Xu hướng chung của báo chí thế giới - Pdf 19

MỤC LỤC
KHÁI QUÁT CHUNG...............................................................................................................................2
CHƯƠNG II – XU HƯỚNG CỤ THỂ VỚI TỪNG LOẠI HÌNH.........................................................29
KHÁI QUÁT CHUNG
Theo từ điển tiếng Việt (Viện khoa học xã hội Việt Nam năm 1992 - trang
1135), “Xu hướng” có nghĩa là xu thế thiên về một chiều nào đó. Sự thiên về những
hoạt động nào đó nhằm một mục tiêu có ý nghĩa đối với bản thân trong một thời gian
lâu dài.
Từ định nghĩa đó, ta có thể hiểu Xu hướng báo chí đó là xu thế thiên về một
chiều hướng nào đó của báo chí, có mục tiêu, ý nghĩa và ảnh hưởng trong thời gian
dài. Tác động đến hệ thống báo chí của thế giới.
Báo chí từ ngày đầu ra đời đã liên tục có những thay đổi để tiến xa hơn. Từ tờ
báo chỉ là những bản chép tay rồi đến những bản báo in đầu tiên và phát triển cho tới
đa phương tiện như ngày nay, tất cả điều đó đều là kết quả của quá trình phát triển lâu
dài với nhiều thách thức. Tùy theo điều kiện lịch sử và xu hướng của công chúng, hệ
thống báo chí có những bước đi riêng của mình để đáp ứng lại những điều đó. Trong
bối cảnh toàn cầu hóa, báo chí cũng chịu phần nào ảnh hưởng.
Việc nghiên cứu các xu hướng của báo chí thế giới sẽ góp phần hiểu rõ hơn đặc
điểm, thực trạng của nền báo chí toàn cầu hiện nay. Qua đó có cách thức, giải pháp
cho phù hợp với tình hình chung.
Được giao tìm hiểu về các xu hướng phát triển của báo chí thế giới, nhóm 6
phát triển đề tài theo hướng tìm hiểu chung về các xu hướng đang diễn ra trên thế
giới, rồi đi cụ thể vào từng loại hình báo chí. Trong quá trình tìm hiểu, nhóm cố gắng
lý giải nguyên nhân và điều kiện dẫn tới các xu hướng đó và dự đoán hướng phát triển
trong tương lai. So sánh các xu hướng đó với thực tại nền báo chí Việt Nam.
Trong quá trình tìm hiểu sẽ không tránh khỏi những thiếu xót, mong nhận được
sự góp ý của thầy và các bạn.
2
CHƯƠNG I – XU HƯỚNG CHUNG CỦA BÁO CHÍ THẾ GIỚI
1. Toàn cầu hóa thông tin
Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong

Biểu hiện rõ nhất là việc hình thành rất nhiều hãng thông tấn, hãng tin chuyên
khai thác tin tức trên khắp thế giới rồi bán lại cho các cơ quan thông tấn trên thế giới.
Với sự chuyên biệt này, các cơ quan báo chí chỉ cần mua lại tin từ các hãng thông tấn
đó là có thể có đủ tin tức trên thế giới cung cấp cho công chúng của mình.
Biểu hiện thứ hai đó là thông tin ở mọi nơi được cập nhật liên tục và nhiều
chiều. Nếu như trước kia, chỉ những thông tin quan trọng và có ảnh hưởng lớn mới
được đề cập, thì ngày nay những thông tin về những con người bình thường ở mọi nơi
đều có thể được nhắc tới. Thông tin về những nhân vật nổi tiếng không còn chỉ là
thông tin riêng của một quốc gia mà đã trở nên nguồn tin nóng cho những người quan
tâm trên thế giới.
Tuy nhiên một vấn đề đặt ra là liệu các thông tin được toàn cầu hóa đó liệu có
trung thực? Các chuyên gia đã nhận xét, quốc gia nào làm chủ được thông tin thì quốc
gia đó sẽ giành chiến thắng. Không ai dám chắc những thông tin mà các hãng tin đưa
ra không mang màu sắc chính trị, phục vụ cho một đảng phái, một nền chính trị nào
đó. Điều đó là dễ hiểu trong thời đại thông tin có vai trò quan trọng như ngày nay.
Các chính phủ phải điều tiết các dòng thông tin trong tầm kiểm soát của họ, đưa ra
những tin tức có lợi và theo những mưu đồ chính trị được tính toán kĩ.
Không thể phủ nhận những thành tựu của công cuộc toàn cầu hóa thông tin
đem lại. Truyền hình, phát thanh, internet, báo chí đã và đang tác động về tình cảm, tư
tưởng của công chúng tiếp nhận thông tin, bất kể khoảng cách từ họ tới nguồn thông
tin là bao nhiêu. Sự kết hợp giữa thông tin toàn cầu và lợi ích khu vực làm cho hoạt
động của các phương tiện thông tin đại chúng trở nên hữu hiệu hơn nếu xét từ góc độc
hình thành và thao túng công luận.
4
2. Quốc tế hóa báo chí
Trong bối cảnh thông tin toàn cầu đang phát triển, các tập đoàn truyền thông,
các cơ quan báo chí đều muốn đẩy mạnh ảnh hưởng của mình tở các quốc gia khác.
Chính vì vậy mà họ cố gắng đưa tờ báo của mình ra khỏi khuôn khổ của một quốc
gia.
Quốc tế hóa báo chí là hình thức mà một tờ báo, ấn phẩm báo chí được phát

phê phán
• Đồng nhất mục tiêu chế độ tư bản chủ nghĩa với chủ nghĩa cộng sản
• Phê phán chủ nghĩa Mác , chống phá các nước XHCN, tăng cường các chiến
lược diễn biến hòa bình
2.3 Biểu hiện quốc tế hóa báo chí trong lĩnh vực truyền hình
• Lợi thế của thông tin trong lĩnh vực truyền hình đó là sử dụng hình ảnh
• Xu thế nhiều đài truyền hình trên thế giới phát các chương trình truyền hình đối
ngoại
• Tăng cường các chương trình phát hình gắn với lồng tiếng hoặc có chữ dịch
hiện trên màn hình
• Hình thành nhiều đài truyền hình của khu vực, đài truyền hình cho châu lục,
hoăc đài của các tập đoàn báo chí dành riêng cho khu vực.
2.4 Biểu hiện của quốc tế hóa báo chí trong lĩnh vực thông tấn
• Thu thập thông tin nước ngoài đầy đủ, chính xác là nghĩa vụ và trách nhiệm của
các hãng thông tấn
• Đa dạng hóa các loại hình thông tin: hình ảnh, âm thanh, các văn bản...
• Số lượng ấn phẩm báo ảnh càng ngày càng phát triển
• Liên kết các hãng thông tấn quốc tế
2.5 Biểu hiện của quốc tế hóa báo chí trong lĩnh vực báo mạng
• Hình thành những trang web của các cơ quan báo chí.
6
• Các phiên bản của báo in được cập nhật thông tin nhanh chóng
• Hình thành những dịch vụ thông tin mới như chat, thư điện tử, điện thoại qua
mạng
• Thông tin nhanh chóng, vượt qua mọi trở ngại về không gian và thời gian,
• Cần có trình độ cao để có thể loại bỏ thông tin nhiễu, thông tin không có độ tin
cậy, thông tin rác rưởi.
3. Thương mại hóa báo chí
Khái niệm thương mại hóa báo chí hiện nay vẫn còn có nhiều tranh cãi. Có
nhiều người cho rằng không nên dùng từ thương mại hóa đối với báo chí, vì điều đó

