1
I. GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
I.1. Ý nghĩa của luận án
Cuộc sống ngày càng đối mặt với nhiều nguy cơ: thảm họa môi
trường, các chứng bệnh nan y như ung thư, HIV/AIDS, bệnh tim mạch
hay là những dịch bệnh phức tạp, nguy hiểm mới xuất hiện gần đây:
dịch SARS, cúm H
5
N
1
, H
1
N
1
, v.v một số loài động, thực vật bị đưa
vào sách đỏ và tuyệt chủng. Điều đó thúc đẩy các nhà khoa học phải tìm
ra thuốc chữa bệnh có tác dụng chọn lọc, hiệu quả cao và giá thành rẻ để
trị bệnh cũng như nghiên cứu tìm cách bảo vệ, bảo tồn các loài động
thực vật quý hiếm. Một trong những con đường hữu hiệu để phát hiện ra
các chất có hoạt tính tiềm năng, phát triển thành thuốc chữa bệnh cho
con người, gia súc và cây trồng là đi từ các hợp chất thiên nhiên. Các
hợp chất thiên nhiên có hoạt tính được sử dụng trực tiếp để làm thuốc
hoặc dùng làm "Mô hình" cho các nghiên cứu tổng hợp và bán tổng hợp
các loại thuốc mới. Họ Cau là họ thực vật lớn, có rất nhiều cây đã gắn
liền với đời sống của nhân dân ta cũng như một số nơi trên thế giới như
Trung Quốc, Australia, . . . tuy nhiên hầu như có rất ít công trình nghiên
cứu về cấu trúc hoá học và hoạt tính sinh học của các cây trong họ Cau
của Việt Nam được công bố. Cây rau má, trong dân gian được sử dụng
để làm rau ăn, nước giải khát và được sử dụng trong nhiều bài thuốc để
81 tài liệu tham khảo và 3 phụ lục. Luận án được bố cục như sau: Mở
đầu: 3 trang; Tổng quan: 29 trang; Thực nghiệm: 25 trang; Kết quả và
thảo luận: 55 trang, Kết luận và kiến nghị: 3 trang, Danh mục công trình
liên quan đến luận án: 1 trang, Tài liệu tham khảo: 8 trang, phụ lục 71
trang.
II. NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN
Mở đầu: Đề cập tính thực tiễn, ý nghĩa khoa học, đối tượng, mục tiêu
và nhiệm vụ của luận án.
3
Chương 1: Tổng quan
Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu, chương tổng quan đề cập đến đặc điểm
thực vật, ứng dụng trong y học cổ truyền và tình hình nghiên cứu về hóa
học, hoạt tính sinh học của một số loài trong chi Cọ (Livistona R.Br.),
và chi Rau má (Hydrocotyle; Centella).
Chương 2: Thực nghiệm
2.1. Nguyên liệu, hóa chất, thiết bị
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Quy trình chiết: Mẫu thực vật được làm sạch, sấy khô ở nhiệt độ
40
0
C, xay nhỏ và ngâm chiết lần lượt với các dung môi có độ phân cực
tăng dần hoặc chiết bằng hỗn hợp dung môi MeOH-H
2
O ở nhiệt độ
phòng sau đó chiết lần lượt với các dung môi n-hexan, diclometen,
metanol. Cất loại dung môi thu được các cao chiết tương ứng.
