Nhận xét tình trạng lệch lạc khớp cắn và xác định chỉ số tanaka johnston của học sinh 6 12 tuổi tại một số trường tiểu học, tại thủ đô viêng chăn lào - Pdf 31

1

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Lệch lạc khớp cắn ở trẻ em là vấn đề sức khỏe răng miệng phổ biến
trong cộng đồng. Alessandro L.C và cs (2008) nghiên cứu trên 516 trẻ 6-12
tuổi tại bang Campina Grande, Braxin thấy 80.6% có lệch lạc khớp cắn [1].
Theo Saleh FK (1999) nghiên cứu trên 851 trẻ em tuổi từ 9 -15 tại Li Băng có
59,5% trẻ em có lệch lạc khớp cắn theo phân loại của Angle [2]. Đại học Y
Lào và Đại học nha khoa Nihon Nhật Bản (2008) nghiên cứu trên 59 học sinh
tuổi từ 6 -12 tại tỉnh Pakkading, Lào cho kết quả 29,6% học sinh có ít nhất 1
vấn đề bất thường về khớp cắn [3].
Ngày nay việc nắn chỉnh răng cho trẻ em ngay từ giai đoạn hàm răng
hỗn hợp được chú ý vì đa số các trường hợp lệch lạc khớp cắn bắt đầu từ giai
đoạn này. Một trong những yếu tố quan trọng cho chẩn đoán ở giai đoạn hàm
răng hỗn hợp là xác định tương quan về kích thước giữa các răng và hàm hay
nói cách khác là sự sắp xếp răng nanh và răng hàm nhỏ. Việc tiên lượng mức
độ thiếu chỗ của các răng vĩnh viễn để có các giải pháp can thiệp kịp thời có ý
nghĩa quan trọng đối với bác sỹ trong việc lập kế hoạch điều trị hợp lý giúp
giảm bớt những vấn đề cần can thiệp chỉnh nha sau này. Dự đoán kích thước
của răng nanh, răng hàm nhỏ vĩnh viễn chưa mọc là một phần tất yếu trong
phân tích khoảng ở hệ răng hỗn hợp. Có 3 phương pháp thường được áp dụng:
Đo răng chưa mọc trên phim X quang ( Nance (1947) [4], Bull (1959)
[5], Huckaba (1964) [6]).
Sử dụng phương trình hồi quy ghi tương quan chiều gần xa các răng đã
mọc và chiều gần xa các răng chưa mọc(Moyers,1958,1973,1988 [7],[8],[9];
Tanaka - Johnston,1974 [10]).


2

Sự phát triển khớp cắn hệ răng sữa sang hệ răng vĩnh viễn.
Sự phát triển khớp cắn từ hệ răng sữa sang hệ răng hỗn hợp phụ thuộc vào :
- Hai yếu tố chính:
• Cung răng sữa thuộc loại thưa hay khít (có khe hở hay không).
• Bình diện giới hạn của cung răng sữa.

- Một yếu tố phụ:
• Khớp cắn của hệ răng sữa.

Quá trình hình thành và phát triển bộ răng sữa là giai đoạn đầu tiên đóng
vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển của toàn bộ hệ thống nhai
sau này, khoảng 3 tuổi khớp cắn bộ răng sữa được thiết lập hoàn chỉnh. Khớp
cắn này được duy trì và phát triển lien tục cho đến khoảng 5 tuổi. Ở thời điểm
này các răng vĩnh viễn bắt đầu mọc, khoảng từ 3 đến 5 tuổi là giai đoạn tương
đối với sự mọc và phát triển của các răng vĩnh viễn thây thế.[17][18]
1.1. THỜI KỲ MỌC VÀ THỨ TỰ MỌC CỦA RĂNG VĨNH VIỄN .
1.1.1. Tóm tắt thời điểm và thứ tự mọc của răng vĩnh viễn
Bảng 1.1: Thời kỳ mọc răng vĩnh viễn:
Răng số
Hàm trên
(tuổi)
Hàm dưới
(tuổi)

