1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
BỘ Y TẾ
NGUYỄN MỘNG ĐĂNG KIỀU
TÌNH TRẠNG SÂU RĂNG, VIÊM LỢI VÀ HIỆU QUẢ TRUYỀN
THÔNG VỆ SINH RĂNG MIỆNG Ở TRẺ EM
BỊ BỆNH TỰ KỶ TẠI TRUNG TÂM HY VỌNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ RĂNG HÀM MẶT
Khóa 2009 - 2015
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. VÕ TRƯƠNG NHƯ NGỌC
HÀ NỘI – 2014
2
LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin được gởi lời cảm ơn
chân thành tới:
Ban giám hiệu Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt – Đại học Y Hà Nội.
Ban giám hiệu Khoa Nha Trường Đại học Nantes – Cộng hòa Pháp.
Ban giám hiệu khoa Quốc tế - Đại học Quốc gia Hà nội.
Các thầy cô Bộ môn Răng trẻ em, Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt – Đại học
Kính gửi: Phòng đào tạo Viện Đào tạo Răng hàm mặt Trường Đại Học
Y Hà Nội
Bộ môn Răng trẻ em Viện Đào tạo Răng hàm mặt Trường Đại học Y
Hà Nội
Hội đồng chấm thi khóa luận tốt nghiệp năm 2014-2015
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Tôi xin cam đoan những kết quả trong khóa luận này do chúng tôi tiến
hành một cách nghiêm túc và khách quan dựa trên những số liệu thu thập
được tại trung tâm Hy Vọng
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong các công trường khác. Tôi xin chịu hoàn toàn trách
nhiệm về những số liệu và kết quả trong khóa luận này
Tác giả khóa luận
Nguyễn Mộng Đăng Kiều
4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết
tắt
TED
Tiếng Anh
CIM
DSM
children Autistic
envahissants du
développement
Classification
international des
maladies
Hội chứng rối loạn
phát triển lan tỏa.
Bảng phân loại
bệnh quốc tế.
Bảng chuẩn đoán
các bệnh thần kinh.
La Classification
française des
troubles mentaux
de l'enfant et de
l'adolescent
CARS
CHAT
Tiếng Việt
Diagnostic and
Statistical Manual of
Mental Disorders
CFTMEA
5
GI
filling teeth
trám
Gingival index
Chỉ số lợi
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục bảng
Danh mục hình
6
DANH MỤC BẢNG
7
DANH MỤC HÌNH
9
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài:"Tình trạng sâu răng, viêm lợi và
hiệu quả truyền thông vệ sinh răng miệng ở trẻ em bị bệnh tự kỷ tại
Trung tâm Hy Vọng",với các mục tiêu như sau:
1. Mô tả thực trạng bệnh sâu răng, viêm lợi ở nhóm trẻ tự kỷ tại trung
tâm Hy vọng, Hà Nội.
2. Đánh giá hiệu quả truyền thông vệ sinh răng miệng ở nhóm đối
tượng nghiên cứu trên
10
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về trẻ tự kỷ
1.1.1. Lịch sử phát triển
Bệnh tự kỷ đã được nhắc đến từ đầu thế kỷ XX, tuy nhiên trước đây
căn bệnh này được xếp vào nhóm bệnh tâm thần phân liệt ở trẻ em [1].
Nghiên cứu khoa học đầu tiên về bệnh tự kỷ được thực hiện vào năm
1943 do nhà tâm thần học người Mỹ LeoKanner thực hiện trên 11 đứa trẻ có
chung những vấn đề về giao tiếp và xã hội. Lần đầu tiên, Leo Kanner đã sử
dụng thuật ngữ “Tự kỷ” và tách nó ra hoàn toàn khỏi nhóm bệnh tâm thần
phân liệt [2].
