Tiểu luận kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh - Pdf 19

Tiểu luận kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
HVTH: Nguyễn
Công Thức
Trang 1 Chương 1
GIỚI THIỆU

1.1. Lý do chọn đề tài
Trong lộ trình đưa nước ta hội nhập vào nền kinh tế thế giới thì Đảng và
Nhà nước luôn xem mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa là một trong
những mục tiêu được quan tâm hàng đầu. Kết quả là hơn sau 20 năm thực hiện
đường lối đổi mới (kể từ Đại hội lần thứ VI của Đảng) nước ta đã đạt được nhiều
thành tựu về kinh tế, văn hóa, chính trị, cũng như về đời sống xã hội. Trong đó, nổi
bậc nhất là lĩnh vực kinh tế với nhiều kết quả đạt được đáng khích lệ: trở thành
thành viên thứ 150 của tổ chức WTO, kinh tế tăng trưởng liên tục trong giai đoạn từ
năm 2000-2008 trung bình trên 7%/năm, đời sống nhân dân được cải thiện, thu
nhập bình quân đầu người đạt xấp xỉ 1.000USD/người/năm, công nghiệp có sự phát
triển mạnh mẽ. Bước đầu chúng ta đã cơ bản xây dựng được cơ sở vật chất để phấn
đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Hiện nay, chúng
ta đã và đang phát triển nhiều Khu công nghiệp - Khu chế xuất trên phạm vi cả
nước, nhằm phát huy tiềm năng kinh tế của từng địa phương, đồng thời tạo ra một
lượng lớn nhu cầu việc làm cho thị trường lao động.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu do ngành công nghiệp mang lại, nước
ta phải đối diện với tình trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng do chất thải từ các
Khu công nghiệp - Khu chế xuất. Hàng loạt doanh nghiệp chạy theo lợi nhuận
không quan tâm đến môi trường sống của người dân xung quanh đã tiến hành xử lý
chất thải không đúng quy định ra môi trường bên ngoài, biến những dòng sông xanh
thành những dòng sông chết như: sông Thị Vải, sông Đồng Nai Trong khi đó
công tác quản lý môi trường của cơ quan có chức năng còn nhiều hạn chế nên càng

trong quá trình thực hiện xử lý chất thải sau quá trình sản xuất.
- Tìm ra những hạn chế, nguyên nhân tác động của sự phát triển các KCN,
KCX đến môi trường, từ đó đưa ra một số giải pháp để giải quyết ô nhiễm, đảm bảo
gắn mục tiêu tăng trưởng kinh tế với mục tiêu bảo vệ môi trường.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
- Thế nào là KCN?
- Môi trường bao gồm những yếu tố nào?
- Như thế nào gọi là ô nhiễm môi trường?
- Lý thuyết trò chơi được hiểu như thế nào?
- Trò chơi lặp lại vô số lần có đặc điểm gì?
- Thế nào là cân bằng Nash?
- Sự phát triển các KCN, KCX ở Việt Nam trong thời gian qua diễn ra như
thế nào (từ năm 2000-2007)?
- Trò chơi lựa chọn chiến lược xử lý chất thải của hai doanh nghiệp diễn ra
như thế nào?
- Môi trường ở các KCN, KCX ô nhiễm ra sao?
- Sự quản lý của cơ quan Nhà nước có chức năng về vấn đề môi trường
mặt nào còn hạn chế?
Tiểu luận kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
HVTH: Nguyễn
Công Thức
Trang 3 - Những giải pháp nhằm khắc phục, bảo vệ môi trường trong thời gian tới
là gì?
1.4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1. Thời gian
Những thông tin về số liệu được sử dụng để phân tích trong đề tài là số liệu
từ năm 2000-2009.

Chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của nó.
Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong đó hệ thống đang xem xét là một tập
hợp con. Môi trường của một hệ thống đang xem xét cần phải có tính tương tác với
hệ thống đó.
2.1.3. Ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường tự nhiên bị bẩn, đồng thời
các tính chất vật lí, hóa học, sinh học của con người và các sinh vật khác.
2.1.4. Lý thuyết trò chơi
Lý thuyết trò chơi nghiên cứu các tình huống ra quyết định có liên quan đến
nhiều người và các quyết định của mỗi người ảnh hưởng tới lợi ích và quyết định
của người khác.
* Phân loại trò chơi
Các nhà nghiên cứu phân ra nhiều loại trò chơi. Trò chơi hợp tác là trò chơi
mà trong đó những người chơi có thể thõa thuận với nhau để chọn giải pháp trong
khi trò chơi bất hợp tác là trò chơi mà trong đó không có sự thõa thuận giữa những
người chơi. Ngoài ra, các nhà kinh tế cũng quan tâm đến trò chơi đồng thời và trò
chơi trước sau. Trò chơi đồng thời là trò chơi mà trong đó mỗi người chơi đưa ra
quyết định nhưng không biết quyết định của người chơi khác. Trò chơi trước sau là
trò chơi trong đó mỗi người chơi chỉ đưa ra quyết định sau khi quan sát hành động
của những người chơi khác.
* Các thành phần cơ bản của trò chơi
Tiểu luận kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
HVTH: Nguyễn
Công Thức
Trang 5 + Người chơi: người ra quyết định trong một trò chơi được gọi là người
chơi. Người chơi có thể là một cá nhân (như chơi bài ở các sòng bạc), doanh nghiệp
(như trong thị trường cạnh tranh độc quyền) hay một quốc gia (như trong các xung

Tiểu luận kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
HVTH: Nguyễn
Công Thức
Trang 6 quan trọng vì nó giúp mô tả các tình huống mà trong đó mỗi người chơi thực hiện
chiến lược tốt nhất cho mình để đối ứng với các chiến lược mà người chơi khác
đang thực hiện.
Ví dụ bảng 2.1.5, cho thấy chiến lược chi tiêu quảng cáo thấp (L) là chiến
lược ưu thế của B. Bất chấp chiến lược của A là như thế nào thì chiến lược L sẽ cho
B lợi nhuận cao hơn chiến lược H.
Bảng 2.1.5: Trò chơi quảng cáo ở hình thức thông thường
B
Chiến lược L H
A L 7,5 5,4
H 6,4 6,3
Giả sử cấu trúc trò chơi là được biết đối với cả hai người chơi A và B nên
A nhận ra B sẽ chọn chiến lược ưu thế này và vì vậy sẽ chọn chiến lược tốt nhất để
đối chọi với B, đó là chiến lược L. Việc lựa chọn chiến lược ưu thế này dẫn đến
việc (A: L, B: L) sẽ được chọn và kết quả sẽ là 7 cho A và 5 cho B.
Chiến lược (A: L, B: L) là một điểm cân bằng Nash. Nếu A biết B sẽ chọn
L thì A sẽ chọn chiến lược tốt nhất là L. Tương tự, nếu B biết A sẽ chọn L thì tốt
nhất là B chọn L. Thật vậy, do L là chiến lược ưu thế của B nên đây là lựa chọn tốt
nhất của B bất chấp A chọn chiến lược nào. Vì vậy, chọn lựa (A: L, B: L) thõa mãn
tính đối xứng của điểm cân bằng Nash.
Để thấy tại sao các cặp chiến lược khác trong bảng 2.1.5 không phải là cân
bằng Nash, hãy xem xét từng cặp một. Với lựa chọn (A: H, B: L) thì A có cơ hội đạt
đến trạng thái tốt hơn - nếu A biết B sẽ chọn L thì A có thể thu được lợi nhuận cao
hơn nếu cũng chọn L. Như vậy, chọn lựa (A: H, B: L) không phải là điểm cân bằng


Không thú nhận A: 10 năm; B: 6 tháng A: 2 năm; B: 2 năm
Ma trận kết quả ở hình thức thông thường của trò chơi này như trong bảng.
Thú nhận là chiến lược ưu thế của cả A và B. Vì vậy, các chiến lược này hình thành
nên cân bằng Nash và chiến lược chia cắt này của người thẩm vấn thành công. Tuy
nhiên, thõa thuận trước giữa hai người phạm tội là không thú nhận thì sẽ giảm hạn
tù của họ từ 3 năm xuống 2 năm. Giải pháp “hợp lý” này không ổn định vì mỗi
người tù muốn chuyển sự bất lợi cho người kia. Do đó, đây là nghịch lý, nghĩa là
kết quả tối ưu lại không ổn định.
2.2.2. Hợp tác và trò chơi lặp lại vô số lần
Các vấn đề tương tự với Nghịch lý người tù xuất hiện trong nhiều tình
huống thực tế khác. Bảng 2.2.2. minh họa nghịch lý của một trò chơi quảng cáo.
Bảng 2.2.2: Trò chơi quảng cáo với kết quả mong muốn không ổn định

B
Chiến lược L H
Tiểu luận kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
HVTH: Nguyễn
Công Thức
Trang 8 A L 7,7 3,10
H 10,3 5,5
Ở đây, chiến lược cả hai cùng chọn L mang lại lợi nhuận cao nhất nhưng
không ổn định. Tình huống này được gọi là chiến lược quảng cáo “phòng thủ”,
nghĩa là nếu cùng giảm chi phí quảng cáo thì sẽ làm tăng lợi ích cho cả hai. Thõa
thuận như vậy lại không ổn định vì các doanh nghiệp có thể làm tăng bằng cách
không tuân thủ thõa nhuận. Do đó, cuối cùng cả hai chọn chiến lược H, dẫn đến lợi
nhuận thấp hơn.

