trờng đặc nh thạch máu, vi khuẩn có vỏ, khuẩn lạc có dạng S, trong nh giọt
sơng và xung quanh có vòng tan máu . Các khuẩn lạc của phế cầu có đỉnh ở giữa
nh đầu ghim. Khi để sau 18 giờ khuẩn lạc hơi lõm xuống, bờ xung quanh hơi gồ lên
do hiện tợng tự ly giải bởi enzym bên trong vi khuẩn. Trên môi trờng nghèo dinh
dỡng, phế cầu kém phát triển, khuẩn lạc khô, nhỏ, xù xì.
Một số tính tính chất sinh vật hóa học thờng đợc sử dụng trong xác định vi
khuẩn:
Vi khuẩn không có catalase, bị ly giải bởi mật hoặc muối mật, không phát triển
trên môi trờng có ethylhydrocupein (test optochin dơng tính), không bị ức chế
trong môi trờng có gentamycin 5 àg/ml.
Tính chất kháng nguyên và phân loại:
S. pneumoniae có hai loại kháng nguyên: Kháng nguyên protein là kháng nguyên
chung và kháng nguyên vỏ polycacharide là kháng nguyên đặc hiệu týp. Dựa vào
kháng nguyên vỏ, S. pneumoniae đợc chia thành hơn 90 týp huyết thanh khác
nhau, trong đó có 23 týp huyết thanh đợc xác định là căn nguyên của hơn 90%
trờng hợp nhiễm khuẩn do S. pneumoniae. Các týp gây bệnh thờng gặp là 1, 2 và
3 (đối với ngời lớn) và 1, 6, 14 (với trẻ em) [22, 39, 43, 45]. Tuy vậy ở các vùng
khác nhau các týp huyết thanh gây bệnh có thể thay đổi. Hiện nay, một số nớc đã
sử dụng vacxin đợc sản xuất từ 23 týp huyết thanh này, tuy không đủ bảo vệ hoàn
toàn nhng cũng có tác dụng ngăn cản đ
ợc tỷ lệ nhiễm trùng nặng do S. pneumoniae
[27, 44, 49].
5
1.2.2. Khả năng gây bệnh
S. pneumoniae c trú không thờng xuyên ở vùng tỵ hầu của trẻ lành với tỷ
lệ khá cao, 40-70%. Trong điều kiện bình thờng, chúng không gây bệnh. Khi gặp
điều kiện thuận lợi nh tổn thơng đờng hô hấp sau nhiễm cúm, sởi , do thời tiết
bao gồm cả các chủng phân lập từ trẻ bệnh và trẻ khoẻ mạnh đề kháng với
penicillin, đa số các chủng đó cũng đề kháng với tetracycline, chloramphenicol, co-
trimoxazole và erythromycin [18, 47].
Nghiên cứu trên trẻ em dới 5 tuổi ở vùng nông thôn Mexico cho thấy, 3%
số chủng S. pneumoniae đề kháng penicillin và 42% số chủng đề kháng với co-
trimoxazole [42].
Theo một nghiên cứu ở úc trên trẻ khoẻ mạnh, 12,3% số chủng S.
pneumoniae kháng penicillin, 44,4% kháng co-trimoxazole và 18,1% kháng
erythromycin, Tỷ lệ S. pneumoniae đề kháng đa kháng sinh là 19% [46].
1.2.4.2. ở Việt Nam
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hà và cs năm 1998 ở trẻ em dới 5 tuổi tại
Hà Nội, 100% số chủng S. pneumoniae nhạy cảm với ampicillin nhng 72% kháng
erythromycin, 66% kháng co-trimoxazole và 36% kháng chloramphenicol [5].
Theo nghiên cứu của Lê Thị Hoa ở trẻ em dới 5 tuổi sống xa đô thị năm 2001, tỷ lệ S.
pneumoniae đề kháng với các kháng sinh nh sau: chloramphenicol (24,5%); co-
trimoxazole (14%); erythromycin (10,7%); penicillin (2%) và ampicillin (0%) [6].
Theo thống kê của Chơng trình Giám sát Quốc gia về Tính kháng thuốc của vi
khuẩn thờng gặp năm 2003, S. pneumoniae đề kháng erythromycin với tỷ lệ 64,6%;
co-trimoxazole: 62,9%; chloramphenicol: 31,9%; penicillin: 1,4% [4]. Theo Nguyễn
Văn Trọng khi nghiên cứu ở trẻ em dới 5 tuổi tại một số tỉnh miền Bắc năm 2007, 3-
5% số chủng S. pneumoniae kháng ceftriaxone và levofloxacin. Tỷ lệ đề kháng với
penicillin là 4,6% [9].
