Thực trạng bệnh sâu răng, viêm lợi và hiệu quả tư vấn vệ sinh răng miệng ở trẻ tại hà nội - Pdf 19

ĐẶT VẤN ĐỀ
Sâu răng và viêm lợi là hai trong số những bệnh răng miệng phổ biến
nhất ở Việt Nam, cũng như những nước khác trên thế giới. Theo kết quả điều
tra dịch tễ học trên thế giới, trong khu vực và ở Việt Nam thì tỷ lệ người mắc
hai bệnh này rất cao, khoảng 50% đến 90% dân số bị sâu răng và 90% dân số
bị mắc bệnh quanh răng. Hai bệnh này là nguyên nhân chủ yếu gây mất răng,
ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và còn là nguyên nhân của một số bệnh nội khoa
nghiêm trọng: viêm màng tim, viêm cầu thận, viêm khớp. Là những bệnh mắc
từ rất sớm – ngay khi mọc răng (trẻ 6 tháng tuổi), chi phí cho việc điều trị rất
tốn kém và vượt quá khả năng chi trả của các nước đang phát triển và là gánh
nặng của các nước phát triển. Ở Mỹ mỗi năm phải chi phí cho việc chữa răng
vào khoảng 9 tỉ USD.
Trong 20 năm trở lại đây, với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kĩ thuật;
đặc biệt là trong lĩnh vực nha khoa, người ta đã tìm ra nguyên nhân và cơ chế
bệnh sinh sâu răng, phát hiện vai trò quan trọng của fluor trong việc bảo vệ
men răng. Trên cơ sở đó người ta đã đề ra các biện pháp phòng bệnh thích
hợp và đạt kết quả hữu hiệu: bệnh sâu răng đã được khống chế, số răng sâu
trung bình của trẻ em 12 tuổi giảm từ 6,5 xuống dưới 3, đến dưới 1. Điều này
đã được chứng minh ở những quốc gia triển khai tốt công tác phòng bệnh sâu
răng như Mỹ, Canada, các nước Bắc Âu, và một số nước trong khu vực châu
Á như Singapore, Hồng Kông…
Việt Nam là một nước đang phát triển, điều kiện kinh tế còn gặp nhiều
khó khăn; trang thiết bị y tế, đội ngũ cán bộ chuyên khoa trong lĩnh vực răng
hàm mặt còn thiếu trầm trọng và mới được quan tâm, phát triển trong một vài
năm gần đây; kiến thức về chăm sóc sức khỏe răng miệng của người dân còn
chưa đầy đủ và chưa được quan tâm đúng mức. Những điều kiện không thuận
lợi trên đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh sâu răng và viêm lợi ở
mức độ nặng ngày càng phổ biến.
Năm 2001, Viện Răng Hàm Mặt Quốc gia phối hợp với Trường Đại
Học Nha khoa Adelaide (Australia) tổ chức điều tra sức khỏe răng miệng trên
11

Răng cấu tạo gồm: Men răng, ngà răng, tủy răng, xương răng.
1.1.1. Men răng
Men răng có nguồn gốc ngoại bì, là tổ chức cứng nhất của cơ thể, có tỷ
lệ muối vô cơ chiếm 96% nhiều hơn so với ngà răng và xương răng, chất hữu
cơ chiếm 1,7%, muối chiếm 2,3%.
- Về mặt lý học: Men răng cứng, ròn, trong và cản tia X, với tỷ trọng từ
2,9 tới 3. Men răng phủ toàn bộ thân răng dày nhất ở núm răng và
mỏng dần về phía cổ răng. Ở trạng thái bình thường thì men trong suốt,
song men có thể thay đổi màu sắc do có một số yếu tố tác động khác.
- Về mặt hóa học: Men răng chứa 90 – 96% là chất vô cơ, chủ yếu là
3[(PO
4
)
2
Ca
3
]Ca(OH)
2
(Hydroxy apatit), 3[(PO
4
)
2
Ca
3
]
2
H
2
O (phốt phát 3
canxi ngậm nước) còn lại là một lượng rất nhỏ nhưng không thể thiếu