Phân lập các chất: Tinh chế các cao chiết thu được bằng các
phương pháp sắc ký: sắc ký cột thường, sắc ký cột nhanh với các chất
Sơ đồ 2.2. Phân lập các chất từ rễ cây cọ hạ long (L. halongensis) V
ỏ
thân c
ọ
khô
xay nhỏ (900g)
hexan
4,9 g (LHV.n)
Cao MeOH
24,9 g (LHV.m)
Chi
ế
t l
ầ
n lư
ợ
t: n
-
hexan, diclometan, MeOH
Cất loại dung môi
Kết tinh: n-hexan/ EtOAc(1:1)
Pđ4
56 mg
Pđ6
1260 mg
Pđ5
360 mg
Pđ 3
156 mg
F4
660 mg
LHRm1
40 mg
75
Chi
ế
t l
ầ
n lư
ợ
t: n
-
hexan, diclometan, MeOH
Cất loại dung môi
S
ắ
c ký silicagen
S
ắ
c ký silicagen
Acetyl hóa, SKC
25 mg
77
LHRm4
32 mg
78
LHRm6
40 mg
79
LHRn3
15 mg
74
LHRn2
10 mg
73
Pđ 4
150 mg 5
Sơ đồ 2.3. Phân lập các chất từ cây rau má [C. asiatica (L.) Urban.]
t v
ớ
i CH
2
Cl
2
Chi
ế
t v
ớ
i n
-
hexan
Cất loại MeOH
Chiết MeOH 3 lần, t=80
0
C, 2h, thêm H2O
Dịch nước
Dịch CH
2
Cl
2
RM1
3,4 g
82
RM3
Phổ hồng ngoại của chất 67 có đỉnh hấp thụ của nhóm = CH
2
(3067 và 885 cm
-1
), vòng cyclopropyl (3030 cm
-1
) và nhóm carbonyl
(1712 cm
-1
) bên cạnh các dao động của nhóm –CH
2
và –CH
3
(2920,
2867, 1457 và 1373 cm
-1
). Phổ khối phân giải cao (HR-ESI-MS) (xem
hình 4.2) cho pic ion phân tử tại m/z = 425,38078 [M+H]
+
, theo tính
toán cho C
30
H
49
O là 425,3783. Như vậy công thức phân tử của chất 67
sẽ là C
30
H
-27 (1,573 ppm) chứng minh sự có mặt của
nhóm isopropenyl (-C(CH
3
) =CH
2
) trong phân tử chất 67. Vòng
cyclopropan cũng được thấy rõ qua tương tác của H19A (0,324 ppm) và
H19B (0,553 ppm). Những tín hiệu khác bị trùng lặp nhiều. Phổ HSQC
cho phép chúng ta xác định được độ chuyển dịch hoá học của
13
C và
1
H
của một số nhóm trong phân tử chất 67 cũng như nhóm CH
2
đứng bên
cạnh nhóm cacbonyl (C3). Ta thấy rõ tương tác của H
2
-2 (2,33 ppm) và
C-2 (41,0 ppm), tương tác giữa C19 (27,0 ppm) và H19A (0,324 ppm)
và H19B (0,553 ppm). Phổ HMBC cho thấy tương tác của C-3 (213,4
ppm) với H
2
-2 (2,33 ppm), điều này chứng minh cho nhóm carbonyl ở
vị trí C3 là đúng. Ngoài ra còn thấy rõ tương tác giữa H3-27 (1,573
ppm) với C24 (41,6 ppm); C25 (150,2 ppm); C26 (109,4 ppm).Tổng
hợp các dữ liệu trên và sau khi so sánh phổ
13
C-NMR của chất 67 với
phổ của 4-epicyclomusalenon ghi trong cùng điều kiện và của
, 12 nhóm CH
2
, 5
nhóm CH và 7 carbon bậc 4. Từ các số liệu phổ thu được cho thấy 68 và
67 là hai chất có cùng một cấu trúc khung, tuy vậy 68 có nhiều hơn một
nhóm CH
3
. Điều này cũng được khẳng định thêm qua phổ ESI-MS phân
giải cao với pic ion giả phân tử tại m/z =439,39012 (C
31
H
51
O) [M+H]
+
.
Như vậy chất 68 có công thức phân tử là C
31
H
50
O (M= 438). So sánh
các dữ liệu của phổ
1
H- và
13
C-NMR của chất 68 với phổ của
cycloleucadenone ghi cùng dung môi cho thấy chúng hoàn toàn giống
nhau. Vậy kết luận, chất 68 chính là cycloleucadenon.