2007
Cùng với tiến trình phát triển của đất nước trong sự nghiệp CNH, HĐH
nhất là khi nước ta đã bước bào thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, khắp nơi trong cả
nước, từ thành thị đến nông thôn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư trong nước vào
lĩnh vực sản xuất ngày càng tăng. Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền
kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Trong đó, có nhiều khu
công nghiệp, khu chế xuất (KCN, KCX) ra đời phát triển tương đối nhanh và là khu
vực đi đầu trong quá trình CNH, HĐH đất nước, tập trung chủ yếu ở miền Đông
Nam Bộ, đồng bằng sông Hồng và vùng ven biển miền Trung.

Biểu đồ: 3.1: Sự phát triển KCN, KCX ở Việt Nam giai đoạn 2000-2007
(Nguồn: Vụ quản lý KCN, KCX)
Giai đoạn năm 2000 - 2002 số lượng KCN, KCX tăng với tốc độ chậm,
nhưng bắt đầu từ sau năm 2002 đã có sự tăng lên mạnh mẽ, tăng nhanh nhất là năm
2007. Điều này bước đầu cho thấy những chủ chương, chính sách phát triển kinh tế
của Đảng và Nhà nước đã phát huy tác dụng, thu hút đầu tư và ngoài nước, tạo công
ăn việc làm cho người lao động, bước đầu mang lại hiệu quả thiết thực. Trong các
SỐ LƯỢNG KCN, KCX TỪ NĂM 2000-2007
0
20
40
60
80
100
120
140
160
180
200
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007

hoảng kinh tế 1997 nên hạn chế khả năng đầu tư của nước ngoài vào nước ta. Kết
quả từ năm 1997 đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam bắt đầu suy giảm, số
vốn đăng ký đạt mức cao hơn năm 1992 không nhiều và đến năm 2002 lại giảm
xuống. Nếu so với năm 1997 số dự án được duyệt năm 1998 chỉ bằng 79,71%, năm
1999 chỉ bằng 90,4%, năm 2000 tuy có tăng nhưng cũng chỉ tăng 7,5% so với năm
1997, tới năm 2002 số dự án đã tăng 51,59% so với năm 1997.
Giai đoạn năm 2002 - 2006 số lượng KCN, KCX tăng nhanh, trung bình
hàng năm tăng 17,5 KCN, KCX, với tốc độ tăng 93,3%. Nếu năm 2002 trên địa bàn
cả nước có 75 KCN, KCX thì đến năm 2006 số lượng tăng lên thành 145. Diện tích
đất công nghiệp có thể cho thuê cũng có sự tăng lên đáng kể, tăng 9.863 hecta so
với 12.371 hecta của năm 2002. Trong đó, diện tích đất công nghiệp cho thuê là
13.675 hecta, chiếm tỷ lệ 61,5% diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê, diện tích
đất công nghiệp cho thuê năm 2006 tăng 52,1% so với năm 2002, tương đương
4.683 hecta nhưng tỷ lệ diện tích đất công nghiệp cho thuê có chiều hướng giảm so
Tiểu luận kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
HVTH: Nguyễn
Công Thức
Trang 11 với năm 2002 (75,6%). Trong quá trình thực hiện mục tiêu CNH, HĐH đất nước
đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020, chúng ta đã bước đầu
thành công trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho quá trình CNH, HĐH.
Các KCN, KCX lần lượt được xây dựng trên phạm vi khắp cả nước, nhằm khai thác
thế mạnh kinh tế của từng địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cũng
như tạo việc làm cho một bộ phận lớn dân cư. Tuy nhiên, việc phát triển quá nhanh
cơ sở hạ tầng dẫn trong khi khả năng thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào các
KCN, KCX hiệu quả chưa cao dẫn đến lượng cung tăng nhanh, trong khi nhu cầu
còn thấp dẫn đến cung lớn hơn cầu gây ra tình trạng dư thừa. Bên cạnh đó, vấn đề
quy hoạch phát triển các KCN chưa được xét trên bình diện của cả nước và của các

