nhận xét tình trạng lệch lạc khớp cắn và nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng mặt ở trẻ em 12 đến 15 tuổi tại viêng chăn lào - Pdf 23

B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
Hà Nội
Đ

i
h

c
Y
VINATH PHOMMAKONE
NHậN XéT TìNH TRạNG LệCH LạC KHớP CắN
Và NHU CầU ĐIềU TRị NắN CHỉNH RĂNG MặT
ở TRẻ EM 12 ĐếN 15 TUổI tại VIÊNG CHĂN
LàO
Chuyờn ngnh : Rng Hm Mt
M S : 60.72.28
LUN VN THC S Y HC
Ngi hng dn khoa hc:
TS.Vừ Trng Nh Ngc
H NI 2012
B GIO DC V O TO B Y T
1
TRNG I HC Y H NI
Hà Nội
Đ

i
h

c

Do đó mà việc điều tra phân tích tình trạng lệch lạc khớp cắn là việc rất
cần thiết cho công tác phòng bệnh, giúp ta xác định nhu cầu điều trị nắn chỉnh
răng. Nghiên cứu dịch tễ học về lệch lạc khớp cắn có sự bất đồng đáng kể
giữa các nhà điều tra, đặc biệt liên quan đến nhiều sai lệch từ ý tưởng phải
được chấp nhận với các giới hạn của bình tĩnh[6].
3
Vì lý do này một số hệ thống định lượng đánh giá lệch lạc khớp cắn và
đánh giá nhu cầu điều trị đã phát triển trong những năm gần đây. Shaw và
cộng sự đã phát triển chỉ số nhu cầu điểu trị chỉnh nha ở Anh quốc [49]. Chỉ
số này bước đầu được mô tả bởi Brook và Shaw[16], Shaw và cộng sự [35]
và sau đó được sửa đổi bởi Richmond [32]. Vì đơn giản và dễ sử dụng, nên
chỉ số này phổ biến và được công nhận là một phương pháp khách quan đánh
giá nhu cầu điều trị chỉnh nha [24],[39].
Một số nhà nghiên cứu đã tiến hành đánh giá yếu tố sức khỏe nha khoa
(DHC) và yếu tố thẩm mỹ (ACE). Tại Anh Quốc, Brook và Shaw[16] nhận
thấy, về yếu tố sức khỏe, trong 333 học sinh trẻ em 11-12 tuổi có 32,7% cần
được điều trị nhiều và 35,1% không cần hoặc ít cần điều trị. Burden và
Holmes [24] cũng nhận thấy có 21-24% dân số nằm trong nhóm nhu cầu điều
trị rất lớn. Khi đánh giá yếu tố sức khỏe nha khoa cho 1829 trẻ em 11-12 tuổi,
Ucuncu [39] phát hiện ra rằng 38,8% trong số 500 học sinh Thổ Nhĩ Kỳ tuổi
từ 11-14 tuổi có nhu cầu điều trị rất lớn, 24,0% cần ở mức độ trung bình và
37,2% không cần hoặc ít cần điều trị. Birkland và cộng sự [15] nghiên cứu
359 học sinh 11 tuổi thấy 53,2% trẻ em có nhu cầu điều trị từ trung bình đến
nhiều và 46,8% ít cần điều trị.
Đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về tình trạng lệch lạc khớp cắn và chỉ
số nhu cầu điều tri nắn chỉnh răng-hàm của trẻ em Lào. Do đó chúng tôi tiến
hành nghiên cứu về vấn đề này ở trẻ em 12-15 tuổi với hai mục tiêu như sau:
1. Mô tả tình trạng lệch lạc khớp cắn ở trẻ em lứa tuổi 12-15 tuổi tại
Trường trung học cơ sở Viêng Chăn Lào năm 2012.
2. Xác định nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng-hàm ở trẻ em lứa tuổi 12-