*). Chất 69 (LHVn4): 3β- Cyclomusalenol .
là ở vị trí β (3β-OH) dựa vào sự tách vạch của tín hiệu của H-3 là một
dt. Trong trường hợp 3α-OH thì tín hiệu của H-3 sẽ là một singlet (s).
Phổ
13
C-NMR và phổ DEPT của chất 69 cho thấy có tín hiệu của 30
nguyên tử carbon, trong đó có 6 nhóm CH
3
, 12 nhóm CH
2
, 7 nhóm CH
và 5 carbon bậc 4. Phổ khối phân giải cao (HR-ESI-MS) cho pic ion giả
phân tử tại m/z = 427,36355 phù hợp với công thức phân tử là
(C
30
H
51
O) [M+H]
+
. Như vậy công thức phân tử của chất 69 sẽ là
C
30
H
50
O. Từ các số liệu phổ ở trên, kết hợp so sánh với số liệu phổ
1
H-
NMR của 3β- Cyclomusalenol phân lập được từ cây chuối hột (Musa
balbisiana colla), có thể kết luận chất 69 là 3β-cyclomusalenol
[(24S),14α, 24-dimethyl-9β,19-cyclo-5α-cholest-25-en- 3β-ol].
*). Chất 70 (LHVn7 = LHRn3): Stigmast-4-en-3-on.
– CH
2
với tín hiệu triplet tại :
H
= 0,92 (3H, t, J = 6,3 Hz, H-29). Sự có
mặt của nhóm carbonyl liên hợp cũng được thấy rõ trong phổ
13
C-NMR
(Hình 4.13) với các tín hiệu
C
=199,598 (s, C-3), 171,653 (s, C-5) và
123,754 (d, C-4) cũng như tín hiệu
H
= 5,72 (1H, br s, H-4). Phổ
13
C-
NMR và phổ DEPT của chất 70 có tín hiệu của 29 nguyên tử carbon,
trong đó có 6 nhóm CH
3
, 11 nhóm CH
2
, 8 nhóm CH và 4 nguyên tử
carbon bậc 4. Phổ khối phân giải cao (HR-ESI-MS) cho pic ion phân tử
tại m/z = 413,37162 [M+H]
+
. Như vậy công thức phân tử của chất 70 sẽ
là C
29
H
1
H-NMR cho thấy có hai nhóm metyl với
các tín hiệu singlet tại
H
= 0,70 (3H, s, H-18) và
H
= 1,01 (3H, s, H-
19), ba nhóm metyl gắn với –CH với các tín hiệu doublet tại:
H
=
0,798 (3H, d, J = 6,4 Hz, H-26), 0,848 (3H, d, J = 6,4 Hz, H-27), 1,02
(3H, d, J = 6,7 Hz, H-21) và một nhóm metyl gắn với – CH
2
với tín hiệu
triplet tại :
H
= 0,807 (3H, t, J = 7,5 Hz, H-29). Ở vùng trường thấp cho
tín hiệu cộng hưởng của một olefin proton ( = 5,35 (1H, br s, H-6) và
hai olefin proton ( = 5,02 (1H, dd, J = 8,7, 15.2 Hz, H-22) và 5,16 (1H,
10
dd, J = 8,6, 15,2Hz, H-23) ; một proton carbinol: = 3,51 (1H, m, H-
3) chứng minh cho nhóm β-OH ở vị trí C
3
. Phổ khối ESI-MS cho pic
ion phân tử tại m/z = 414,8 phù hợp với công thức phân tử là (C
29
H
*).Chất 73 (LHRn2): 6-O-acetyl-2R,8-dimetyl-2-(4R,8R,11-trimetyltridecence-
12)chroman
Chất 73 thu được dưới dạng bột vô định hình, có pic ion phân tử
trong phổ khối phân giải cao ESI-HRMS tại m/z = 457,36838 [M + H]
+
(theo tính toán cho C
30
H
49
O
3
là 457,36817). Phổ FT-IR của nó cho thấy
các đỉnh hấp thụ ở 2936, 2857 (CH
3
, CH
2
), 1760 và 1209 cm
-1
(phenyl
axetat). Phổ
1
H-NMR cho biết phân tử chất 73 có 7 nhóm metyl, trong