Đặc biệt, tại huyện Ba Vì - Hà Tây, một nghiên cứu về độ nhạy cảm của
S. pneumoniae với kháng sinh ở trẻ em 1 - 5 tuổi năm 2000 cho thấy, tỷ lệ mang S.
pneumoniae ở họng mũi của trẻ là 50%[36]. Trong đó, 90% các chủng đề kháng
với ít nhất một loại kháng sinh. S. pneumoniae đề kháng với tetracyline với tỷ lệ
88%; co-trimoxazole: 32%; chloramphenicol: 25%; erythromycin: 23%. Có một sự
khác nhau đáng kể về tỷ lệ đề kháng với ampicillin và penicillin giữa những trẻ
7
nhóm fluoroquinolone. Ciprofloxacin có phổ kháng khuẩn rất rộng, bao gồm phần
lớn các vi khuẩn gây bệnh quan trọng thuộc nhóm Enterobacteriaceae spp., Tụ cầu
vàng nhạy cảm với methicillin, và đặc biệt ciprofloxacin rất có tác dụng đối với
Pseudomonas aeruginosa. Ciproloxacin và những kháng sinh thuộc nhóm
fluoroquinolone khác có tác dụng tốt trong điều trị các nhiễm khuẩn đờng hô hấp
đặc biệt do S. pneumoniae [37]. Tuy nhiên, việc sử dụng rộng rãi kháng sinh này
tất yếu sẽ dẫn đến việc gia tăng tính kháng thuốc của vi khuẩn.
S. pneumoniae là căn nguyên chủ yếu gây nhiều nhiễm trùng đờng hô hấp và
viêm màng não. Vi khuẩn này cũng ngày càng đề kháng với các kháng sinh thông
dụng để điều trị nh penicillin, erythromycinTheo Adam, tại Canada, tỷ lệ S.
pneumoniae đề kháng với penicillin là 7,4% và với erythromycin là 19,2% [10].
Điều này đặt ra nhu cầu sử dụng các kháng sinh nhóm fluoroquinolone để thay thế
điều trị các nhiễm khuẩn đờng hô hấp ở ngời lớn. Chính vì lý do này, một số vi
khuẩn gây bệnh đờng hô hấp đã ngày càng đề kháng với các kháng sinh trong
nhóm này kể cả S. pneumoniae. Nh vậy có thể thấy rằng, có mối liên quan giữa
sự sử dụng kháng sinh với sự đề kháng của vi khuẩn. Trong 1 nghiên cứu kéo dài
10 năm ở Canada [10], tỷ lệ S. pneumoniae ở trẻ 0-15 tuổi đề kháng với
Ciprofloxacin tăng từ 0 lên 4,5%; ở ngời 16-64 tuổi tăng từ 0,2% lên 5,4% và ở
ngời trên 64 tuổi là từ 1,4% lên 11,6%. Cùng với sự gia tăng mức đề kháng thì
mức độ sử dụng ciprofloxacin và các kháng sinh trong nhóm này cũng tăng lần
lợt là 55,6% và 416,2%. Mặc dù việc sử dụng kháng sinh nhóm fluoroquinolone
khá rộng rãi ở ngời lớn nhng với trẻ em, điều này cần cân nhắc do có thể gây
các biến chứng tại khớp. Chính vì vậy, ciprofloxacin hoặc các kháng sinh tơng tự
chỉ nên đợc sử dụng nếu các kháng sinh khác không còn tác dụng. Tuy nhiên, do
sự lan tràn các chủng vi khuẩn kháng ciprofloxacin nói chung và S. pneumoniae
nỏi riêng trong cộng đồng và bệnh viện, trong nhiều trờng hợp, ciplofloxacin
không còn tác dụng ở trẻ em do mắc phải các chủng đã kháng thuốc [37].
Sự đề kháng của vi khuẩn đối với các kháng sinh nhóm fluoroquinolone có liên
quan đến các đột biến (đơn hoặc kép) trên nhiễm sắc thể tại các gen mã hoá cho
9
Chơng II
Đối tợng, vật liệu v phơng pháp nghiên cứu
2.1. Đối tợng
- Đối tợng nghiên cứu cho việc phân lập và xác định S. pneumoniae
818 trẻ từ 6 đến 60 tháng tuổi sống tại Ba Vì, Hà Nội. Một số thông tin chung về
bệnh nhân đợc thu thập bằng bộ câu hỏi.