Năm 1944, bác sỹ nhi người Áo Hans Asperger công bố luận văn của
ông “Bệnh tự kỷ ở trẻ em”. Những đứa trẻ trong nhóm nghiên cứu của ông có
khá nhiều nét tương đồng với nghiên cứu của Kanner, nhưng khá năng giao
quan hệ sống khi còn rất nhỏ, trẻ sẽ tự giam hãm trong một thế giới bên
trong, lập ra một bức tường ngăn cách giữa chúng với môi trường xung
quanh [7] ngày nay giả thuyết này không còn giá trị nữa.
• Nguyên nhân về não bộ và thần kinh Nhiều nghiên cứu khác nhau đã
ghi lại những nguyên nhân não bộ và tâm thần có thể chịu trách nhiệm
cho chứng tự kỷ. Và có nhiều giả thuyết được đưa ra như : Sự giảm lưu
lượng máu đến các bán cầu và giảm số lượng xy náp hoạt động trong
các nếp cuộn thái dương trên và rãnh thái dương trên, nơi có nhiệm vụ
xử lý thông tin âm thanh, cái nhìn, biểu hiện nét mặt hay những cử chỉ
cần thiết để phân tích kỹ lưỡng tâm trạng và ý nghĩ của người khác.[8]
Phần não chuyên biệt hóa trong nhận diện giọng nói của con người
không được kích hoạt do đó xử lý giọng nói của con người như bất cứ
âm thanh nào khác. [9]
12
•
Những yếu tố sinh học, gen và môi trường: một nghiên cứu ở Anh trên
trẻ sinh đôi cho thấy trong số những người anh chị em của trẻ tự kỷ, 38% có biểu hiện tự kỷ. [10] Trong trường hợp sinh đôi cùng trứng, khi
một trong hai bị tự kỷ, 60% trẻ còn lại cũng bị. [11] Một số nghiên cứu
khác cũng chỉ ra rằng những người mắc bệnh về gen xơ cứng củ ( đặc
trưng bởi những cơn con giật, bại liệt và rối loạn tâm lý) và hội chứng
X dễ gãy có nguy cơ lớn bị tự kỷ. Ngoài ra, một loại thuốc chống nôn
có tên là Thalidomide [12] và vaccin RRO (sởi, quai bị, rubeol) [13]
cũng được cho là có mối tương quan với chứng bệnh này.
1.1.3. Biểu hiện
1.1.3.1. Những biểu hiện sớm
* Trong năm thứ hai
- Thiếu những hành vi bình thường của lứa tuổi:
• Sự chỉ tay (hướng sự chú ý tới đồ vật, thể hiện mong muốn của bản
•
•
thân) – phương tiện để giao tiếp với người khác
Sự tiếp xúc bằng mắt – thể hiện sự chú ý tới người đối diện
Sự biểu hiện những điều mong muốn (ví dụ muốn người lớn đưa cho
một món đồ chơi nhưng không biết biểu hiện thế nào)
• Sự vui đùa với người khác.
- Hành động lặp lại : Sự chú ý tập trung vào những chuyển động lặp lại
(đóng mở cánh cửa trong hàng giờ đồng hồ, xoay tròn các đồ vật hay tự xoay
tròn,…)
- Vấn đề ngôn ngữ : chậm nói hay hoàn toàn không biết nói
- Thích ở một mình
- Có những biểu hiện tự hung bạo với bản thân
- Có khi giống như bị điếc, không phản ứng khi được gọi tên hay tiếng ồn
1.1.3.2. “Thế giới”
* Thế giới bên ngoài
Do có những rối loạn trong ngôn ngữ, giao tiếp, và hành vi, trẻ tự kỷ gặp
khó khăn trong việc hòa nhập xã hội. “Thế giới bên ngoài” trở nên đáng sợ
đối với trẻ. Thường có những suy nghĩ logic riêng để giải thích cho mọi vấn
đề trong cuộc sống, nhưng lại không biết các diễn tả cho người khác hiểu, trẻ
tự kỷ thường bị coi là kỳ lạ, bất thường, tâm thần, bị chọc ghẹo, la mắng
khiến cho trẻ càng sợ hãi, tức giận và rúc vào thế giới nội tâm của mình hoặc
phản ứng hung bạo như một cách tự bảo vệ.