đó có 3 nhóm thể hiện dưới dạng tín hiệu dublet ở
H
= 0,84 (J = 5,9
Hz); 0,85 (J = 5,9 Hz); 0,99 (J = 6,8 Hz). Một tín hiệu metyl singlet ở
= 6,60; 6,66 (H-5, H-7), hai
proton ở
H
= 2,72 (2H-4), proton của nhóm metyl gắn với vòng thơm
H
= 2,13 (8-CH
3
) và tương tác của cacbon thứ 2 trong cầu ete (
C
=
76,16, C-2) với bốn proton ở
H
= 2,72 (2H-4); 1,73; 1,79 (2H-3); 1,56
(2H-1'); nhóm metyl ở
H
= 1,25. Sự nối kết của nhóm axetyl ở C-6 và
nhóm metyl ở C-2 được xác định bằng sự dịch chuyển về phía trường
thấp của C-6 (142,51 ppm) và các tương tác quan sát được trong phổ
HMBC giữa C-6 và H-5, H-7 (
H
= 6,60; 6,66); giữa C-2 (76,16 ppm)
và 2-CH
3
(1,25 ppm). Các dữ liệu phổ đã phân tích cho phép kết luận
việc so sánh độ chuyển dịch hóa học tại vị trí CH
3
-4’ với một loạt các
đồng phân quang học của δ- tocopherol đã được nghiên cứu và thống kê
trong tài liệu. Qua đối chiếu với tài liệu tham khảo, độ chuyển dịch hóa
học của CH
3
-4’ (δ
C
19,65) hoàn toàn phù hợp với cấu hình tuyệt đối R,
R, R của chất 3,4-dehydrotocopherol. Do đó cấu trúc của chất 73 được
xác định là 6-O-acetyl-2R,8-dimethyl-2-(4R,8R,11-trimethyltridecence-
12)chroman.
*). Chất 75 (LHRm1): 3,5,3’,5’-tetrahydroxy-4-metoxystilben:
Phổ
1
H-NMR (CDCl
3
, 500 MHz) (ppm), J (Hz) của chất 75 cho
các tín hiệu của một nhóm methoxy ở δ
H
3,83 (3H, s) cùng với năm
proton thơm và hai proton olefin ở vị trí trans tại δ
H
6,80 (1H, d, J = 16,2
Hz) và 6,85 (1H, d, J = 16,2 Hz). Các tín hiệu proton thơm thuộc hai
vòng benzen, trong đó ba proton thuộc một vòng thơm bị thế ở vị trí C-
3’ và C-5’ tại δ
H
16
H
16
O
6
được xác định qua pic ion
ở m/z 303 [M-H]
-
(ion âm) và 327 [M+Na]
+
(ion dương) trong phổ ESI-
MS. Để khẳng định cấu trúc của chất 76, chúng tôi đã axetyl hóa chất 76
tạo dẫn xuất tetraaxetyl 80 của nó. Phổ HR-ESI MS của chất 80 có pic
ion ở m/z 494,93860 ( tính toán cho C
24
H
24
NaO
10
là 495,12972). Từ đó
khẳng định chắc chắn công thức phân tử của chất 76 là C
16
H
16
O
6
. Phổ
1
H-NMR của 76 có singlet ở
H
và C-5
’
. Cặp
doublet có hằng số tương tác meta (J = 2,2 Hz) ở
H
5,97 và 5,95 cho
thấy vòng A có 2 nhóm thế ở C-5
và
C-7. Tín hiệu của 2 nhóm
oxymethin ở
H
4,88 (H-2), 4,21 (H-3) và cặp doublet kép ở
H
2,89 và
2,77 đặc trưng cho khung 3 hydroxyflavan. Tương tác của proton của
nhóm metoxy với C-5
’
(
C
148,5) cho biết nhóm này gắn với C-5’. Phân
tích đầy đủ tương tác trực tiếp trong phổ HSQC và tương tác qua 2 hoặc
3 liên kết trong phổ HMBC cho phép kết luận cấu trúc của chất 76 là
3,5,7,3’-tetrahydroxy-5’-metoxyflavan. Hằng số tương tác bé của H-2
và H-3 cho biết 2 proton này ở vị trí cis với nhau, như vậy chất 76 sẽ có