- Đối tợng nghiên cứu cho xác định mức độ nhạy cảm với ciprofloxacin
421 chủng S. pneumoniae phân lập đợc từ họng mũi của 818 trẻ
Chủng vi khuẩn chuẩn làm kháng sinh đồ: S. pneumoniae ATCC 49619
Chủng vi khuẩn này do Khoa Xét nghiệm Viện Các bệnh Truyền nhiễm và Nhiệt đới
Quốc gia cung cấp.
2.2. Vật liệu
2.2.1. Môi trờng nuôi cấy, phân lập S. pneumoniae
Thạch máu cừu 5% có gentamycin (5g/ml) (Bio-rad, Mỹ)
Khoanh giấy optochin (Bio-rad, Mỹ)
2.2.2. Môi trờng làm kháng sinh đồ
Thạch Mueller- Hinton có 5% máu cừu (Bio-rad, Mỹ).
2.2.3. Khoanh giấy kháng sinh
Ciprofloxacin 5g ( Bio-rad, Mỹ).
2.2.4. Dụng cụ và vật liệu nghiên cứu khác
- Bộ thuốc nhuộm Gram.
- Độ đục chuẩn 0,5 McFarland tơng đơng 10
8
CFU/ml.
- Nớc muối sinh lý đóng ống 1 ml và hấp vô trùng.
- Thuốc thử catalase.
- Khoanh giấy optochin.
- Các đĩa Petri nhựa có đáy phẳng, đờng kính 90 mm.
11
nh vậy số trẻ cần điều tra là 736 ngời.
Để dự phòng những hộ gia đình không tham gia nghiên cứu, số trẻ đợc tính thêm
khoảng 10%. Nh vậy số trẻ cần điều tra khoảng 800.
ngời 368
05,0
6,0.4,0.96,1 /2)(1
2
2
2
2
==
=
d
qpZ
n
12
2.3.2. Kỹ thuật nuôi cấy, phân lập xác định S. pneumoniae
Qui trình nuôi cấy, phân lập và xác định S. pneumoniae đợc thực hiện theo thờng
qui của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO):
Bệnh phẩm họng mũi ngay sau khi lấy đợc bảo quản trong môi trờng Amies và
vận chuyển về labo vi sinh trong vòng 4 giờ. Các tăm bông có bệnh phẩm đợc cấy
phân vùng trên thạch máu, để tủ ấm 37
0
C trong khí trờng có 5% CO
2
.
Trên thạch máu sau 24 giờ, khuẩn lạc nhỏ, đờng kính khoảng 0,5-1mm, hơi lồi,
Vi khuẩn thuần nhất, mới cấy chuyển khoảng 8 giờ.
Pha huyền dịch vi khuẩn:
Từ một đĩa nuôi cấy vi khuẩn thuần chủng mọc qua đêm, dùng que cấy chấm vào 5
khuẩn lạc rồi nghiền vào nớc muối sinh lý vô trùng, lắc đều trên máy lắc. So sánh
với độ đục chuẩn 0,5 McFarland (nếu đục quá thì cho thêm nớc muối sinh lý, nếu
cha đủ đục thì cho thêm vi khuẩn) ta đợc hỗn dịch vi khuẩn có nồng độ khoảng
10
8
CFU/ml.
Dùng tăm bông vô trùng nhúng vào hỗn dịch vi khuẩn, ép vào thành ống cho bớt nớc
rồi dàn đều thành những đờng chéo nhau phủ kín mặt thạch.
Đặt khoanh giấy kháng sinh
Dùng kim tiêm vô trùng đặt các khoanh giấy kháng sinh lên mặt thạch sao cho mặt
của khoanh giấy ép sát vào mặt thạch, mép ngoài của khoanh giấy cách thành đĩa
1,5 cm và các khoanh giấy cách nhau 2 cm. Để 20-30 phút ở nhiệt độ phòng. Để
đĩa thạch ở 37
0
C qua đêm có thêm khí trờng 5-7%CO
2
.
Đọc kết quả
Đo đờng kính vòng ức chế từ phía sau mặt đĩa thạch bằng thớc đo rồi tính ra
mm.
14
Đánh giá kết quả
Căn cứ vào đờng kính vòng ức chế đo đợc và đối chiếu với bảng chuẩn, xác định
mức độ nhạy cảm (S), trung gian (I) hay đề kháng (R).