1

2

7-8


8
17-21 Nam
18-25 Nữ
17-21


4

4

Bảng 1.2:Thứ tự mọc răng
Số thứ tự
răng mọc
Hàm trên
Hàm
dưới

A
B
a
b

1

2

3

4


3
4

3
5
5
5

7
7
7
7

8
8
8
8

a: Thường xảy ra
b: Đôi khi[19]
1.1.2. Tương quan răng cửa vĩnh viễn
Tương quan răng cửa vĩnh viễn tùy thuộc vào sự phát triển cung răng
khi các răng cửa vĩnh viễn thay thế các răng cửa sữa.
Kích thước răng cửa vĩnh viễn lớn hơn kích thước răng cửa sữa, nên
đây là giai đoạn gây nhiều lo lắng nhất trong sự phát triển cung răng, “Đủ hay
không đủ chỗ cho các răng cửa vĩnh viễn mọc lên”. Vấn đề đặt ra ở đây là cần
phải phân tích và so sánh giữa khoảng trống sẵn có và khoảng trống cần thiết
cho răng cửa vĩnh viễn mọc lên.
Trung bình ở hàm trên, kích thước 4 răng cửa vĩnh viễn lớn hơn - 4
răng cửa sữa là 7,6mm - ở hàm dưới là 6mm. Chênh lệch kích thước này được

Răng cửa bên vĩnh viễn (5,9mm)
Chiều rộng tổng cộng
Răng cửa giữa sữa
Răng cửa bên sữa

(4,2mm)
(4,1mm)
Chiều rộng tổng cộng

10,8mm
11,8mm
22,6mm
8,4mm
8,2mm
16,6mm
-6,0mm

Các răng cửa vĩnh viễn mọc được sắp xếp đủ chỗ trên cung hàm hay
không cần một hay phối hợp các yếu tố sau đây:
1.1.2.1. Khe hở giữa các răng cửa sữa: có thể có hay không có khe hở giữa
các răng cửa sữa và trong thời gian từ khi tất cả các răng sữa hiện diện cho
đến khi các răng cửa vĩnh viễn bắt đầu mọc lên không có sự thay đổi nào ở
phần trước này của cung răng.
Khe hở giữa các răng cửa sữa là một vấn đề lâm sàng cần được quan
sát trước tiên ở những trẻ nhỏ. Nếu không có khe hở này, thì các răng của trẻ
trong tương lai khó sắp xếp ngay ngắn được trên cung hàm.
Khe hở nguyên thủy ở hàm trên thay đổi từ 0 đến 10mm, trung bình là
4mm. Hàm dưới từ 0 đến 6mm, trung bình là 3mm.
Để răng có thể sắp xếp ngay ngắn, kích thước khe hở phải lớn hơn kích
thước chênh lệch trung bình thì tốt hơn.[20]

- Sự tăng trưởng giữa 2 răng nanh, trung bình: 3,0mm.
- Vị trí nghiêng về phía trước của răng cửa, trung bình: 2,2mm .[20]
1.2. KHÁI NIỆM VỀ KHỚP CẮN
Trong thực hành nha khoa, khớp cắn được định nghĩa đơn giản là: Sự
chạm các răng, không đáp ứng được trong các lĩnh vực chuyên khoa khác
nhau để giải quyết các vấn đề như: sự tái phát trong chỉnh nha, không ổn định
của hàm giả, sang chấn nha chu, sắp xếp lại các răng, chạm răng sai, lệch vị
trí hàm….