3[(PO
4
)
2
Ca
3
]
2
H
2
O. Nước và chất hữu cơ chiếm 30% chủ yếu là Collagene.
Về tổ chức học ngà răng được chia làm 2 loại:
44
- Ngà tiên phát: Chiếm khối lượng chủ yếu và được tạo nên trong
quá trình hình thành răng. Bao gồm: ống ngà, chất giữa ống ngà và
dây Tome.
o Ống ngà chính xuất phát từ bề mặt của tủy chạy suốt theo chiều
dày của ngà đến đường ranh giới men ngà.
o Ống ngà phụ là những ống nhỏ của nhánh bên, nhánh tận của
ống ngà chính hoặc là những nhánh nối giữa các ống ngà chính.
o Ống ngà số lượng từ 15 đến 50.000/1mm
2
, đường kính ống ngà
khoảng 3-5 μm, ống ngà chính chạy suốt chiều dày của lớp ngà
và tận cùng ở đường ranh giới men ngà.
- Ngà thứ phát: Được sinh ra khi răng đã hình thành. Bao gồm: ngà thứ
phát sinh lý, ngà phản ứng và ngà trong suốt.
o Ngà sinh lý: Được hình thành liên tục trong suốt thời gian tồn tại
của răng với nhịp độ rất chậm so với ngà tiên phát.
o Ngà phản ứng: Là biểu hiện phản ứng của tủy đối với quá trình

Bộ răng trẻ em ở độ tuổi 6-12 là bộ răng hỗn hợp, chúng mang những
đặc điểm của răng sữa và răng vĩnh viễn. Vì thế, trên cùng một bệnh nhân,
chúng ta có thể gặp những thương tổn của cả hai loại răng này. Đây là một
đặc điểm tạo nên sự phong phú, đa dạng về bệnh cảnh trên lâm sàng.
Bộ răng hỗn hợp: Trong thời điểm tồn tại bộ răng hỗn hợp, các răng
vĩnh viễn của trẻ em đã đảm nhiệm chức năng như ở người lớn tuy nhiên
chúng vẫn có sự khác biệt với răng vĩnh viễn với răng vĩnh viễn của người
lớn, những đặc điểm này gồm có:
- Chân răng chưa hình thành đầy đủ, vùng cuống chưa được đóng kín.
77
- Buồng tủy rộng, sừng tủy cao.
- Các ống ngà rộng, khả năng phản ứng và tái tạo nhanh chóng.
1.2. Bệnh sâu răng
1.2.1. Đặc điểm sâu răng ở trẻ em
Việc chưa hoàn thiện cấu trúc đã tác động không nhỏ tới sự phát triển
bệnh sâu răng và làm tăng các biến chứng của nó.
Các răng vĩnh viễn thường phải sau 2 năm mới ngấm vôi xong hoàn
toàn. Vì thế, tổn thương sâu răng ở trẻ thường tiến triển nhanh so với người
trưởng thành. Chân răng chưa hình thành và vùng cuống chưa được đóng kín
tạo điều kiện cho vi khuẩn thâm nhập sâu hơn vào tổ chức quanh răng, gây ra
những biến chứng: viêm tủy, viêm quanh cuống, viêm mô tế bào,… khiến cho
trẻ đau đớn, khó chịu, khó tập trung vào học tập.
1.2.2. Tình hình sâu răng ở trẻ em
Sâu răng là một bệnh phổ biến và thường mắc từ giai đoạn đầu sau khi
răng mọc ở trẻ em. Tổ chức cứng của răng bị phá hủy tạo thành lỗ sâu trên
răng. Sâu răng ở trẻ em được chia ra thành 2 dạng đó là sâu răng sữa và sâu
răng vĩnh viễn.
Sâu răng là bệnh tổn thương không hồi phục do đó nếu sâu răng mà
không được chữa trị triệt để và dự phòng kịp thời, đúng cách thì tỷ lệ răng sâu
sẽ lũy tích ngày càng cao.