16
Chơng III
Kết quả nghiên cứu
3.1. Một số đặc điểm dịch tễ học của nhóm trẻ 6-60 tháng tuổi và tỷ lệ mang S.
pneumoniae
Bảng 3.1. Đặc điểm dịch tễ học của nhóm trẻ 6-60 tháng tuổi và
tỷ lệ mang S. pneumoniae
Đặc điểm
Số trẻ và tỷ lệ mang S.
pneumoniae
Số trẻ
Tổng số 818 (100) 421 (51)
*: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
Kết quả ở Bảng trên cho thấy, tỷ lệ mang S. pneumoniae trong nhóm trẻ ở cộng
đồng này là 51%. Tỷ lệ mang S. pneumoniae cao hơn ở trẻ từ 6-23 tháng tuổi và ở
17
các trẻ có triệu chứng viêm đờng hô hấp cấp (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với
p < 0,05).
3.2. Phân bố các trẻ theo nhóm tuổi
Bảng 3.2. Phân bố các trẻ theo nhóm tuổi
Tuổi (tháng) Phân bố n (%)
6-12 73 8,9
13-24 263 32,1
25-36 200 24,5
37-48 146 17,8
49-60 136 16,7
Tổng số 818 100
Theo kết quả ở Bảng trên, trong số 818 trẻ từ 6-60 tháng tuổi tham gia nghiên cứu,
các trẻ lứa tuổi 12-36 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất. Có 41% các trẻ dới 24 tháng
tuổi. Số trẻ trên 24 tháng tuổi là 59%.
3.3. Phân bố S. pneumoniae theo nhóm tuổi
Bảng 3.3. Phân bố các chủng S. pneumoniae phân lập đợc theo nhóm tuổi
Tuổi (tháng)
Phân bố S. pneumoniae
n (%)
Tổng số trẻ
trong nhóm tuổi
n (%) đề kháng với
ciprofloxacin
Số trẻ
n%
Giới
Nữ 47 25 187
Nam 73 31 234
Tuổi (tháng)
6-24 57 28 203
25-60 63 29 218
Vùng địa lý
Đồn
g
bằn
g
46 32 145
Đồi 35 24 146
Núi 39 30 130
Tình trạng kinh
tế hộ gia đình
Dới trung bình 63 31 203
Bằng và trên
trung bình
57 26 218
Triệu chứng
nhiễm khuẩn hô
hấp cấp
Khôn
g
có 75 28 265
25 (27,5) 63 (70,3) 3 (3,2)
91
37-48
22 (29,7) 52 (70,3) 0 (0)
74
49-60
16 (30,1) 34 (64,1) 3 (5,8)
53
Tổng số
120 (28,5) 279 (66,4) 24(6,0) 421
Kết quả ở Bảng 3.6 cho thấy, tỷ lệ S. pneumoniae kháng ciprofloxacin cao nhất ở
nhóm trẻ 6-12 tháng tuổi và thấp nhất ở nhóm trẻ 13-24 tháng tuổi.
Tỷ lệ S. pneumoniae kháng với ciprofloxacin ở nhóm 6-12 tháng là 46,3%, cao hơn
có ý nghĩa thống kê so với nhóm 13-24 và 25-36 tháng (p < 0,05).
Tỷ lệ S. pneumoniae kháng ciprofloxacin ở các nhóm khác không có sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê.
20
3.7. So sánh mức độ nhạy cảm với ciprofloxacin năm 2007 và 1999
khuẩn hô hấp ở nớc ta.
Sự c trú của S. pneumoniae ở họng mũi đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá
trình gây bệnh của vi khuẩn này và trong việc phòng bệnh. Sự c trú không chỉ là
điều kiện bắt buộc cho quá trình sinh bệnh mà còn tạo điều kiện cho sự lan truyền
ngang của các chủng vi khuẩn này trong cộng đồng [11, 41]. Tỷ lệ mang S.
pneumoniae ở họng mũi của trẻ phụ thuộc chủ yếu và thói quen vệ sinh và vào việc
sử dụng kháng sinh của trẻ. Tình hình c trú vi khuẩn ở họng mũi của trẻ phản ánh
các chủng vi khuẩn hiện đang lu hành trong cộng đồng gây các nhiễm khuẩn hô
hấp. Vì vậy, khi đánh giá tình trạng kháng kháng sinh của một chủng vi khuẩn,
ngời ta thờng xem xét nó cùng với tỷ lệ mang vi khuẩn đó trên một đối tợng
nhất định. Điều này mang lại những hiểu biết có giá trị cho việc lựa chọn kháng
sinh hợp lý trong điều trị các nhiễm khuẩn.