cấu hình tương đối là (2R, 3R) hoặc (2S, 3S). Chất 76 có năng suất quay
cực [α]
D
khoảng δ
H
1,0-2,3 ppm. Chất 77 có gắn với một đường glucose được
thấy rõ qua cụm tín hiệu của 4 metin proton tại δ
H
3,05-3,08 (1H, m);
3,10-3,14 (3H, m) và tín hiệu của nhóm metilen mang oxi tại δ
H
3,64
(1H, dd, J = 5,5; 10,1, H-6A-Glc) và 3,46 (1H, m, H-6B-Glc). Phổ
1
H-
NMR của chất 77 còn cho tín hiệu của một proton anome tại δ
H
4,22
(1H, d, J =7,8 Hz) và tín hiệu của các nhóm OH của đường tại δ
H
4,39
(1H, t, J = 5,7 Hz; 6’-OH) và 4,83 (3H, m; 2’,3’,4’-OH). Trên phổ
13
C-
NMR của hợp chất 77 cho thấy sự xuất hiện của 35 cacbon trong đó có
29 cacbon của aglycon và 6 cacbon của một nhánh đường. Tín hiệu của
liên kết olefin tại δ
C
121,13 và 140,42, tín hiệu của 6 nhóm metyl tại δ
C
11,62; 11,73; 18,56; 18,90; 19,04 và 19,65, tín hiệu của một nhóm metin
mang oxi của aglycon tại δ
11
là 489,13728), xác định
được công thức phân tử của 78 là C
22
H
26
O
11.
Dữ kiện phổ MS,
1
H-,
13
C-
NMR cho thấy chất 78 có cùng cấu trúc khung và nhóm thế giống chất
76 nhưng có thêm một đường hexose. Tín hiệu của 5 nhóm oxymethin
(
H
3,4 – 4,9 và
C
62-103) cùng với tín hiệu của 1 nhóm oxymethylen
(
H
3,91; 3,73 và
C
62,6) đặc trung cho sự hiện diện của đường glucose.
Proton anomeric ở
H
4,85(d, J = 7,5 Hz) cho thấy đây là đường β-D-
glucopyranose. Tương tác của H-1” (
H
- Phổ
1
H-NMR (DMSO-d
6
, 500 MHz) của chất 79 cho thấy tín hiệu của
hai đường monosacarit đã bị acetyl hóa hoàn toàn với tín hiệu của 8
nhóm acetoxy cho thấy trên phổ
1
H-NMR tại δ
H
1,99 (s, 3H, CH
3
CO);
2,00 (s, 3H, CH
3
CO), 2,10 (br s, 15H, 5 x CH
3
CO), 2,17 (s, 3H,
CH
3
CO) và trên phổ
13
C-NMR các nhóm CH
3
CO tại δ
C
169,51; 169,66;
169,89; 170,03; 170,11; 170,48 và 170,70. Ngoài ra trên phổ
13
C-NMR
thô), được phân lập từ phân đoạn F2 của cặn chiết MeOH dưới dạng
tinh thể màu trắng (CHCl
3
/MeOH), điểm nóng chảy 324-326°C. Phổ
hồng ngoại: cho đỉnh hấp thụ đặc trưng của nhóm hydroxyl (3411 cm
-1
),
17
nhóm CH
2
, CH
3
(2930 và 2866 cm
-1
). Phổ
1
H-NMR cho thấy có 6 nhóm
metyl trong đó có 4 nhóm metyl gắn với cacbon bậc 4 với các tín hiệu
singlet tại: 0,717, 0,871; 0,992; 1,067; 1,158 và hai nhóm metyl gắn với
CH với tín hiệu doublet tại
H
= 0,919 (J = 6,5 Hz) và
H
= 0,929 (J =
6,5 Hz). Ngoài ra, trên phổ có tín hiệu một nhóm CH
2
gắn với OH ở
H
C NMR dự đoán chất 82 có công thức phân tử là
C
30
H
48
O
5
. So sánh các số liệu phổ MS,
1
H- và
13
C-NMR của chất 82 với
số liệu của axit asiatic trong tài liệu tham khảo, thấy hoàn toàn trùng
khớp. Vậy kết luận chất 82 chính là axit asiatic.