đổi, đặc biệt là giai đoạn hàm răng hỗn hợp. Sau đó, khi các răng vĩnh
viễn đã mọc hoàn toàn, khớp cắn tương đối ổn định và ít thay đổi. Khớp
cắn bình thường hay khớp cắn lý tưởng có sự lệch lạc ít nhất, không ảnh
hưởng đến chức năng và thẩm mỹ có thể chấp nhận được[25]. Lệnh lạc
khớp cắn là tình trạng có sự phát triển bất thường của răng, xương ổ răng
và xương hàm do sự mọc lên của răng và di chuyển của răng, ảnh hưởng
của bệnh lý hoặc chấn thương hàm mặt…
Sai khớp cắn là tình trạng thuộc về sự phát triển. Trong đa số trường
hợp, nguyên nhân của khớp cắn và sự lệch lạc răng mặt không phải là một
yếu tố bệnh lý nào đó, mà là do sự biến đổi vừa phải của sự phát triển bình
thường. Đôi khi chúng ta có thể gặp một số trường hợp sai khớp cắn có
nguyên nhân rõ ràng, ví dụ, hàm dưới kém phát triển thứ phát do gãy xương
hàm lúc nhỏ hoặc sai khớp cắn đi kém với các hội chứng thuộc về di truyền.
Thông thường, sai khớp cắn là do sự tương tác phức tạp giữa nhiều yếu tố ảnh
hưởng đến sự tăng trường và phát triển, và không thể xác định một yếu tố
bệnh căn đặc thù.
Mặc dù khó xác định nguyên nhân chính xác của hầu hết các khóp cắn.
Tuy nhiên, với những khả năng có thể xảy ra, thì chúng cần được xét đến khi
điều trị chỉnh hình răng mặt.[1]
1.1.3. Sự thay đổi của khớp cắn
Mặt phẳng tận cùng giữa hai răng hàm sữa thứ hai hàm trên và hàm
sữa thứ hai hàm dưới có ảnh hưởng đến vị trí và loại khớp cắn khi mọc răng
hàm lớn thứ nhất vĩnh viễn.
6
Răng vĩnh viễn
Răng sữa
Bước xa
Đồng phẳng
Bước gần
Khớp cắn

Ảnh hưởng của sự cân bằng trên bộ răng được biểu rõ hơn khi quan sát
ảnh hưởng của những loại áp lực khác nhau. Do sự đáp ứng sinh học, thới
gian tác dụng của lực quan trọng hơn cường độ lực.
Khi đặt một lực nhai mạnh trên răng, dây chằng nha chu vốn thấm đầy
dịch sẽ hoạt đồng như một “lò xo” chống shock, giữ răng trong một chốc lát
trong khi xương ổ răng uốn cong và răng bị dịch chuyển một đoạn ngắn cùng
với xương. Nếu lực nhai mạnh kéo dài hơn vài giây, sẽ cảm thấy đau, và do
đó lực nhai sẽ ngừng lại nhanh chóng. Loại lực mạnh, ngắt quãng từng cơn sẽ
không có ảnh hưởng trên vị trí lâu dài của răng.
Những ảnh hưởng của sự cân bằng có thể xảy ra: cường độ và thời gian
của lực tác động trên răng.[1]
Những ảnh hưởng của sự lực cân
bằng có thể xảy ra
Cường độ của lực
Thời gian tác
động của lực
Sự tiếp xúc của các răng
Khi nhai
Khi nuốt
Áp lực của mô mềm từ môi, má, và
lưỡi
Rất lớn
Nhẹ
Vừa phải
Nhẹ
Rất ngắn
Rất ngắn
Ngắn
Rất ngằn
8

