Vladimir Soloviev
triết gia, thi sĩ và nhà phê bình văn học
[Phần 2]
Phê phán học thuyết nhị nguyên luận của Descartes, phân chia thế giới
thành hai bản thể riêng rẽ: bản thể quảng tính (res extensa) hay là vật
chất và bản thể tư duy (res cogitans) hay là tinh thần, cùng với tất cả
các triết thuyết duy tâm và duy vật phiến diện phát sinh từ đó, Soloviev
viết trong bài triết luận không dài, nhưng mang tính cương lĩnh đối với
ông - Trên đường đi tới một triết học chân chính (1883): “Trong thực tế
cả vật chất thuần tuý, mà thuộc tính chỉ là quảng tính, lẫn tinh thần
thuần tuý, mà thuộc tính chỉ là tư duy, đều không tồn tại. Cái đó chỉ là
những hư tưởng thuần tuý của trí tuệ chúng ta (…) Cả vật chất thuần
tuý lẫn tư duy thuần tuý đều không có hoạt tính như nhau, bởi vì chúng
được trừu xuất khỏi sự sống, sự sống chính là cái khuyết vắng cả ở tư
duy thuần tuý lẫn vật chất thuần tuý. Sự sống là cái tên chung nhất và
phổ quát nhất cho thực tại toàn vẹn ở mọi nơi và trong tất cả. Chúng ta
có quyền như nhau nói về sự sống của thánh thần, về sự sống của con
người và về sự sống của thiên nhiên”. Giữa ba lĩnh vực sự sống ấy luôn
luôn “có quan hệ tương hỗ thường hằng và tương tác nội tại”. Xuất
phát từ nhận thức sống động về cái tự nhiên bắt rễ sâu vào cái siêu
nhiên, về sự liên lạc, tương tác thường hằng giữa hai thế giới ấy - mà
nhận thức siêu hình học này, như Soloviev quan niệm, ăn nhập hoàn
toàn với tín điều của đạo Kitô nói rằng Chúa Trời sáng tạo ra tất cả để
cuối cùng hoá thần tất cả - nhà triết học Nga đi đến những ý niệm then
chốt không chỉ về Thần-Nhân loại, mà còn Thần-Vật chất (Bogomateria),
Thần-Đất (Bogozemlja), trong đó ý niệm cuối liên quan sâu kín với quan
niệm tôn giáo cổ truyền của nhân dân Nga về Đất-Thánh mẫu (zemlja –
bogoroditsa) - một quan niệm thâu tóm bằng trực giác chân lý tính nhất
thể cuối cùng của Vật chất và Tinh thần.
toàn bộ triết học của mình, Soloviev thời trẻ chịu ảnh hưởng khá rõ của
hai nhà tư tưởng Nga lớn đi trước ông - I. Kirejevski và A. Khomiakov.
Cả hai, ấp ủ hoài bão xây dựng một nền triết học dân tộc có khả năng
diễn đạt bằng ngôn ngữ triết luận tâm thức và những trải nghiệm tinh
thần của người Nga, những đặc trưng của đời sống, văn hoá và lịch sử
Nga, đều cho rằng nền triết học ấy phải tránh được hai “tì vết” của triết
học Tây Âu gắn bó mật thiết với bản chất của văn minh Tây Âu - đó là
chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa cá nhân. Trong nhận thức luận Tây Âu,
chủ nghĩa duy lý thể hiện ở sự tuyệt đối hoá vai trò của lý trí, của tư duy
lôgic và xem nhẹ hoặc không đếm xỉa đến những nhân tố nhận thức
khác như ý chí, tình cảm, trực giác, trí tưởng tượng, v. v…, còn chủ
nghĩa cá nhân thì biểu lộ ở chỗ hoạt động nhận thức được xem xét chỉ
trong khuôn khổ của ý thức cá thể và kinh nghiệm cá thể, những nhân
tố liên cá thể - cộng đồng không được quan tâm. Đối lập với nền triết
học và học thuật duy lý chủ nghĩa Tây Âu với tính hình thức, tính trừu
tượng, tính phân tán thành những khoa môn riêng biệt của nó,
Kirejevski đề xướng cho triết học và học thuật Nga một ý tưởng-
nguyên tắc về “tri thức toàn vẹn” (còn gọi là “tri thức sống”) nhận biết
thế giới trong chỉnh thể sống động của nó và về “trí tuệ toàn vẹn” được
hiểu như là thể thống nhất hữu cơ giữa trí năng với lương năng và năng
lực thẩm mỹ của con người. “Không chỉ bằng tư duy luận lý, mà bằng
toàn thể sinh linh của mình con người mới có thể dự phần cái chỉnh thể
thế giới mà nó nhận thức” - Kirejevski khẳng định. Còn Khomiakov thì,
phê phán chủ nghĩa cá nhân trong đời sống và tư tưởng phương Tây, đề
xuất nguyên tắc sobornost' - một từ không có tương đương trong các
Âu ngữ mà có thể tạm dịch ra tiếng Việt là “tính cộng thông”. Chân lý,
theo Khomiakov, mang tính cộng thông, giống như hội thánh của Kitô.