ngoài Bộ KH –ĐT). Năm 2007, Việt Nam đã thu hút được 20,3 tỷ USD vốn đầu tư
nước ngoài, tăng 69,1% so với cùng kỳ năm trước, vượt 56% kế hoạch dự kiến. Đây
là kết quả của quá trình phấn đấu sau một thời gian dài để trở thành thành viên
chính thức của tổ chức Thương mại thế giới. Đó cũng là kết quả của việc phân cấp
mạnh mẽ về cho các địa phương, hiện trên địa bàn cả nước có 60 địa phương đã
thực hiện việc cấp giấy phép đầu tư cho các dự án FDI theo các điều kiện phân cấp
tại địa bàn.
Tuy nhiên, trong khi số KCN, KCX tăng với tốc độ 23,4% và diện tích đất
công nghiệp có thể cho thuê tăng 29,6% thì tốc độ tăng của diện tích đất công
nghiệp cho thuê tăng rất thấp chỉ đạt 5,1%. Trong đó, tỷ lệ diện tích đất công nghiệp
cho thuê năm 2007 chỉ đạt 49,9%, so với năm 2006 tỷ lệ này giảm 11,6% và thấp
hơn nhiều so với 75,6% của năm 2002. Thực trạng này đòi hỏi chúng ta cần đưa ra
những biện pháp kịp thời khắc phục khuyết điểm, nâng cao hiệu quả hoạt động của
các KCN, KCX. Xóa bỏ tình trạng cung lớn hơn cầu xảy ra ở nhiều nơi dẫn đến
hiệu quả đầu tư kém, gây ra tình trạng lãng phí tài nguyên và ngân sách.
3.2. Thực trạng ô nhiễm môi trường tại các Khu công nghiệp - Khu chế xuất ở
Việt Nam nhìn từ lý thuyết trò chơi
Việc xây dựng, phát triển các KCN, KCX là một hướng đi đúng đắn không
những tạo ra các khu kinh tế phát triển đều khắp trên cả nước, mà còn tạo nên động
lực đưa Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành một nước công nghiệp theo hướng
hiện đại vào năm 2020. Sự phát triển các KCN đã góp phần đáng kể vào sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương, phát huy được tiềm năng kinh tế của các
vùng, miền, tạo sự phát triển cân đối giữa các khu vực. Hơn nữa, nhiều dự án trong
các KCN (kể cả dự án có vốn nước ngoài và doanh nghiệp trong nước) có công
nghệ sản xuất hiện đại đã tạo ra những sản phẩm đạt chất lượng quốc tế, có sức
cạnh tranh ngày càng cao.
Tốc độ phát triển khá nóng của các KCN, KCX đã kéo theo nhiều tác động
tiêu cực đối với môi trường. Tại các KCN, công tác bảo vệ môi trường chưa được
thực hiện đồng bộ, nhiều KCN chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung.
Đến cuối năm 2007, mới chỉ có 28 KCN có nhà máy xử lý nước thải tập trung,

sản phẩm trên thị trường biến động (nhất là đối với những hàng hóa thiết yếu).
Ngược lại, khi hệ số co giãn của cầu theo giá
D
E >1 thì lượng sản phẩm bán ra và
giá là hai đại lượng tỷ lệ nghịch với nhau, giá giảm thì số lượng hàng hóa bán tăng
lên và ngược lại khi giá hàng hóa tăng lên thì số lượng hàng hóa bán ra lại giảm
xuống.
Điều này đã đặt các nhà quản lý doanh nghiệp phải luôn đưa ra phương
pháp sản xuất tối ưu nhằm mục đích tối thiểu hóa chi phí trong kết cấu giá thành sản
phẩm, từ đó hạ giá thành sản phẩm xuống giúp doanh nghiệp có thể tăng số lượng
hàng hóa tiêu thụ thông qua việc giảm giá bán sản phẩm và tăng sức cạnh tranh sản
phẩm của mình trên thị trường, tăng lợi nhuận. Trong đó, chi phí cho xử lý chất thải
và nước thải sau quá trình sản xuất chiếm một phần trong kết cấu giá thành. Tùy
theo đặc tính của từng sản phẩm mà chi phí này có thể cao hay thấp, để đảm bảo
khả năng cạnh tranh sản phẩm trên thị trường, các doanh nghiệp sẽ luôn tìm cách để
giảm chi phí này xuống mức càng thấp càng tốt (xét trong điều kiện các yếu tố khác
xem như không đổi), dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp không tiến hành xử lý
chất thải và nước thải sau quá trình sản xuất (gọi chung là chất thải) hay xử lý
không đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường bên ngoài. Nhất là trong điều kiện
môi trường cạnh tranh gay gắt ngày càng nên gay gắt thì đây là một trong những
yếu tố góp phần làm giảm chi phí sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh của doanh
Tiểu luận kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
HVTH: Nguyễn
Công Thức
Trang 14 nghiệp, đặc biệt lợi nhuận đạt được của các doanh nghiệp là tối ưu. Nếu vấn đề
quản lý xử lý chất thải, nước thải sau quá trình của các doanh nghiệp, hay pháp luật
về bảo vệ môi trường của nước ta còn nhiều bất cập thì việc một doanh nghiệp vi