ngoài, răng cửa hàm dưới ngả vào lưỡi dẫn đến cắn hở vùng răng cửa, hẹp
cung hàm trên và khẩu cái sâu bất thường, cắn chéo các răng phía sau. Đây là
hậu quả của áp lực đặt trực tiếp lên răng kết hợp với sự biến đổi tư thế nghỉ
của má môi.
- Đẩy lưỡi
9
Đẩy lưỡi bao gồm đẩy lưỡi tiên phát (do trẻ không thay đổi phản xạ nuốt
sau khi đã mọc răng) và đẩy lưỡi thứ phát do các thói quen xấu như thở
miệng, mút ngón tay Đẩy lưỡi có thể đơn giản (không phối hợp với các thói
quen xấu khác), hoặc phức hợp (khi phối hợp với các thói quen xấu khác).
Khi đẩy lưỡi, lực mà lưỡi tác động lên các răng khác nhau dẫn đến tình trạng
ít cắn khớp và cắn hở [30].
Theo quan điểm mới hiện nay, hiển tương đẩy lưỡi khi nuốt thường gặp
trong hai trường hợp: ở trẻ nhỏ có khớp cắn bình thường, đẩy lưỡi biểu hiện
chỉ như là một giai đoạn chuyển tiếp trong sự trưởng thành sinh lý bình
thường; và ở cá nhân trong bất kỳ tuổi nào có răng cửa di chuyển, đẩy lưỡi là
sự thích ứng đối với khe hở giữa các răng. [1]
- Thói quen mút môi
Có thể là mút môi trên hoặc mút môi dưới. Mút môi dưới có thể gây cắn
hở như mút ngón tay nhưng mức độ nhẹ hơn. Mút môi trên có thể gây ra cắn
ngược vùng răng cửa.
Lực của môi, má, và lưỡi nhẹ hơn lực nhai rất nhiều, nhưng lại kéo dài
hơn. Thử nghiệm cho thấy ngay cả lực rất nhẹ cũng có thể làm răng di
chuyển. Nếu thời gian tác dụng của lực vừa đủ.
- Các thói quen khác
Klein [26] báo cáo thói quen chống tay vào cằm khi ngồi có thể dẫn đến
cắn sâu, một số nhạc cụ thổi bằng miệng gây đè nén vào răng hoặc mặt, hàm
nếu sử dụng thường xuyên và lâu dài có thể gây lệch lạc khớp cắn.
1.1.4.2. Ảnh hưởng di truyền
Nguyên nhân của sai khớp cắn có thể do những được tính di truyền. Thứ

kích thước, đặc biệt là răng cửa bên và răng cối nhỏ thứ hai. Có khoảng 5%
dân số có sự bất hài hòa đáng kể về kích thước răng hàm trên và hàm dưới [1]
11
Ví dụ: chứng răng nhỏ, răng to , thiểu sản men , răng dính, răng sinh đôi,
răng thừa đường giữa hàm trên…
- Cản trở mọc răng : Để cho răng vĩnh viễn mọc, lớp xương phía trên
cũng như chân răng sữa phải tiêu ngót, và răng sẽ mọc xuyên qua nướu răng.
Răng dư, xương hoại tự, và lớp nướu sợi dày có thể cản trở sự mọc răng. Tất
cả những cản trở trên đều hiện diện trong hội chứng loạn sản đòn sọ. Do
không chỉ nhổ răng dư mà còn phải loại bỏ lớp xương phía trên, và bộc lộ
nướu. Ở những trường hợp nhẹ, một số răng vĩnh viễn mọc trễ có thể góp
phần tạo ra sai khớp cắn chi khi những răng còn lại di chuyển sai vị trí trên
cung răng. Do các răng mọc quá chen chúc, do niêm mạc hoặc xương xơ dày,
do nang, khối u hoặc u răng.
- Răng mọc sai vị trí, thay đổi vị trí: Thỉnh thoảng, mầm răng vĩnh viễn
nếu ở sai vị trí có thể đưa đến răng vĩnh viễn này mọc sai vị trí. Trường hợp
này thường xảy ra ở răng cối lớn thứ nhất hàm trên. Nếu thường mọc của răng
cối lớn thứ nhất hàm trên ở về phía gần ngay từ đầu, thì răng vĩnh viễn này
không thể mọc được, và chân răng cối sữa thứ hai bị tổn thương . Vị trí phía
gần của răng cối vĩnh viễn sẽ dẫn đến răng mọc chen chúc nếu không được
điều trị chỉnh hình. Nhưng răng khác mọc sai vị trí hiếm xảy ra, những cũng
có thể đưa đến răng đổi chỗ hoặc mọc ở vị trí bất thường.[1]
• Mất răng
- Mất răng sữa sớm: Hiển tượng răng di gần khi có khoảng trống
thường xảy ra ở răng cối vĩnh viễn, do hướng mọc răng nghiêng về phía gần.
Răng cối lớn thứ nhất di gần khi răng cối sữa thứ hai mất sớm có thể dấn đến
chen chúc vùng răng cối nhỏ vĩnh viễn. Đo đó cần phỉ giữ khoảng khi răng
cối sữa thứ hai mất sớm. Khi răng cối sữa thứ nhất hoặc răng nanh sữa mất
sớm, do sự co rút chỉ đồng của những dây chằng ngang xương ổ ở nướu răng
12