Chân lý chỉ khai mở cho trí tuệ loài người trong sự giao tiếp thương yêu
giữa người với người và trong lòng ngưỡng kính chung của họ đối với
Thượng Đế anh minh. Nguyên tắc “tri thức toàn vẹn” cũng như nguyên
Đông. Một mặt dựa vào những dữ liệu của khoa học thực chứng, nền
triết học ấy mặt khác bắt tay với tôn giáo. Sự thực hiện cuộc tổng hoà
chung giữa khoa học, triết học và tôn giáo sẽ là mục đích cao nhất và
kết quả cuối cùng của sự phát triển trí tuệ”. Để làm được cuộc tổng hoà
ấy cần phải thiết lập quan hệ đúng đắn giữa triết học với thần học, giữa
lý trí với niềm tin. Đây là một trong những vấn đề mấu chốt trong nhận
thức luận Soloviev. Ai đọc tác giả này cũng đều cảm nhận được ngay
qua bút pháp, hành văn của ông một thái độ tin cậy cao vào lý trí con
người, một sự tuân thủ triệt để những yêu cầu của tính hợp lý, một nỗ
lực biến thành thói quen bảo đảm tính chí lý của tất cả những gì mà ông
trình bày, đạt tới tính thuyết phục cao nhất về mặt luận lý trong tất cả
những gì mà ông khẳng định và phủ định (Nikolai Berdiaev, một danh
triết đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Soloviev, nhưng có lối viết
khác hẳn ông, hơn một lần trách cứ ông hay sa vào chủ nghĩa duy lý
trong hành ngôn). Thế nhưng, tin cậy cao vào lý trí và luôn luôn tuân
thủ những yêu cầu của nó trong diễn ngôn, Soloviev không bao giờ
dành cho nó quyền quyết định những vấn đề cuối cùng của nhận thức -
những vấn đề như sự tồn tại của thế giới hay sự tồn tại của Thượng Đế
(hoặc thánh thần nói chung). Có hay không có thế giới xung quanh
chúng ta, có hay không có Thượng Đế trên đầu chúng ta - cái đó, theo
Soloviev, phụ thuộc vào niềm tin của con người - một phạm trù nằm
ngoài lý trí. Nếu niềm tin đinh ninh của chúng ta vào sự tồn tại của thế
giới bên ngoài dựa vào sự tin cậy của ta vào những giác quan của ta, thì
niềm tin của ta vào sự tồn tại của Thượng Đế dựa vào những nghiệm
chứng nội tâm và những nhu cầu tinh thần nằm sâu hơn mọi đòi hỏi và
năng lực của tư duy lý tính. Cho nên theo Soloviev và trái với nhiều nhà
triết học và thần học khác xưa cũng như nay, không thể chứng minh sự
tồn tại của Thượng Đế bằng các lập luận lôgic[3]. Thế nhưngthần-triết
học (théosophie) mang tính tự do và khoa học”. Cái mới ở đây là sự chỉ
ra và trình bày cặn kẽ ba tiền đề của mọi nhận thức chân chính: a) niềm