phí sản xuất dẫn đến giá thành sản phẩm cũng tăng lên. Tuy nhiên do giá thành sản
Tiểu luận kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
HVTH: Nguyễn
Công Thức
Trang 15 phẩm của hai doanh nghiệp đều tăng lên đồng thời nên khách hàng không có xu
hướng chuyển từ tiêu dùng sản phẩm doanh nghiệp A sang tiêu dùng sản phẩm của
doanh nghiệp B. Do đó mỗi doanh nghiệp nhận được lợi ích là 2 đvt.
Nhưng nếu một trong hai doanh nghiệp phá vỡ thõa thuận thì kết quả mỗi
doanh nghiệp nhận được sẽ khác đi rất nhiều, chênh lệch lợi ích giữa doanh nghiệp
thực hiện cam kết và doanh nghiệp còn lại có sự biến động lớn. Thực vậy, nếu
doanh nghiệp A không tuân thủ thõa thuận ban đầu thì lợi ích doanh nghiệp A nhận
được là 15 đvt. Trong trường hợp này, doanh nghiệp A không tiến hành xử lý chất
thải theo đúng qui định nên doanh nghiệp đã giảm được một phần chi phí trong kết
cấu giá thành sản phẩm, từ đó làm tăng khả năng cạnh tranh sản phẩm của doanh
nghiệp trên thị trường. Ngược lại, việc phá vỡ thõa thuận của doanh nghệp A đã tạo
ra kết quả tồi tệ cho doanh nghiệp B, doanh nghiệp này phải mất chi phí vận hành
hệ thống xử ý nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trở nên kém hơn. Cụ thể,
sức cạnh tranh của doanh nghiệp kém hơn so với doanh nghiệp A, có thể do giá
thành sản phẩm cao hơn đối thủ cạnh tranh nên lượng khách hàng của công ty thấp
hơn so với thời gian trước. Và trong trường hợp này, lợi ích doanh nghiệp nhận
được không phải là 2 nữa mà ngược lại bị lỗ 5 đvt. Tương tự trường hợp ngược lại
khi doanh nghiệp B phá vỡ thõa thuận, trong khi đó doanh nghiệp A vẫn thực hiện
theo đúng thõa thuận ban đầu. Kết quả cho doanh nghiệp B là 15 đvt và doanh
nghiệp A bị lỗ là 5 đvt.
Hành động phá vỡ thõa thuận của mỗi doanh nghiệp xuất phát từ lợi ích mà
doanh nghiệp đó nhận được, doanh nghiệp không xử lý sẽ nhận được lợi ích nhiều
hơn. Biểu đồ 3.2. thể hiện lợi ích mang lại khi thõa thuận bị phá vỡ.


A’



AC’

Tiểu luận kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
HVTH: Nguyễn
Công Thức
Trang 16

Biểu đồ 3.2: Vai trò của chi phí đối với lợi nhuận
Diện tích hình chữ nhật PBAC là phần lợi nhuận của doanh nghiệp thực
hiện việc xử lý chất thải sau quá trình sản xuất đúng tiêu chuẩn ứng với đường chi
phí AC. Với số lượng sản phẩm q* không thay đổi, đường chi phí AC dịch chuyển
xuống phía dưới thành AC’ thể hiện phần chi phí giảm xuống do doanh nghiệp
không phải chi để vận hành hệ thống xử lý, dẫn đến giá thành sản phẩm giảm xuống
và lợi nhuận lúc này không phải là diện tích hình chữ nhật PBAC mà là diện tích
của hình chữ nhật PBA’C’ lớn hơn diện tích hình chữ nhật PBAC. Đây chính là
động cơ thúc đẩy các doanh nghiệp không thực hiện thõa thuận và không xử lý là
chiến lược tối ưu cho mỗi doanh nghiệp, dẫn đến doanh nghiệp nào cũng vi phạm
quy định vấn đề đảm bảo chất thải sau quá trình sản xuất khi thải ra môi trường
dưới tiêu chuẩn cho phép.
Nếu doanh nghiệp A phá vỡ thõa thuận gây kết quả tồi tệ cho doanh nghiệp
B thì doanh nghiệp có xu hướng không thực hiện thõa thuận nữa, chiến lược tốt
nhất cho doanh nghiệp B đối phó với doanh nghiệp A là không thực hiện xử lý chất