Kết quả nuôi cấy, phân lập S. pneumoniae cho thấy, tỷ lệ mang vi khuẩn này trong
nhóm đối tợng nghiên cứu là 51%. Kết quả của chúng tôi cũng tơng tự nh kết
quả của Lê Huy Chính năm 2007 (50%) [2]. Nếu so sánh với Nguyễn Hoàng Hiệp
năm 2003 (38,7%) [7] và Lê Hồng Quang năm 1995 (24,8%) [8], tỷ lệ S.
pneumoniae phân lập đợc trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn. Tuy nhiên, kết
quả nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với tác giả Lê Thị Hoa trong một nghiên
cứu năm 2001 (60%) [6]. Silva và cộng sự tiến hành nghiên cứu về tỷ lệ mang S.
pneumoniae cho thấy, tỷ lệ mang vi khuẩn này là 72% trong số các trẻ dới 36
22
tháng tuổi [52]. Tỷ lệ mang S. pneumoniae khác nhau tại các cộng đồng dân c
khác nhau sống ở những vùng địa lý, có điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau. Sở dĩ
có điều này là do các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trờng, điều kiện vệ sinh, y tế đều
có tác động đến tỷ lệ mang vi khuẩn này.
Trong nghiên cứu này, 61% các trẻ từ 13-24 tháng tuổi và 56% trẻ từ 6-12 tháng
tuổi mang vi khuẩn này trong họng mũi (Bảng 3.3). Tỷ lệ mang S. pneumoniae ở
nhóm trẻ dới 24 tháng tuổi cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm trẻ lớn hơn
(55% so với 48% Bảng 3.1). Kết quả này cũng phù hợp với nhiều nghiên cứu trớc
kháng sinh đồ, bệnh nhân đợc điều trị theo kinh nghiệm hoặc bản thân bác sĩ chỉ
định điều trị [13]. Bên cạnh đó, việc lạm dụng hoặc sử dụng kháng sinh không hợp
lý, đặc biệt là việc mua kháng sinh tự do, không cần đơn thuốc khá phổ biến ở
nhiều vùng tại Việt Nam [14, 15, 35]. Chình vì những lý do trên, sự gia tăng các
chủng S. pneumoniae kháng thuốc và đa kháng thuốc là một vấn đề ngày càng trầm
trọng. ở Việt Nam, tỷ lệ đề kháng kháng sinh của các chủng S. pneumoniae ngày
càng gia tăng. Theo một số nghiên mới đây, tỷ lệ S. pneumoniae còn nhạy cảm với
penicillin, co-trimoxazole, erythromycin là 36,5%; 35,5% và 7,9% [1]. Nghiên cứu
vào năm 2001 cho thấy, 98% các chủng S. pneumoniae còn nhạy cảm với penicillin
và 79% với co-trimoxazole [6]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Hiệp năm
2003, tỷ lệ các chủng S. pneumoniae nhạy cảm với penicillin và co-trimoxazole là
96,6% và 33% [7]. Mặc dù mức độ nhạy cảm của S. pneumoniae với một số kháng
sinh thông dụng có khác nhau tuỳ vào các vùng địa lý hoặc thời điểm khác nhau
nhng một điều dễ nhận thấy là số các chủng nhạy cảm với kháng sinh ngày càng
giảm và thay vào đó là tỷ lệ đề kháng ngày càng tăng. Trên thực tế lâm sàng, khi
các kháng sinh thông dụng không còn hiệu quả, các bác sĩ thờng sử dụng các
kháng sinh nhóm fluoroquinolone. Mặc dù các kháng sinh này có thể gây ra các
biến chứng về sụn, khớp nhng trong những trờng hợp đặc biệt, đây là sự lựa chọn
cuối cùng. Do vậy, đánh giá mức độ nhạy cảm của S. pneumoniae với các kháng
sinh nhóm này là hết sức cần thiết.
24
Trong nghiên cứu này, tỷ lệ S. pneumoniae kháng với quinolone là 28% tình chung
cho toàn bộ các lứa tuổi. Chỉ có 6% số chủng nhạy cảm với kháng sinh này. Theo
số liệu của một nghiên cứu năm 1999 cũng tại cộng đồng này, tỷ lệ các chủng nhạy
cảm là 20%, và 80% số chủng là trung gian, 0% đề kháng (Hình 2). Điều đó chứng
tỏ rằng, đã có sự gia tăng sự đề kháng của vi khuẩn này với ciprofloxacin (20%)
trong vòng 9 năm qua. Ngay tại Anh, năm 1999, trong một nghiên cứu trên 583
chủng S. pneumoniae, cũng chỉ có 10% các chủng nhạy cảm hoàn toàn với
ciprofloxacin [19, 40]. Điều đó chứng tỏ rằng, S. pneumoniae kháng ciprofloxacin