7

7

Khớp cắn là trạng thái mà các răng trên tiếp xúc với các răng dưới, đó
là quan hệ tương đối phức tạp do liên quan đến đặc điểm hình thể và sự sắp
xếp theo chiều đứng của răng, các cơ nhai, cấu trúc xương hàm, khớp thái
dương hàm, tương quan tâm và khớp cắn trung tâm. Ngoài ra nó còn liên
quan đến hệ thống thần kinh – cơ. Theo thời gian, khớp cắn sẽ có sự thay đổi,
đặc biệt là giai đoạn hàm răng hỗn hợp. Sau đó, khi các răng vĩnh viễn đã
mọc hoàn toàn, khớp cắn tương đối ổn định và ít thay đổi. Khớp cắn bình
thường hay khớp cắn lý tưởng có sự lệch lạc ít nhất, không ảnh hưởng đến
chức năng và thẩm mỹ có thể chấp nhận được. Lệch lạc khớp cắn là tình trạng
có sự phát triển bất thường của răng, xương ổ răng và xương hàm do sự mọc
lên của răng và di chuyển của răng, ảnh hưởng của bệnh lý hoặc chấn thương
hàm mặt…[21][22]
1.2.1. Khớp cắn lý tưởng
Khớp cắn lý tưởng là khớp cắn có tương quan lý tưởng ở cả tư thế tĩnh
và tư thế động, trong đó sự hài hòa về giải phẫu và sinh lý, không gây tổn
thương cho các thành phần của hệ thống nhai. Đây là khớp cắn hầu như

- Rìa cắn răng cửa trên chùm ra ngoài rìa cắn răng cửa dưới trung bình
1-2mm.
Trong những điều kiện này mỗi răng của cung răng sẽ tiếp xúc với mặt
nhai của hai răng ở cung răng đối diện, trừ răng cửa giữa hàm dưới và răng 8
hàm trên. Đây là yếu tố ổn định của hai hàm.
Sự sắp xếp các răng một cách lý tưởng có thể được định nghĩa một cách
rõ ràng. Khái niệm đường cắn của Angle ra đời để phục vụ mục đích này.
Đường cắn đúng là một đường cong liên tục có tâm là mào gà của mảnh thẳng
xương sàng:
 Ở hàm trên đường cắn đi qua hố trung tâm răng của răng hàm, gót

của răng nanh, răng cửa.
 Ở hàm dưới đường cắn đi qua đỉnh múi ngoài của răng hàm, đỉnh

răng nanh, rìa cắn răng cửa .


9

9

Trên thực tế khớp cắn lý tưởng là không thể đạt được vì nó đòi hỏi mọi
thứ phải hoàn hảo cả về sự phát triển răng, môi trường phát triển như trương
lực cơ, dây chằng, khớp, sự bồi xương, tiêu xương,…cũng như khả năng bù
trừ chống mòn cơ học. Vậy trên lâm sàng một khớp cắn lý tượng khi các răng
sắp xếp đều đặn trên cung hàm và có đường cắn đúng.
1.2.2. Khớp cắn sinh lý
Chỉ có một số ít người có khớp cắn lý tưởng, đại đa số có khớp cắn xấu
về một phương diện nào đó nhưng vẫn có chức năng tốt, đó là khả năng thích
ứng cao để những lệch lạc của răng so với hàm răng lý tưởng vẫn có thể bình