một thành phần quan trọng của toàn bộ khuôn mô mềm mà sự tăng trưởng của
nó thương mang theo xương hàm dưới xuống phía dưới và ra trước. Mất một
phần của hệ cơ có thể xảy ra do những nguyên nhân không rõ trong bào thai
hoặc là hậu quả của tai biến khi sanh nhưng thường gặp nhất là do tổn thương
dây thần kinh vận động.
- Chấn thương răng: Chấn thương ở răng sữa có thể làm dịch chuyển
mầm răng vĩnh viễn bên dưới bằng hai cách. Thứ nhất, nếu chấn thương xảy
ra trong khi thân răng vĩnh viễn được thành lập, tạo men răng sẽ bị rối loạn và
có khiếm khuyết ở thân răng vĩnh viễn. Thứ hai, nếu chấn thương xảy ra sau
khi thân răng được hoàn tất, thân răng có thể bị dịch chuyển so với chân răng.
Sự thành lập chân răng ngưng lại, chân răng răng sau sau nay sẽ bị ngắn đi.
Trường hợp phổ biến là sự thành lập chân răng vẫn tiếp tục, nhưng phần còn
lại của chân răng sẽ tạo thành một góc so với thân răng đã bị dịch chuyển.[1]
• Dinh dưỡng.
Thức ăn bổ dưỡng rất cần thiết cho trẻ. Ngoài các chất dinh dưỡng chính
như protid, glucid, lipid, calci cũng là chất khoáng không thể thiếu cho sự
phát triển và duy trì cấu trúc của xương. Thiếu calci, do sự hấp thu của cơ thể
kém hay do dịnh dưỡng kém, có thể làm bệnh nhân có khớp cắn sai do xương
hàm phát triển không đầy đủ. Có nhiều thành phần dinh dưỡng tham gia và
tác động ảnh hưởng đến tế bào xương như protein, calci, phosphor, các
vitamin D,K,C và một số vi lượng như đồng, kẽm, mang, magnc.
Phụ nữ lúc mang thai thương xuyên uống rượu sẽ dẫn đến tổn thương hệ
miễn dịch thai nhi, chậm phát triển trí tuệ, xương tay chân và sọ mặt phát
triển không bình thường. Phụ nữ mang thai nghiện rượu nặng sẽ không hấp
thu đủ nhu cầu chất dinh dưỡng hàng ngày cho thai nhi, đặc biệt là protein. Sự
hấp thu các chất vi lượng, khoáng và vitamin bị giảm và hạn chế, dẫn đến
14
nhiều tai biến trầm trọng khi sinh[1].
• Các bệnh tại chỗ
Các bệnh đường hô hấp. Các bệnh vùng quanh răng. Bệnh sâu răng.