nước này tình trạng mất răng thường gặp ở mọi lứa tuổi. Trong khi đó ở các
nước công nghiệp hóa (có nền kinh tế phát triển) số răng mất và tỷ lệ người
mất răng có xu hướng giảm đi đáng kể [34].
Chỉ số SMTR ở trẻ 12 tuổi tại một số nước phát triển cụ thể như trong
bảng sau:
Bảng 2. Chỉ số SMTR của một số nước phát triển trên thế giới
Tên quốc gia Năm SMTR Năm SMTR
Thụy Điển 1980 1,7 2005 1,0
Na Uy 1979 4,5 2004 1,7
Mỹ 1980 2,0 2002 1,75
Australia 1982 2,1 2000 0,8
Canada 1979 2,9 1997 2,1
Thụy Sỹ 1980 1,7 2004 0,86
New Zealand 1982 2,0 2005 1,7
Phần Lan 1981 4,0 2000 1,2
Nhật Bản 1979 2,4 1999 2,0
1
0
1
0
Tình trạng sâu răng và chỉ số SMTR ở trẻ em còn khá cao và có
chiều hướng gia tăng ở hầu hết các nước có nền kinh tế đang phát triển
trên toàn thế giới.
• Tình hình sâu răng trong khu vực Đông Nam Á
Theo kết quả nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới tại các nước trong
khu vực Đông Nam Á:
Tại Thái Lan, trẻ em 6 tuổi có tỷ lệ sâu răng vào khoảng 96,3%, DMFT
trung bình là 8,1; Còn với những trẻ 12 tuổi, tỷ lệ sâu răng vào khoảng 70%
và DMFT trung bình là 2,4 [27, 34].
Tại Phillipin, tỷ lệ sâu răng của trẻ 6 tuổi là 92,0% và DMFT trung bình

khá cao, vào khoảng 6,0; Chỉ có vùng đồng bằng sông Hồng chỉ số này là
thấp hơn, dao động khoảng từ 3,0 đến 3,5 [18, 19].
Tại vùng đồng bằng sông Hồng, lứa tuổi 6-8 có tỷ lệ sâu răng sữa là
72,3% và tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn là 10,3%; lứa tuổi 9-11 tuổi có tỷ lệ sâu
răng sữa là 53,2%; và tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn là 50,7% [18, 19].
Kết quả điều tra răng miệng toàn quốc của Viện Răng Hàm mặt năm
2001 cho thấy tỷ lệ sâu răng tại Việt Nam tăng lên so với kết quả điều tra lần
1 được tiến hành vào năm 1990 [18, 19].
Theo nghiên cứu của Viện Răng Hàm mặt năm 1999, tại Hà Nội tỷ lệ
sâu răng của trẻ em lứa tuổi 6-12 tuổi là 57,02%. Trẻ 6 tuổi có tỷ lệ sâu răng
là 64,95% (với răng sữa); chỉ số SMTR là 5,4 [19].
Năm 2007, Đào Thị Dung đã thực hiện một nghiên cứu tại các trường
tiểu học của quận Đống Đa, Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ sâu
răng sữa là khá cao (63,19%), chỉ số SMTR là 3,75. Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn
1
2
1
2
là 20,3%, chỉ số SMTR là 0,42. Điều này cho thấy, tỷ lệ sâu răng của học sinh
không có chiều hướng giảm [4].
Hình 2: Tình trạng răng miệng của học sinh trường Xã Đàn
1.2.3. Bệnh sinh học sâu răng
Người ta cho rằng sâu răng là một bệnh đa nguyên nhân, trong đó vi
khuẩn đóng vai trò là một nguyên nhân quan trọng đặc biệt là Streptococcus.
Ngoài vi khuẩn ra, một số điều kiện thuận lợi cho sâu răng phát triển cũng
đóng vai trò quan trọng không kém, cụ thể như:
- Chế độ ăn uống tạo điều kiện cho sâu răng phát triển: Sự gây ra sâu
răng của thức ăn được nhắc đến nhiều nhất là đường, là cơ sở quan
trọng để vi khuẩn bám vào đó sinh sôi nảy nở, nhất là ăn nhiều đường,
ăn đồ ngọt, không chải răng trước khi đi ngủ. Các gợn thức ăn còn bám