sự lệch lạc răng mặt không phải là một yếu tố bệnh lý nào đó, mà là do sự
phát triển bình thường. Đôi khi chúng ta có thể gặp một số trường hợp sai
khớp cắn có nguyên nhân rõ ràng, ví dụ hàm dưới kém phát triển thứ phát do
gãy xương hàm lúc nhỏ hoặc sai khớp cắn đi kèm với các hội chứng thuộc về
di truyền. Thông thường, sai khớp cắn là do sự tương tác phức tạp giữa nhiều
yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trường và phát triển, và không thể xác định một
yếu tố bệnh căn đặc thù.
Mặc dù khó xác định nguyên nhân chính xác của hầu hết các khớp
cắn. Tuy nhiên với những khả năng có thể xảy ra thì chúng cần được nhận xét
đến khi điều trị chỉnh hình hàm mặt[23].
1.2.3.1. Nguyên nhân dẫn đến sự lệch lạc của răng và sự sai hình của
xương hàm
- Yếu tố di truyền từ lâu đã được xem là nguyên nhân gây lệch lạc răng
hàm. Một số thói quen không tốt về răng miệng khi trẻ còn nhỏ lại là nguyên
nhân khiến trẻ lớn lên có hàm răng ngoài ý muốn như tật mút ngón tay, mút
môi và cắn môi, đẩy lưỡi, thói quen thở bằng miệng, Các thói quen xấu này sẽ
gây mất hài hòa giữa răng và hàm.
- Mất răng sữa sớm, răng vĩnh viễn không có được sự hướng dẫn và có thể
đưa đến mọc lệch. Việc chú ý giữ gìn răng sữa có ý nghĩa rất quan trọng trong
việc giúp các răng vĩnh viễn mọc đúng trên cung hàm. Ngoài ra do tình trạng
dinh dưỡng kém có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của xương hàm hoặc
răngbị chấn thương do trẻ bị ngã, tai nạn.
1.2.3.2. Ảnh hưởng của lệch lạc khớp cắn .
Vẩu răng, chen chúc và sai khớp cắn có thể gây ra 3 vấn đề sau cho
bệnh nhân:
1) Tâm lý và thẩm mỹ.
2) Các vấn đề chức năng gồm: khó khăn trong cử động hàm do đau
hay cơ phối hợp không đồng bộ, loạn năng khớp thái dương hàm và các vẫn
đề: nhai, nuốt, nói.

đau ở khớp hay xung quanh khớp. Đau là do những thay đổi bệnh lý bên trong
khớp nhưng thường là do cơ hoạt động quá mức hay cơ thắt cơ. Đau cơ có
bệnh sự liên quan đến tư thế trước hay bên của hàm dưới, nghiến răng do
stress. Hoạt động quá mức của cơ, tình trạng nghiến răng có thể xảy ra cả ban
ngày hay trong khi ngủ.
 Mỗi tương quan với chấn thương và bệnh nha chu.
Răng hô làm tăng khuynh hướng dễ bị chấn thương răng. Vẩu răng


12

12

nặng nếu không điều trị dễ bị chấn thương răng cửa trên làm gãy răng, chết
tủy. Khớp cắn sâu trầm trọng làm răng cửa hàm dưới tiếp xúc với vòm khẩu
cái sẽ gây tiêu xương dẫn đến mất răng cửa trên ở một số bệnh nhân. Mòn
răng cửa quá mức cũng hiện diện ở một số bệnh nhân cắn sâu. Đặc biệt, răng
mọc lệch lạc dễ bị sâu và bệnh nha chu, vì như vậy làm cho việc vệ sinh răng
miệng khó khăn hơn và dễ bị sang chấn khớp cắn.[21]
1.3. PHÂN LOẠI LỆCH LẠC KHỚP CẮN.
Có nhiều cách phân loại sai khớp cắn như phân loại theo hình thái
củaAngle, phân loại theo bệnh căn của Kingsley... Phân loại của Angle hiện nay
vẫn được sử dụng phổ biến vì phân loại được các loại sai khớp cắn quan trọng,
đồng thời còn định nghĩa đơn giản và rõ ràng về khớp cắn bình thường củahàm
răng thật, hơn nữa cách phân loại dễ dàng và dễ nhận biết trên lâm sang.
Khớp cắn bình thường theo quan niệm của Andrews : khớp cắn bình
thường là khớp cắn có các răng tiếp xúc với nhau ở cả mặt gần và mặt xa,
ngoại trừ răng khôn. Trục ngoài trong của răng: hàm trên các răng sau hơi
nghiêng về phía ngoài, hàm dưới các răng sau hơi nghiêng về phía trong. Trục
gần xa của răng: hàm trên các răng trước nghiêng gần và các răng sau nghiêng