* Thế giới nội tâm.
vận động động dự kiến và ý định giả thiết một động cơ để phản ứng và tổ
chức hành động hướng tới một mục đích nào đó)
* Chức năng nhận thức
15
Ở trẻ tự kỷ, chức năng nhận thức được đặc trưng bởi [17]:
•
Khả năng xử lý dữ liệu tập trung vào chi tiết cao hơn so với hiệu suất
•
•
•
•
trung bình của dân số nói chung.
Khó khăn trong việc thích nghi với sự thay đổi
Khó khăn trong những chức năng điều hành, đặc biệt là trí nhớ công việc
Khó khăn khi đánh giá trạng thái tinh thần của người khác và của bản thân
Có xu hướng xử lý phân mảnh các tác nhân kích thích, nhấn mạnh vào
các chi tiết hơn là tổng thể
* Chức năng cảm xúc
Khả năng hiểu những biểu hiện cảm xúc của người khác yếu, dẫn đến
khó khăn trong việc phối hợp và chia sẻ cảm xúc [17].
* Chức năng giao tiếp
Chức năng giao tiếp bị giới hạn, đặc biệt trong các phương diện thể hiện
sự chú ý qua lại, bắt chước và ngôn ngữ [17].
- DSM IV – chẩn đoán các bệnh thần kinh
- CFTMEA – Phân loại các rối loạn thần kinh ở trẻ nhỏ và vị thành niên,
bảng này chỉ sử dụng ở Pháp
- Những công cụ chẩn đoán : là những câu hỏi và những biểu hiện quan
sát được nhằm xác định xem đứa trẻ có hay không những dấu hiệu của bệnh
tự kỷ. Những công cụ đó được đề cập trong bảng sau:
Tên công cụ
CARS (children
Autistic Rating
Scale – thang
đánh giá bệnh tự
kỷ ở trẻ em)
Đặc điểm
-sử dụng thông dụng nhất, để
đánh giá mức độ trầm trọng của
chứng rối loại tự kỷ
- trẻ từ 2 tuổi trở lên
- ít khả năng phân biệt giữa chậm
phát triển và tự kỷ
- người thực hiện việc đánh giá
phải được huấn luyện
(autism - Cho phép đưa ra chẩn đoán
Đánh giá cùng với
Quan sát và khai
thác thông tin từ bố
mẹ
ADI-R
hiện với trẻ từ 18 tháng tuổi, và khai thác thông tin từ bố mẹ.
- Đánh giá chức năng
•
•
•
•
Đánh giá hành vi
Đánh giá chức năng tâm lý
Đánh giá sự giao tiếp và ngôn ngữ
Đánh giá vận động và xúc cảm
1.2. Điều trị cho trẻ tự kỷ
1.2.1. Điều trị giáo dục
1.2.1.1. Phương pháp ABA (applied Behavior Analysis – phân tích ứng dụng
hành vi)
Phân tích ứng dụng hành vi (ABA) là phương pháp phân tích hành vi kết
hợp với can thiệp nhằm mục đích giúp bệnh nhân hòa nhập tối đa với xã hội
bằng cách củng cố những hành vi thích nghi và giảm những hành vi được
đánh giá là không phù hợp
Bệnh nhân sẽ được phân tích đánh giá những hành vi phù hợp và không
phù hợp từ đó đưa ra tiến trình điều trị thích hợp.[20]
1.2.1.2. Phương pháp PECS (Picture Exchange Communication System – hệ
thống giao tiếp bằng hình ảnh)
18
PECS là một hệ thống giao tiếp bằng cách trao đổi hình ảnh áp dụng chủ
yếu ở trẻ chưa đi học. Mục tiêu của phương pháp này là hướng dẫn cho trẻ
19
1.2.3. Một số phương pháp khác
•
Vật lý trị liệu: cải thiện những khó khăn trong vận động gây ra do
•
những hạn chế về chức năng
Hợp nhất các giác quan: nâng cao khả năng xử lý của các giác quan,
•
•
giúp trẻ đạt được những kỹ năng cao hơn.