rãnh giữa hai núm của răng hàm nhỏ và răng lớn trên. Hai phanh môi trên và
dưới thẳng hàng và ở giữa mặt trước của khớp cắn.
- Chiều đứng:
Răng hàm trên tiếp xúc vừa khít với răng hàm dưới ở vùng răng hàm nhỏ
và răng hàm lớn. Rìa cắn răng cửa hàm trên vừa chạm rìa cắn răng cửa dưới
hoặc trùm sâu 1-2mm.
• Mặt phẳng.
Ở tư thế sao cho đường thẳng qua điểm dưới ổ mắt và điểm tai ngang
chân trời, có các mặt phẳng sau đây:
- Mặt phẳng Frankfort (mặt phẳng tại ổ mắt) qua nắp tai và điểm bờ
dưới ổ mắt.
- Mặt phẳng dọc giữa thẳng góc với mặt phẳng Frankfort từ trước ra
sau, chia mặt thành hai phần cân xứng. Trên mặt phẳng này có các điểm cằm,
dưới mũi, mũi.
- Ba mặt phẳng trán trước thẳng góc với mặt phẳng tại ổ mắt và mặt
phẳng dọc giữa.
- Mặt phẳng trán-ổ mắt (mặt phẳng Simon) qua điểm dưới ổ mắt, thẳng
góc với mặt phẳng tai ổ mắt và mặt phẳng dọc giữa.
- Mặt phẳng trán-mũi (mặt phẳng Dreyfus) qua điểm mũi và thẳng góc
với mặt phẳng tai ổ mắt và mặt phẳng dọc giữa.
- Mặt phẳng trán giao mày (mặt phẳng Irard) qua điểm ụ trán-giao mày
và thẳng góc với mặt phẳng tai ổ mắt và mặt phẳng dọc giữa.
• Cung răng.
Răng cùng số ở vị trí cân xứng hai bên đường nối giữa hàm trên đối với
cung răng trên và ở vị trí cân xứng hai bên đường nối phanh lưỡi và phanh
môi dưới đối với hàm dưới.
16
1.1.5.2. Cách phân loại lệch lạc khớp cắn theo Angle.
Năm 1899. Edward H. Angle phân loại lệch lạc khớp cắn của răng vĩnh
viễn nhờ răng hàm lớn thứ nhất hàm trên. Theo ông, nó là chìa khóa khớp

răng cửa trên nghiêng về phía môi, độ cắn chìa tăng, môi dưới thường chạm
mặt trong các răng cửa trên.
18
Hình 1.5:Tiểu loại I Hình 1.6: Tiểu loại II
Tiểu loại II: Các răng cửa giữa hàm trên nghiêng về phía trong nhiều.
Độ cắn phủ tăng.
* Lệch lạc khớp cắn loại 2 tiểu loại 2 có thể chia thành 3 loại nhỏ
phụ thuộc vào tình trạng diện tích cung răng trên như sau [18]
Hình 1.7: Loại A
Loại A: có 4 răng cửa trên nghiêng về phía trongvà không chen chúc.
Hình 1.8: Loại B
Loại B: có 2 răng cửa giữa hàm trên nghiêng vào trong, 2 răng cửa bên
hàm trên nghiêng ra ngoài.
19
Hình 1.9: Loại C
Loại C: có 4 răng cửa hàm trên nghiêng vào trong và các răng hàm nhỏ
hàm trên ở cả hai bên đưa ra trước đường môi.
• Lệch lạc khớp cắn loại III.
Lệch lạc khớp cắn loại này có múi ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ
nhất hàm trên ở về phía xa so với rãnh ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ
nhất hàm dưới. Các răng cửa dưới có thể ở phía ngoài các răng cửa trên.
Hình 1.10: lệch lạc khớp cắn loại III
1.1.5.3. Phân loại bởi viện tiêu chuẩn Anh.
Angle đã phân loại lệch lạc khớp cắn chủ yếu dựa trên quan hệ của
răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên và răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất
hàm dưới và ít nhắc đến quan hệ của các răng cửa hơn. Vì vậy năm 1983 viện
tiêu chuẩn Anh đã đưa ra phân loại khớp cắn vùng răng cửa dựa vào mối quan
hệ trong mặt phẳng trước-sau của gờ cắn răng cửa giữa hàm dưới với gót răng
cửa giữa hàm trênn [34].
20