Với mô hình này, người ta quan tâm đến một số yếu tố sau:
- Răng: ảnh hưởng bởi các yếu tố như tuổi, fluoride, dinh dưỡng…
- Vi khuẩn: đặc biệt là Streptococcus Mutans.
- Chất nền: ảnh hưởng bời yếu tố VSRM, việc sử dụng Fluor, pH, khả
năng trung hòa của nước bọt.
1
5
1
5
Mảng bám vi khuẩn;
Chế độ ăn nhiều đường;
Nước bọt thiếu hay acid;
Acid dạ dày tràn lên miệng;
pH < 5,5
Nước bọt
Khả năng kháng acid của men răng
Fluor có ở bề mặt men răng
Trám bít hố rãnh
pH > 5,5
Các yếu tố bảo vệ:
Các yếu tố gây mất ổn định làm sâu răng:
Sơ đồ WHITE cho thấy có nhiều yếu tố tác động đến việc sâu răng
như: hạn chế quá trình hủy khoáng, tăng cường quá trình tái khoáng và có tác
dụng bảo vệ răng không bị sâu như nước bọt, khả năng acid của men, các ion
F
-
, Ca
++
, pH trên 5 và sự trám bít hố rãnh… Với những hiểu biết sâu hơn về
cơ chế bệnh sinh của quá trình sâu răng nên trong hai thập kỷ qua con người

không có viêm lợi.
Năm 1978, Tổ chức Y tế thế giới thông báo có 80,0% số trẻ em dưới 12
tuổi và 100% trẻ 14 tuổi có viêm lợi mạn tính. Sau 14 tuổi mức độ viêm giảm
dần và có sự khác nhau giữa nam và nữ.
Năm 1983, Spencer nghiên cứu 128 trẻ 5-6 tuổi tại Australia thấy lợi
quanh răng sữa chỉ có viêm nhẹ, ít có viêm nặng và ít có mối liên quan giữa
tình trạng vệ sinh răng miệng với mức độ nặng của viêm lợi [35].
• Bệnh quanh răng tại Việt Nam:
Theo kết quả điều tra của viện Răng Hàm Mặt Hà Nội phối hợp với
trường đại học Nha khoa Adelaide (Australia) năm 2001 [19] cho thấy:
- Tỷ lệ bệnh viêm lợi theo lứa tuổi, cụ thể như sau:
o Trẻ 6-8 tuổi: 50,52%
o Trẻ 9-11 tuổi: 81,71%
o Trẻ 12-14 tuổi: 90,97%.
- Tỷ lệ chảy máu lợi theo lứa tuổi, cụ thể như sau:
o Trẻ 6-8 tuổi: 42,7%
o Trẻ 9-11 tuổi: 69,2%
1
8
1
8
o Trẻ 12-14 tuổi: 72,4%.
1.3.2. Nguyên nhân bệnh quanh răng
Bệnh viêm lợi do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra; cụ thể như
thiếu sinh tố, sang chấn khớp cắn, vi khuẩn và vệ sinh răng miệng kém. Trong
đó, nguyên nhân chính là do vi khuẩn và vệ sinh răng miệng kém. Những yếu
tố này sẽ tạo nên mảng bám và là nguyên nhân chính gây ra viêm lợi.
Mảng bám được hình thành do các men của vi khuẩn như
Carbohydraze, Neuraminidaze tác động lên acid Syalic của Mucin nước bọt
lắng đọng hình thành mảng kết tủa bám vào răng. Lúc đầu những mảng bám