xuất công nghiệp và phần lớn các KCN chưa có trạm xử lý nước thải. Các ngành
công nghiệp gây ô nhiễm môi trường nặng nhất là công nghiệp nhiệt điện, công
nghiệp sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng, công nghiệp khai thác khoáng sản.
Qua kiểm tra trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh tại 21 doanh nghiệp trong
KCN trong đó: 20/21 doanh nghiệp vi phạm quy định về bảo vệ môi trường, bị lập
biên bản xử phạt hành chính với tổng số tiền 459 triệu đồng. Đồng thời khi tiến
hành phân tích 45 mẫu nước thải của 5 KCN (Lê Minh Xuân, Tân Thới Hiệp, Bình
Chiểu, Vĩnh Lộc, Tân Phú Trung với tổng lượng nước thải là 5.750 m
3
/ngày, có
đến 44 mẫu nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP), 3/5 KCN (Vĩnh Lộc, Tân
Phú Trung, Bình Chiểu) có mẫu nước thải vượt mức cho phép hơn 100 lần. Ở một
số ngành công nghiệp như: dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy thành phố
Hà Nội, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ôxy sinh hoá
(BOD), nhu cầu ôxy hoá học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1; hàm
lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép (theo tiêu chuẩn cho
phép thì nồng độ pH từ 6-8,5mg/l; tiêu chuẩn cho phép đối với BOD là 20mg/l).
Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần,
Tiểu luận kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
HVTH: Nguyễn
Công Thức
Trang 18 H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô
nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư (nguồn:
www.nhandan.org.vn).
Một sự khác biệt xuất hiện trong trò chơi này, cân bằng Nash xảy ra nhưng
“Nghịch lý người tù” không xuất hiện. Nghĩa là chiến lược tối ưu lại mang lợi ích
cao nhất và lại có tính ổn định. Tại sao lại có sự xuất hiện này? Chúng ta cần phải

Trong năm 2008 khi bị cơ quan có chức năng tiến hành kiểm tra, phát hiện
Vedan thải chất thải chưa qua hệ thống xử lý, Vedan chỉ nộp tiền phạt hành chính
267.500 nghìn đồng, nộp trên 93 tỷ đồng trong tổng số 127 tỷ đồng tiền phí bảo vệ
môi trường phải nộp. Mặc dù Vedan cũng đã làm thủ tục xin nộp hết số tiền còn lại,
Tiểu luận kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
HVTH: Nguyễn
Công Thức
Trang 19 nhưng số tiền này cũng khá nhỏ so với một lượng tiến lớn mà Vedan phải bỏ ra cho
quá trình xử lý chất thải trong 14 năm qua một khoảng là 2.940 tỷ đồng. Như vậy
ước tính số tiền Vedan nộp cho ngân sách không được 5%, khoảng chênh lệch quá
lớn đã được Vedan bỏ túi riêng. Đồng thời Nhà nước phải chi từ ngân sách một
lượng tiền tương ứng để cải tạo môi trường. Qua đó cho thấy ý thức bảo vệ môi
trường của doanh nghiệp còn kém, coi nhẹ luật pháp và tính chưa đủ mạnh của pháp
luật về bảo vệ môi trường dẫn đến hành vi cố tình vi phạm của các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, kết quả của trò chơi trên sẽ thay đổi nhiều nếu vấn đề quan lý
môi trường tốt hơn và ban đầu hai doanh nghiệp thõa thuận chọn chiến lược xử lý
Khi đó một trong hai doanh nghiệp tuyên bố rằng: Tôi sẽ thông báo cho cơ quan có
chức năng nếu anh không thực hiện xử lý”. Vì vậy, nếu doanh nghiệp A không thực
hiện xử lý sẽ kích thích doanh nghiệp B tố cáo với cơ quan chức năng. Nếu cả hai
cùng chọn chiến lược kích thích thì không có doanh nghiệp nào có động cơ phá vỡ
thõa thuận. Hình thức trừng phạt cho doanh nghiệp không thực hiện xử lý có thể
tạm ngưng hoạt động một thời gian dài hay rút giấy phép kinh doanh vĩnh viễn.
Trong bảng 2.2.1, ta thấy hai doanh nghiệp đều lựa chọn chiến lược tối ưu cho mình
không xử lý, kết quả cho mỗi doanh nghiệp là 11 đvt. Nhưng lợi ích 11 đvt mà các
doanh nghiệp nhận được không phải là lợi ích vĩnh viễn. Trong khi đó việc cạnh
tranh doanh nghiệp diễn ra lâu dài và liên tục nên bất kỳ doanh nghiệp nào lừa dối
sẽ có sự đánh đổi giữa lợi ích 11 đvt trong hiện và 2 đvt vĩnh viễn trong tương lai.