hữu dụng quan trọng cho đến ngày nay. Ông căn cứ vào tương quan khớp cắn
của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên và răng hàm lớn vĩnh viễn thứ
nhất hàm dưới khi hai hàm cắn khớp để xếp thành ba hạng sai khớp cắn: loại I
, loại II (gồm có 2 tiểu loại) và loại III[20][21].
• Sai khớp cắn loại I .
Răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên và dưới vẫn có mỗi tương
quan cắn khớp bình thường, nghĩa là múi ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn
thứ nhất hàm trên khớp với rãnh ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất
hàm dưới, nhưng đường cắn khớp không đúng do các răng trước mọc sai chỗ,
răng xoay, hoặc do những nguyên nhân khác.
• Sai khớp cắn loại II.
Múi ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên khớp về phía
gần so với rãnh ngoài gần của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới, loại
II gồm có hai tiểu loại:


14

14

 Tiểu loại 1 cung răng hàm trên hẹp, hình chữ V, nhô ra trước với các răng cửa

trên nghiêng về phía môi, độ cắn chìa tăng, môi dưới thường chạm mặt trong
các răng trên.
 Tiểu loại 2 các răng cửa giữa hàm trên nghiêng vào trong nhiều, trong khi các
răng cửa bên hàm trên nghiêng ra phía ngoài khỏi răng cửa giữa độ cắn phủ
tăng, cung răng hàm trên ở vàng răng nanh thường rộng hơn bình thường loại
II tiểu loại 2 thường do di truyền.
• Sai khớp cắn loại III.
Múi ngoài gần răng cối lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên khớp về phía xa

• Cắn sâu: là tình trạng khớp cắn có độ cắn phủ tăng, bờ cắn răng cửa dưới cắn
chạm cổ răng cửa trên hay chạm lợi mặt trong răng cửa trên khi hàm dưới ở
tư thế cắn khớp trung tâm.
• Cắn chéo răng trước: là tình trạng khớp cắn có một hoặc vài răng trước hàm
trên nằm ở phía trong so với răng hàm dưới khi hàm dưới ở tư thế cắn khớp
trung tâm.
• Cắn chéo răng sau phía má/phía lưỡi: là tình trạng khớp cắn có một hoặc vài
răng sau hàm trên nằm ở phía ngoài hay phía trong so với răng hàm dưới khi
hàm dưới ở tư thế cắn khớp trung tâm.
• Răng chen chúc, thiếu chỗ: là tình trạng các răng trên môt hay hai cung răng
không có đủ chỗ để sắp ngay ngăn, đều đặn theo một đường cong cắn khớp
đúng, có một hoặc nhiều răng nghiêng, xoay, mọc lệch ngoài, lệch trong hay
ngầm trong xương.
• Vẩu hai hàm: là tình trạng các răng trước của hai hàm đều nhô về phía trước
nhưng tương quan theo chiều trước- sau của hai hàm thường bình thường
(loại I) [23].
1.4. PHÂN TÍCH KHOẢNG.
Xác định tương quan kích thước giữa răng và hàm hay so sánh khoảng
hiện có trên mẫu hàm, khoảng cần thiết để răng có đủ chỗ mọc đều đặn .
1.4.1. Phương trình tanaka and johnston .
Dự đoán khoảng cần thiết cho răng nanh và răng hàm nhỏ vĩnh viễn
mọc ở bệnh nhân có bộ răng hỗn hợp là điều quan trọng trong chẩn đoán và
điều trị chỉnh nha sớm. Ước tính chính xác kích thước gần xa răng nanh và
răng hàm nhỏ giúp nha sĩ dự đoán mức độ thừa thiếu khoảng để có kế hoạch
điều trị thích hợp.