- Sử dụng Fluor trong phòng sâu răng:
o Men răng là tổ chức cứng nhất của cơ thể. Thành phần chủ yếu
của men răng là apatit, chiếm đến 96%. Fluor là nguyên tố không
mùi vị, có khả năng ngấm vào men răng, biến các apatit thành
fluorapatide, làm cho men răng cứng chắc hơn và ít bị hòa tan
trong acid nên phòng được sâu răng.
o Trẻ từ khi mới sinh cho đến 7-8 tuổi, nếu cơ thể hấp thu tốt Fluor
qua nước uống, sữa, muối, viên Fluor thì Fluor sẽ ngấm vào
men răng. Sau 7-8 tuổi nếu dùng kem chải răng hoặc nước súc
miệng có pha Fluor thì các ion Fluor có thể ngấm thêm vào men
răng cho đến 12-15 tuổi.
- Trám bít hố rãnh phòng ngừa sâu răng:
2
0
2
0
o Trám bít hố rãnh là đặt 1 loại vật liệu lên các hố rãnh của răng,
thường là các răng cối để ngừa sâu răng .Vì các hố và rãnh đặc
biệt là ở các răng cối, lông bàn chải khó có thể chải sạch được.
o Các loại vật liệu để trám bít hố rãnh: Có loại tự động cứng
(hóa trùng hợp), có loại đông cứng bằng đèn Halogen (quang
trùng hợp).
o Việc trám bít hố rãnh đòi hỏi kỹ thuật chuyên môn và vật liệu
đắt tiền nên việc thực hiện phải được tiến hành tại các phòng
Nha Khoa và do các Bác sỹ Nha Khoa hay Y sĩ Răng trẻ em
thực hiện.
- Chế độ ăn, uống phòng ngừa sâu răng:
o Ăn đa dạng, cân bằng và điều độ các thức ăn tốt cho sức khỏe
của cơ thể cũng như cung cấp đủ lượng vitamin, khoáng chất và
các chất dinh dưỡng cần thiết cho sức khỏe của răng miệng.

tiểu học và trung học cơ sở được chăm sóc răng miệng ổn định và lâu dài qua
chương trình Nha Học Đường, đạt được mục tiêu về dự phòng sâu răng của
Tổ chức Y tế thế giới đã đề ra.
1.4.2. Dự phòng bệnh viêm lợi
1.4.2.1. Các biện pháp can thiệp
Các biện pháp dự phòng bệnh viêm lợi tập trung chủ yếu vào vấn đề vệ
sinh răng miệng, cụ thể bao gồm:
2
2
2
2
- Các biện pháp cơ học làm sạch mảng bám
o Thực hiện tốt các kỹ thuật chải răng.
o Sử dụng các biện pháp làm sạch kẽ răng: chỉ tơ nha khoa, tăm
gỗ, bàn chải kẽ…
o Phương pháp phun tưới: sử dụng chất sát khuẩn dể phun tưới.
o Lấy cao răng định kì tại phòng khám nha khoa.
- Kiểm soát mảng bám bằng phương pháp hóa học
o Sử dụng nước xúc miệng loại trừ mảng bám hàng ngày.
o Sử dụng enzyme.
- Khắc phục, sửa chữa những sai sót
o Sửa chữa lại những răng hàn hoặc phục hồi sai quy cách.
o Tạo điểm tiếp giáp giữa các răng…
- Chế độ ăn uống dự phòng viêm lợi
o Chế độ ăn cân bằng làm tăng sức khỏe của lợi
o Thành phần hóa học và tính chất vật lý của thức ăn cũng ảnh
hưởng rất lớn đến tổ chức lợi: thực phẩm xơ làm sạch răng, thức
ăn có đường và dính làm tăng hình thành mảng bám…
- Truyền thông dự phòng bệnh viêm lợi
1.4.2.2. Mục tiêu can thiệp dự phòng bệnh viêm lợi:

o Là học sinh câm, điếc;
o Ở độ tuổi 12;
o Tại 2 trường trường tiểu học câm, điếc Xã Đàn và Nhân Chính.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Những học sinh không đồng ý hoặc cha mẹ không
đồng ý cho con tham gia vào nghiên cứu.
2.2. Thời gian và địa điểm tiến hành nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại 2 trường câm, điếc Xã Đàn và Nhân
Chính thành phố Hà Nội trong khoảng thời gian từ tháng 3/2009 đến tháng
9/2009. Với 2 lần khám và phỏng vấn trước và sau can thiệp:
- Lần khám và phỏng vấn thu thập thông tin 1: tháng 3 năm 2009.
- Lần khám và phỏng vấn thu thập thông tin 2: tháng 9 năm 2009.
2.3. Thiết kế nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu định lượng
2.3.2. Loại nghiên cứu: Nghiên cứu giả thực nghiệm
2.3.3. Cách thức triển khai nghiên cứu
- Thu thập và phân tích thông tin đầu vào (trước can thiệp):
o Khám lâm sàng xác định tỷ lệ mắc bệnh răng miệng;
2
5
2
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status