cắn hở. Không có sự khác biệt giữa nam và nữ.
Năm 1998, NHANES III (The third National Health and Nutrition
Examination Survey) đã nghiên cứu “ Tần xuất sai khớp cắn và nhu cầu
điều trị ở Mỹ” đã đưa ra kết quả : Tỷ lệ không đều vùng răng cửa xảy ra với
số lượng lớn ở các chủng tộc, dân tộc, khoảng 35% người lớn có sắp xếp răng
tốt ở hàm dưới, 15% khớp cắn sai có ảnh hưởng nặng tới chức năng, 20% có
sự lệch hướng từ quan hệ cắn lý tưởng. Cl
II
, CL
III
phố biến ở Mexico và Mỹ.
Khớp cắn sâu, hở: ít thấy. 57%-59% dân của mỗi dân tộc có vài phần trăm
cần điều trị nắn chỉnh.
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Cát và cộng sự 1984-1985[8] Cho kết
quả: 44,84% dân số ở miền Bắc có tỷ lệ lệch lạc răng-hàm. 90% học sinh ở
một số trường Hà Nội có lệch lạc răng hàm. Theo con số thống kê của Lê Thị
Nhàn (1978) 60% tổng số bệnh nhân tới nắn chỉnh răng tại khoa Răng Hàm
Mặt Hà Nội có lệch lạc răng hàm. Hà Minh Thu thống kê trên 1000 bệnh
nhân ( tại bệnh viện Răng Hàm Mặt ) (1996) lứa tuổi 6-26 cho kết quả 96,1%
có lệch lạc răng hàm.
1.2. Chỉ số nhu cầu điều trị nắn chỉnh.
Có nhiều chỉ số được sử dụng để đánh giá nhu cầu điều trị nắn chỉnh:
Chỉ số khớp cắn của Summers [37]. Chỉ số đánh giá trở ngại của lệch lạc
khớp cắn Salzmann [31]. Chỉ số nhu cầu điều trị nắn chỉnh của Thụy Sỹ từ
22
1966. Chỉ số này chỉ ra mức độ cần điều trị của bệnh nhân là nhiều hay ít. Chỉ
số này được đánh giá theo cách xác định mức độ nghiêm trọng của lệch lạc
khớp cắn để chia nhu cầu điều trị nắn chỉnh ra thành 5 mức độ:
 Mức độ 1: Không có nhu cầu điều trị nắn chỉnh.
a. Lệch lạc khớp cắn rất ít, chen chúc chưa đến 1mm.

hai múi ngoài.
g. Các răng chen chúc nhiều, lớn hơn 4 mm.
h. Khớp cắn hở ở phía trước hoặc phía bên lớn hơn 4mm.
i. Khớp cắn sâu hoàn toàn, tổn thương lợi và vòm miệng.
j. Răng mọc một phần, bị cản trở mọc bởi răng bên cạnh… Có răng thừa.
 Mức độ 5: có nhu cầu điều trị nắn chỉnh nhiều nhất.
a. Cản trở mọc răng (trừ răng hàm lớn thứ ba) do răng chen chúc, có răng
thừa, còn răng sữa, và các nguyên nhân bệnh lý khác.
b. Thiếu nhiều răng, có chỉ định làm phục hình (hơn 1 răng/1 cung răng)
cần có phục hình tiền chỉnh nha.
c. Độ cắn chìa tăng lớn hơn 9mm.
d. Cắn khớp chéo phía trước lớn hơn 3,5mm gây khó khăn trong việc ăn
nhai và nói.
e. Khe hở môi-vòm miệng và các bất thường về sọ mặt khác.
f. Có răng sữa ngầm.
1.2.1. Các kết quả nghiên cứu chỉ số nhu cầu điều trị nắn chỉnh trong và
ngoài nước.
Các kết quả nghiên cứu của Mandall [27] ở trẻ em 14-15 tuổi trường
Manchester cho thấy 48% không cần điều trị, 34% nhu cầu điều trị trung bình
và 18% nhu cầu điều trị rất nhiều. Trong khi J Indian Soc Pedod prev Dent-
March 2007 nghiên cứu trên nhóm trẻ em Á và Caucasian cho thấy yếu tố sức
khỏe nha khoa với 18, 41% cần và rất cần điều trị, khá gần với kết quả của
Mandall[27], nhưng nhóm có nhu cầu điều trị (bao gồm mức độ 3,4,5) là
44,2% - nhiều hơn một phần ba của dân số và vẫn còn ít hơn so với kết quả
các nghiên cứu khác. Liên quan về mặt giới tính với nhu cầu điều trị chỉnh
hình răng mặt cũng được nhiều nghiên cứu đề cập tới. Năm 1999, Burden và
cộng sựl[17] nhận thấy nhu cầu điều trị nắn chỉnh ở nam giới cao hơn nữ một
cách rõ rệt, phù hợp với những phát hiện của J Indian Soc Pedod prev Dent-
March 2007 - con trai có nhu cầu điều trị lớn hơn (p = 0,001). Trong khi đó,
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status