Cải thiện kỹ năng giao tiếp xã hội
Liệu pháp điều hòa thính giác : điều trị cho những trẻ gặp khó khăn
•
trong việc xử lý âm thanh hoặc nhạy cảm với âm thanh
Trị liệu ngôn ngữ [24]
1.3. Chăm sóc sức khỏe răng miệng cho trẻ bị tự kỷ - các phương pháp
truyền thông
1.3.1. Mối liên quan giữa tự kỷ và các vấn đề răng miệng
1.3.1.1. Những khó khăn và các yếu tố nguy cơ đến sức khỏe răng miệng ở trẻ
tự kỷ
* Nhạy cảm miệng
Khó ăn nhai
Khó khăn ngôn ngữ
Tăng nguy cơ chấn thương
Tăng nguy cơ bệnh nha chu
Tăng nguy cơ sâu răng
* Những khó khăn khác
Khó khăn trong nhận thức và giao tiếp
Mức độ hiểu và giao tiếp ở trẻ tự kỷ thường kém gây khó khăn trong
việc khám chữa bệnh. Để có được sự tin tưởng và hợp tác của trẻ, bác sỹ
thường sử dụng phương pháp “tell-show-do” tức là nói và mô tả (bằng tranh
ảnh, thử trên tay bệnh nhân) cho bệnh nhân biết những việc sẽ làm trước mỗi
động tác thăm khám chữa bệnh [27]
Rối loạn cảm xúc và tri giác
Ở trẻ tự kỷ, một thay đổi đuột ngột có thể dẫn tới những phản ứng hung
bạo [27]
•
Thính giác: trẻ tự kỷ rất nhạy cảm với âm thanh. Phòng khám nha khoa
lại là một nơi ồn ao với những tiếng động rất kho chịu với trẻ (tiếng
21
khoan, hút nước, đèn,..) Do đó, khó khăn trong việc làm trẻ bình tĩnh,
•
tin tưởng và hợp tác
Thị giác: trẻ tự kỷ thường không chịu được việc tiếp xúc ánh mắt, đồng
mềm, dính, thói quen xấu gây tổn thương, vệ sinh răng miệng kém. Tuy nhiên
nhiều báo cáo chỉ ra rằng chỉ số sâu mất trám (DMFT) ở trẻ tự kỷ thường thấp
22
hơn, hoặc không có sự khác biệt đáng kể so với nhóm trẻ không mắc bệnh.
Do đó, bệnh tự kỷ không phải là yếu tố nguy cơ gây sâu răng. [29] [30]
* Bệnh nha chu
Bệnh nha chu phát triển ở bệnh nhân tự kỷ theo cùng một cách như ở
bệnh nhân bình thường. Trong nhiều nghiên cứu cho thấy trẻ tự kỷ thường vệ
sinh răng miệng kém làm tăng nguy cơ mắc bệnh nha chu. Stress là một yếu
tố quan trọng ảnh hưởng đến vệ sinh răng miệng.
* Sự mọc răng
Ở trẻ tự kỷ, sự mọc răng có thể bị chậm trễ do phì đại lợi dưới tác dụng
của Phenytoin – Một loại thuốc hay được kê cho bệnh nhân bị tự kỷ.