i
PV
TH
A








12

1
2
1
2
1
2
2
32

Trong đó, i là lãi suất chiếc khấu, doanh nghiệp A sẽ chọn chiến lược không
xử lý nếu giá trị hiện tại của chiến lược này mang lại lớn hơn lợi ích nhận được khi
lựa chọn chiến lược xử lý. Ở đây, lãi xuất có vai trò quyết định trong việc doanh
nghiệp A nên lựa chọn chiến lược nào, doanh nghiệp A sẽ không lựa chọn chiến
lược này nếu:



Trước thực trạng ô nhiễm diễn ra ngày càng trầm trọng như hiện nay đòi
hỏi chúng ta phải có hành động cấp bách và quyết liệt. Nhiệm vụ này không phải
của một cá nhân, một địa phương mà là của toàn thể xã hội, nó đòi hỏi toàn xã hội
phải chung sức, cùng nhau tìm giải pháp và hành động thiết thực để khắc phục.
Trong đó, vai trò của Nhà nước ở cấp độ quản lý kinh tế vĩ mô và doanh nghiệp
tham gia hoạt động sản xuất trong các KCN, KCX đóng vai trò hạt nhân và cần đi
đầu trong hành động. Cơ quan Nhà nước có vai trò trong việc ban hành các quy
định có tính chất bắt buộc, đòi hỏi các công ty, doanh nghiệp phải thực hiện, việc
làm đó đạt kết quả khả quan hay không còn tùy thuộc vào việc đã coi môi trường là
yếu tố cơ bản của sản xuất, của chất lượng cuộc sống hay chưa, có xem mục tiêu
tăng trưởng bền vững là một trong những mục tiêu quan trọng hay không. Trên cơ
sở các giải pháp đã có để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường tại các KCN, KCX
nhằm thực hiện quá trình phát triển bền vững, bên cạnh đó cần hoàn thiện một số
giải pháp sau:
Về công tác quản lý: trước thực trạng thiếu các cơ sở pháp lý cho việc đẩy
mạnh xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường, nhiều nơi trong chỉ đạo, điều hành chỉ
quan tâm tới các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, coi nhẹ các yêu cầu bảo vệ môi
trường, có biểu hiện buông lỏng công tác quản lý nhà nước, thiếu kiên quyết trong
việc xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, chưa giải quyết dứt điểm các
điểm nóng, bức xúc về ô nhiễm môi trường. Do đó, nhiệm vụ trước hết là kiện toàn
hệ thống quản lý nhà nước về môi trường từ Trung ương đến cơ sở, bảo đảm ở cấp
huyện có bộ phận quản lý môi trường, cấp xã có cán bộ phụ trách công tác bảo vệ
môi trường, nhất là ở các vùng có KCN, KCX. Làm rõ chức năng, nhiệm vụ, phân
công, phân cấp trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường giữa các cấp,
các ngành. Cần hạn chế áp lực chạy theo tăng trưởng GDP khiến các địa phương
bằng mọi giá phải có ngay KCN, khi chưa có những bước chuẩn bị cần thiết, cần bổ
sung, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hoá và hướng dẫn
đầy đủ Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đa dạng sinh học, sửa đổi, bổ sung các quy
định về tội phạm môi trường trong Bộ Luật Hình sự. Bên cạnh đó thực hiện nhiều
chế tài có tính bắt buộc cao đối với các chủ đầu tư các dự án, công ty, doanh nghiệp