16

16


17

Nếu dự đoán thiếu khoảng 1 - 4mm thì cần duy trì khoảng với bộ giữ
khoảng.
Nếu dự đoán thiếu khoảng từ 4 - 6mm thì cần phải tiến hành nới khoảng.
Nếu dự đoán thiếu khoảng trên 6mm thì cần phải có kế hoạch nhổ răng
có hướng dẫn.
Nếu việc phân tích khoảng có nhầm lẫn và sai sót, dẫn tới việc đưa ra
những biện pháp điều trị không phù hợp, có thể gây ra những rối loạn khớp
cắn trầm trọng, làm phức tạp và khó khăn cho chỉnh hình răng hàm mặt trong
giai đoạn sau, kéo dài thời gian và chi phí điều trị của bệnh nhân.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi quy ước xếp loại trường hợp “đủ
khoảng” là khi khoảng hiện có trên cung hàm (chu vi cung răng) lớn hơn hoặc
bằng khoảng cần thiết (tổng kích thước gần xa các răng). Trường hợp “thiếu
khoảng” là khi khoảng hiện có trên cung hàm (chu vi cung răng) nhỏ hơn
khoảng cần thiết (tổng kích thước gần xa các răng) .
Chu vi cung răng theo Moorrees(1969)[28], chu vi cung răng là chiều
dài của đường cong từ mặt xa của răng hàm sữa thứ hai (răng hàm nhỏ thứ hai
với bộ răng vĩnh viễn), qua đỉnh múi ngoài và bờ cắn của các răng, đến mặt
xa răng hàm sữa thứ hai bên đối diện.
Chu vi cung răng là một thông số rất quan trọng, đặc biệt ở giai đoạn
bộ răng hỗn hợp để đánh giá vấn đề khoảng trống cho các răng vĩnh viễn
mọc. Morrees nhận thấy chu vi cung răng tăng rất ít ở hàm trên (1,32mm ở
nam, 0,5 mm ở nữ), và giảm ở hàm dưới (3,39 mm ở nam, 4,48 mm ở nữ) khi
nghiên cứu trên nhóm trẻ từ 5 đến 18 tuổi (ở bộ răng vĩnh viễn, chu vi cung
răng được đo đến mặt xa răng hàm nhỏ thứ hai). Chu vi cung răng ở hàm trên
luôn lớn hơn ở hàm dưới mọi lứa tuổi.[29]
1.4.2. Dựa trên bảng tính toán có sẵn của bảng xác xuất của moyers.



20

20.5

21

21.5

22

22.5

23

23.5

24

20.6

20.9

21.2

21.3

21.8

22

22.8

1.5. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ TÌNH TRẠNG LỆCH LẠC KHỚP
CẮN VÀ TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC NHÓM RĂNG ỨNG DỤNG
TRONG DỰ ĐOÁN KHOẢNG
Tác giả Vinath Phommakone, Võ Trương Như Ngọc (2012)[30] nghiên cứu:
“Nhận xét tình trạng lệch lạc khớp cắn và nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng mặt ở trẻ
em 12 đến 15 tuổi tại Viêng Chăn, Lào” Kết quả: Tình trạng lệch lạc khớp cắn loại
I, chiếm tỷ lệ 63%; loại II, chiếm tỷ lệ 14%; loại III, chiếm tỷ lệ 23%.
Chỉ số nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng miệng ở giới nam và nữ:
-

Không có nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng miệng, nữ chiếm tỷ lệ 60,2%;
nam chiếm tỷ lệ 39,8%.


19

19

-

Ít có nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng miệng, nữ chiếm tỷ lệ 60,2%; nam

chiếm tỷ lệ 39,8%.
- Có nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng miệng trung bình, nữ chiếm tỷ lệ
51,2%; nam chiếm tỷ lệ 48,8%.
- Có nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng miệng lớn, nữ chiếm tỷ lệ 57,2%;
nam chiếm tỷ lệ 42,8%.
- Có nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng miệng nhiều nhất, nữ chiếm tỷ lệ

ở mỗi cung hàm (mm) của hàm trên hoặc hàm dưới.