*). Chất 83 (RM2): Axit madecassic
Phổ hồng ngoại của chất 83 cho đỉnh hấp thụ đặc trưng của nhóm
hydroxyl (3416 cm
-1
), nhóm CH
2
, CH
3
(2930 và 2867 cm
-1
). Phổ
1
H-
18
và
13
C- NMR của chất 83 gợi ý rằng chất 83 có
cùng khung cacbon với chất 83. Phổ khối cho pic ion phân tử tại m/z =
505,35 [M+H]
+
, kết hợp với phổ
1
H- và
13
C - NMR suy ra chất 83 phù
hợp với công thức phân tử là C
30
H
48
O
6
. Các số liệu phổ MS,
1
H- và
13
C-
NMR của chất 83 hoàn toàn phù hợp với số liệu của axít madecassic
trong tài liệu tham khảo. Do đó chất 83 chính là axit madecassic.
*). Chất 84: RM3 (Hỗn hợp stigmasterol glucosid + β - sitosterol
glucosid): So
sánh các dữ kiện phổ ESI-MS, phổ
120
3.3. Kết quả thử hoạt tính sinh học
3.3.1. Kết quả thử hoạt tính sinh học của các dịch chiết từ cây cọ hạ
long.
*) Hoạt tính gây độc tế bào: Dịch chiết diclometan (LHRd) từ rễ
có hoạt tính ức chế sự phát triển của 3 dòng tế bào ung thư thử
nghiệm là KB, LU, và HepG2.
*). Hoạt tính chống oxi hoá: Dịch chiết metanol của rễ, dịch chiết n-
hexan và dịch chiết metanol của vỏ có hoạt tính kháng oxi hoá.
*). Hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định: Dịch chiết diclometan của rễ
thể hiện khả năng kháng các chủng vi khuẩn kiểm định Gram (+) là
Lactobacillus fermentum, Bacillus subtilis và Staphylococcus aureus.
Dịch chiết n-hexan của rễ thể hiện khả năng kháng vi khuẩn Gram (+)
Staphylococcus aureus.
3.3.2. Kết quả thử hoạt tính sinh học đối với các hợp chất mới:
LHRn2 LHRm2, LHRm4
*) Hoạt tính gây độc tế bào: Chất mới 76 (LHRm2) có hoạt tính gây độc
với cả 4 dòng tế bào ung thư thử nghiệm KB, LU, MCF7 và HepG2
Chất mới 78 (LHRm4) không thể hiện hoạt tính. Điều đáng chú ý ở đây
là: Chất 76 và 78 chỉ khác nhau ở gốc đường β-D-glucose gắn ở vị trí
5-OH. Ở chất 76 là gốc 5-OH tự do (aglycon), còn ở chất 78 thì gốc 5-
OH đã bị glucosid hóa. Song sự khác nhau trong hoạt tính gây độc tế
bào thì rất rõ rệt. Aglycon thì ức chế cả 4 dòng tế bào ung thư thử
nghiệm, còn Glucosid thì hoàn toàn không. Như vậy có thể sơ bộ kết
luận là nhóm 5-OH tự do đóng vai trò quan trọng cho hoạt tính gây độc
-tocopherol.