quan quản lý Nhà nước về môi trường và doanh nghiệp xuất phát từ sự yếu kém cuả
cơ quan quản lý, cán bộ không xâu sát địa bàn, thông tin về doanh nghiệp còn nhiều
hạn chế dẫn đến khả năng kiểm soát doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn. Từng bước
thực hiện tốt việc công khai thông tin về môi trường trên các phương tiện thông tin
đại chúng, đặc biệt là vấn đề công khai về tình hình chấp hành các quy định của
pháp luật về bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp, nhằm khuyến khích các đơn
vị thực hiện, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan quản lý Nhà nước về tài
nguyên và môi trường ở các cấp. Cần nhận thấy rõ vai trò của quần chúng, cơ quan
thông tin đại chúng về bảo vệ môi trường. Trong đó quần chúng có vai trò quan
trọng trong việc theo dõi quá trình hoạt động của các doanh nghiệp. Tăng cường
Tiểu luận kinh tế vi mô GVHD: TS. Lê Khương Ninh
HVTH: Nguyễn
Công Thức
Trang 23 hơn nữa vai trò của các tổ chức, đa dạng hóa nội dung, hình thức tuyên truyền, làm
cho nhân dân hiểu rõ hậu quả trước mắt cũng như lâu dài của ô nhiễm môi trường
và biến đổi khí hậu đối với sức khỏe của họ, đời sống xã hội vì sự phát triển bền
vững của đất nước.
Trong nhiều năm qua, cùng với sự phát triển các KCN, KCX thì nhu cầu về
đội ngũ cán bộ làm công tác môi trường ngày cũng tăng lên nhằm đáp ứng cho yêu
cầu trong giai đoạn mới. Mặc dù hầu hết các cấp đều có cơ quan quản lý Nhà nước
về bảo vệ môi trường nhưng đội ngũ cán bộ còn quá mỏng, có tỉnh mới chỉ có 3 cán
bộ, cấp huyện có ít cán bộ môi trường, thậm chí còn kiêm nghiệm. Do đó, cần đẩy
mạnh công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của từng địa
phương, nâng cao trình độ cán bộ quản lý, thẩm định, kiểm tra việc tình hình thực
hiện xử lý của các doanh nghiệp, các cơ sở cần được chú trọng, những nơi có mức
vi phạm cao và đẩy mạnh hơn nữa nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết. Đi đôi
với việc cải thiện điều kiện môi trường làm việc thì vấn đề tiền lương cần có những

Trang 25 KẾT LUẬN

Trong tiến trình đưa nước ta từng bước trở thành một nước công nghiệp
Đảng, Nhà nước và nhân dân cố gắng phấn đấu thực hiện nhiều chủ trương, chính
sách đã đề ra. Trên thực tế chúng ta đã và đang xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật tạo
nền tảng cho sự phát triển, việc phát triển nhanh các KCN, KCX là kết quả, là dấu
hiệu phản ánh điều đó. Song những kết quả đạt được về kinh tế được xem là khả
quan, đáng ghi nhận thì chúng ta phải đối diện với nguy cơ môi trường bị ô nhiễm
nghiêm do sự phát triển của các KCN, KCX gây ra. Tình trạng môi trường ngày
càng bị ô nhiễm, đã ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người, sự xuất hiện
ngày càng nhiều chứng bệnh nguy hiểm là dấu hiệu cảnh báo cho sự sống đang bị
đe dọa nghiêm trọng. Qua đó, mô hình KCN truyền thống đã bộc lộ những hạn chế
nhất định xét từ góc độ môi trường. Chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà
nước giống như một trò chơi mà người chơi phải lựa chọn một trong hai kết quả -
chỉ tiêu phát triển kinh tế và môi trường trong sạch. Trong đó, mô hình KCN thân
thiện môi trường sẽ ngày càng khẳng định vai trò quan trọng không chỉ trong tăng
trưởng kinh tế bền vững, mà còn là công cụ bảo vệ môi trường hữu hiệu. Kinh
nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy, khả năng ứng dụng các điều kiện tự
nhiên, điều kiện KT-XH và các tiềm năng KH&CN để phát triển thành công mô
hình KCN thân thiện môi trường phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam.
Nếu làm tốt nhiệm vụ vừa phát triển kinh tế vừa bảo vệ được môi trường thì
ước tính hàng năm chúng ta sẽ hạn chế mức thiệt hại 780 triệu USD trong các lĩnh
vực sức khỏe cộng đồng vì ô nhiễm môi trường. Ngược lại, nếu không có những
hành động thiết thực thì mức độ ô nhiễm môi trường ở nước ta sẽ tăng gấp 4 - 5 lần
hiện nay vào năm 2010, đặc biệt nghiêm trọng là môi trường KCN, nếu chúng ta
không có biện pháp khắc phục kịp thời, tổn thất kinh tế do ô nhiễm môi trường sẽ
lên đến 0,3% GDP vào năm 2010 và 1,2% vào năm 2020 . Như vậy, việc cố gắng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status