* Chấn thương và tổn thương
Chấn thương và tổ thương vùng miệng thường hay xảy ra ở trẻ tự kỷ. Trẻ
có thể nghiến chặt răng tới đau ê hàm, cắn môi chảy máu, tự nhổ răng như
một phản ứng chống lại stress. Những rối loạn tiêu hóa dẫn tới nôn mửa
thường xuyên và dẫn tới loét niêm mạc miệng. Những cơn động kinh khiến
trẻ không kiểm soát và té ngã gây chấn thương. [29]
1.3.2. Chăm sóc sức khỏe răng miệng cho trẻ tự kỷ
1.3.2.1. Chăm sóc tại nhà
•
Hướng dẫn vệ sinh răng miệng : đánh răng hàng ngày, dùng chi tơ nha
•
•
bác sỹ, những hành động bác sỹ sẽ làm và tại sao cần phải đến nha sỹ
Tại phòng khám : nha sỹ cần giải thích cho trẻ biết những hành động
•
•
•
mình sẽ làm, có thể biểu diễn trước trên tay trẻ
Có thể đem theo món đồ chơi hoặc âm nhạc yêu thích của trẻ
Việc khám răng nên nhắc lại 6 tháng một lần
Phụ huynh nên thảo luận với bác sỹ về trám bít hố rãnh và bổ sung fluor
1.3.3. Các phương pháp truyền thông trong giáo dục sức khỏe răng miệng
cho trẻ tự kỷ
Giáo dục sức khỏe răng miệng cho trẻ tự kỷ là một vấn đề hết sức quan
trọng và cần thiết. Mục tiêu là giúp trẻ làm quen với việc tự chăm sóc và thích
nghi với môi trường phòng khám, bệnh viện, chấp nhận sự chăm sóc của bác
sỹ. Việc này đòi hỏi không chỉ sự hợp tác của trẻ mà còn sự hỗ trợ của bố mẹ
hay người chăm sóc.
1.3.3.1. Giáo dục thông thường
Những cách ứng xử thông thường với trẻ em trong điều trị nha khoa như
nói, trình diễn, làm, sự khen ngợi và giao tiếp, kiểm soát giọng nói,… có thể
hiệu quả đối với những bệnh nhân bình thường. Tuy nhiên không phải lúc nào
cũng thành công đối với trẻ em tự kỷ với khả năng ngôn ngữ kém và giao tiếp
xã hội giới hạn. Do đó, cần có những phương pháp khác, phù hợp hơn với đặc
điểm và khả năng của trẻ. [38]
25
Backman và cộng sự đã sử dụng những quyển sách với những chuỗi hình
ảnh màu sắc để miêu tả những bước trong một cuộc thăm khám răng miệng
cho trẻ tự kỷ chưa đến tuổi đến trường. Tác giả báo cáo đã có được sự hợp tác
tốt hơn so với những trẻ không được sử dụng phương pháp này [31].
* Câu chuyện xã hội
Câu chuyện xã hội được sử dụng rộng rãi trong giáo dục trẻ tự kỷ. Được
phát triển đầu tiên bởi Carol Gray, giáo viên giáo dục đặc biệt, Câu chuyện xã
hội giúp trẻ có thể hiểu được một vấn đề hay hoạt động xã hội. Nó được thiết
kế bằng những mô tà, quan điểm, câu khẳng định đi kèm với hình ảnh.
Ở trẻ tự kỷ, câu chyện xã hội có thể cải thiện hành vi xã hội như là rửa
tay, chào hỏi mọi người một cách thích hợp và chia sẻ đồ chơi. Những hành
vi không hợp lý cũng có thể được giảm bớt khi sử dụng phương pháp này.
Tuy nhiên, phải xem xét khả năng đọc và nghe của trẻ trước khi sử dụng
phương pháp này [31].
* Phim modeling
Đối với bệnh nhân có khả năng đọc và nghe kém, phim modeling là
một phương pháp thay thế phù hợp. Trên phim, một diễn viên với khuôn mặt
được thay thế bằng khuôn mặt của trẻ sẽ thực hiện những hành vi mong muốn
giáo dục cho trẻ, cùng với lời mô tả ngắn gọn dễ hiểu. Phương pháp này có
hiệu quả tích cực, cải thiện kỹ năng sống và hành vi xã hội cho trẻ [31].
1.4. Hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về tự kỷ và bệnh răng miệng
1.4.1. Trên thế giới
Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về răng miệng của trẻ tự kỷ.
Các nghiên cứu xoay quanh những vấn đề :
•
•
•