3.3.3 Kết quả thử hoạt tính sinh học của dịch chiết và các chất từ
cây rau má
*) Hoạt tính gây độc tế bào: Dịch chiết methanol (RM) có hoạt tính ức
chế 2 dòng tế bào ung thư thử nghiệm là KB (ung thư biểu mô) và
HepG2 (ung thư gan). Chất 82 (RM1) và chất 83 (RM2) đều có hoạt tính
ức chế sự phát triển của 2 dòng tế bào ung thư thử nghiệm là KB và
HepG2. Trong đó chất 82 (axit asiatic RM1) có hoạt tính tương đối
mạnh với IC
50
= 30,22 và 32,0 μg/ml.
22
*). Hoạt tính chống oxi hoá: Dịch chiết metanol RM của cây rau má có
hoạt tính chống oxi hoá ở mức độ trung bình (IC
50
= 88 μg/ml).
*). Hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định: Dịch chiết metanol (RM) và
axit madecassic 83 (RM2) có hoạt tính kháng vi khuẩn Gram (+) là B.
subtilis và S. aureus ở mức độ yếu. Axit asiatic 82 (RM1) có hoạt tính
mạnh với cả 3 loại vi khuẩn Gram (+) là L. fermentum, B. subtilis và S.
aureus (IC
50
= 54,37; 17,18 và 2,197 μg/ml tương ứng).
KẾT LUẬN
1./ Về hóa học
*). Từ vỏ và rễ cây cọ hạ long (Livistona halongensis), một loài mới
được phát hiện và là đặc hữu của Vịnh Hạ Long, đã phân lập được 12
- Các dịch chiết metanol của rễ, vỏ và dịch chiết n-hexan của vỏ cây cọ
hạ long có hoạt tính kháng oxi hoá với giá trị IC
50
: 31,47; 76,39 và
104,0 μg/ml tương ứng.
- Dịch chiết n-hexan của rễ cây cọ hạ long có hoạt tính kháng vi khuẩn
Gram(+) Staphylococcus aureus với giá trị IC
50
: 186,75 μg/ml.
*). Các hợp chất mới: 73, 76 và 78:
- Chất 76 có hoạt tính gây độc với 4 dòng tế bào ung thư thử nghiệm là:
KB, LU, MCF7, HepG2 với các giá trị IC
50
tương ứng 53,0; 68,37; 85;
72,29 g/ml.
- Chất 78 thể hiện khả năng kháng chủng vi khuẩn Gram(+)
Staphylococcus aureus với giá trị IC
50
: 27,76 μg/ml.
*). Các dịch chiết và hợp chất phân lập từ cây rau má:
- Dịch chiết metanol (RM), axit asiatic 82 và axit madecassic 83 đều có
hoạt tính ức chế sự phát triển của 2 dòng tế bào ung thư thử nghiệm là
KB (ung thư biểu mô) và HepG2 (ung thư gan). Trong đó axit asiatic có
hoạt tính đáng chú ý, với IC
50
= 30,22 và 32,0 μg/ml, tương ứng.
- Dịch chiết metanol (RM) của cây rau má có hoạt tính chống oxi hoá ở
mức độ trung bình (IC
50
= 88 μg/ml).
cây rau má [Centella asiatica (Linn)
Urban.] ở Việt Nam. Tiếp tục thử chức năng bảo vệ gan của các dịch
chiết cũng như các chất phân lập được.
- Nghiên cứu tổng hợp các dẫn xuất từ các tritecpen phân lập được từ
cây rau má đồng thời thử hoạt tính sinh học của chúng.