21

21

Nữ:
Hàm trên: y = 11.16 + 0.49x
Hàm dưới: y = 9.49 + 0.53x
Nam:
Hàm trên: y = 13.36 + 0.41x
Hàm dưới: y = 11.92 + 0.43x
Tác giả Ibad Ullah Kundi và cộng sự (2012)[33] nghiên cứu: “Áp dụng
phân tích hệ răng hỗn hợp Tanaka và Johnston trên người Pakistan”, tiến hành
trên 80 mẫu hàm (40 nam, 40 nữ) là bệnh nhân tại bệnh viện nha khoa quốc tế
Islamic, tại Islamabad, tuổi từ 13 – 20. Kết quả: Có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê giữa tổng kích thước thực sự và tổng kích thước dự đoán của răng
nanh, răng hàm nhỏ ở hàm trên ở cả hai giới nam và nữ. Phương pháp Tanaka
và Johnston chỉ áp dụng trong dự đoán khoảng cho răng nanh, răng hàm nhỏ
ở hàm dưới ở cả hai giới nam và nữ.
Bảng 1.3: So sánh tổng kích thước thực sự của răng nanh, răng hàm nhỏ
và kích thước dự đoán từ phương trình Tanaka và Johnston trên cùng đối
tượng nghiên cứu.

Hàm trên (Nam+Nữ)
Hàm dưới (Nam+Nữ)
Hàm trên (Nam)
Hàm dưới (Nam)
Hàm trên (Nữ)

1.6
23.1
1.6
23.2
1.6
22.5
2.2

p
0.000*
0.615*
0.032*
0.278*
0.001*
0.908*

Tại Việt Nam, có một số tác giả nghiên cứu về vấn đề này và đưa ra các
phương trình riêng. Năm 2006, Nguyễn Thị Châu [34]nghiên cứu trên 119 trẻ


22

22

lứa tuổi 13 - 15 ở khu vực Hà Nội và xây dựng phương trình về mối liên quan
như sau :
• Hàm trên:

Nam:


23

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Là học sinh lứa tuổi 6-12 tuổi học trường tiểu học trường Sok Pa Luan
và Sa Phan Thong Neua tại Viêng Chăn, Lào.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Là học sinh lứa tuổi 6-12 tuổi đang học tại Viêng Chăn, Lào.
- Mọc đủ 4 răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất.
- 4 răng cửa vĩnh viễn hàm dưới mọc đủ chiều cao, hình thể nguyên vẹn.
- Không có bất thường sọ mặt.
- Chưa từng điều trị chỉnh nha hoặc phục hình
- Không có tiền sử chấn thương hay phẫu thuật hàm mặt.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ:
- Những học sinh không đồng ý hoặc bệnh nhân có bệnh về tâm thần.
- Các răng hàm lớn thứ nhất vĩnh viễn bị sâu răng phá hủy mặt nhai.
- Mẫu hàm: Loại bỏ những mẫu hàm có một trong những vấn đề, mẫu
có bọng ở các răng, mẫu vỡ hỏng, răng vỡ, mẫu hàm các răng không rõ ràng.
2.2. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 9 năm 2014.
Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trên trường tiểu học
Sok Pa Luang và Sa Phan Thong Neua tại Viêng Chăn, Lào.
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.3.2. Cỡ mẫu:
Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức:


24



25

25

• Dụng cụ khám:

Bộ dụng cụ khám nha khoa cơ bản: khay quả đậu, gương và gắp nha

-

khoa
-

Khám xác định tương quan răng 6 hai bên theo phân loại của
Angle.

-

Khám tình trạng các răng: răng sâu, răng dị dạng, răng thừa.

-

Tình trạng lợi và các mô quanh răng.

 Lấy mẫu hai hàm và sáp cắn khớp răng ở tư thế khớp cắn trung tâm
-

Thìa khuôn, bát và bay đánh chất lấy khuôn, bát và bay trộn thạch cao.


đo sai lệch nhau dưới 0,3mm.

 Kích thước từng răng :
-

Tiến hành đo kích thước thân răng theo chiều gần - xa bằng cách
đo khoảng giữa các điểm tiếp xúc với mặt răng kế cận.

-

Dụng cụ: thước kẹp caliper độ chính xác 0.02mm.


Trích đoạn TIN CẬY CỦA TỪNG PHƯƠNG PHÁ P.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status