3.2 Biểu hiện của thương mại hóa báo chí
Hiện nay những nguồn thu chủ yếu của mọi ấn phẩm đều gồm:
- Những khoản thu tài chính từ quảng cáo
- Những khoản thu nhờ bán báo, phát sóng…
- Những khoản thu từ các hoạt động thương mại dưới các hình thức khác
- Những khoản tiền đóng góp từ bên ngoài.
Và nền tảng cho những khoản thu bằng tiền này là khoản thu từ quảng cáo đem
lại.
Từ khi khai sinh, mục đích thương mại của báo in đã rất rõ rằng. Tờ Anzeiger
(người quảng cáo) xuất bản ở Dresden (Đức) năm 1730, theo nhà nghiên cứu Anthony
Smith, đã tự cho mình là phục vụ tất cả những ai trong hay ngoài thành phố muốn
mua bán, cho thuê hay đi thuê, cho vay hay đi vay. Ở Mỹ, trong thời gian thuộc địa,
thương mại đó là một yếu tố tiên quyết của báo chí. Nhu cầu về buôn bán hàng hóa
tiêu dùng, đặc biệt thông tin về những tuyến tàu chở hàng từ bên kia đại dương đã để
lại kết quả là các tờ báo ban đầu hầu hết gắn với từ “người quảng cáo” (Advertiser)
trên vi-nhét.
8
Bất kì một tờ báo nào, một tạp chí hoặc một ấn phẩm niên giám nào cũng dành
một vài trang cho quảng cáo. Hiện chính quảng cáo là nguồn thu chủ yếu của ấn
phẩm. Tùy thuộc vào điều kiện phát hành, truyền thống dân tộc và tình hình kinh tế, ở
từng nước các khoản thu từ quảng cáo của các phương tiện thông tin đại chúng có
khác nhau. Ở Tây Ban Nha là khoảng 80%, ở Mỹ là 75% và ở Pháp là khoảng 60%
Sức ép về kinh tế đã buộc các cơ quan báo chí bước vào cuộc cạnh tranh dữ dội
để thu hút độc giả, thay đổi trong cách thu hút quảng cáo. Nhiều cơ quan đã tiến hành
hàng loạt chiến lược để thương mại hóa sâu xa hơn ngành công nghiệp này, khiến cho
các mối quan tâm thương mại ngang với hoặc quan trọng hơn chất lượng của xã luận
hay trách nhiệm với xã hội. Riêng ngành công nghiệp báo in Mỹ: thu nhập tăng từ
12,2 tủy đô la Mỹ vào năm 1975 lên 54,4 tỷ đô la năm 2000. Nói cách khác, báo in đã
thu nhập tăng gấp 2,5 lần từ quảng cáo năm 2000 so với năm 1950. Trong vòng 30
năm qua, lượng nội dung quảng cáo trong báo in Mỹ vượt trên 60% (Báo chí & tuyên

từ trong bài báo có tiềm năng gây thu hút về sản phẩm của họ mà bạn đọc có thể đọc
sang dạng có kết nối đến quảng cáo. Và chỉ cần di con chuột tới vị trí từ đó, một màn
hình nhỏ sẽ hiện ngay ra mời gọi người đọc nhấn vào trang quảng cáo chính thức.
Ứng dụng này khiến các chuyên gia báo chí Mỹ lo ngại về việc nhà báo chọn từ khi
viết, bởi họ sẽ hướng tới những từ dễ được chuyển sang kết nối tới trang quảng cáo.
Sự can thiệp khá sâu cả về nội dung và hình thức này rõ ràng đã ảnh hưởng đến tính
chính xác, sự công bằng và đạo đức báo chí.
3.3 Ảnh hưởng của thương mại hóa với báo chí
Trong bối cảnh thương mại hóa báo chí, Lynette Sheridan Burns cho rằng các
nhà báo ngày nay luôn phải tìm cách dung hòa giữa cạnh tranh nghề nghiệp, quan tâm
thương mại và trách nhiệm đạo đức liên quan đến việc khai thác thông tin và thể hiện
thông tin. Bà cho rằng “báo chí là một công việc phức tạp – cố gắng làm hài lòng tổng
biên tập – ông chủ của bạn, bản thân bạn và toàn bộ độc giả”
10
Vì các cơ quan báo chí là các doanh nghiệp, các nhà báo phải làm hài lòng ông
chủ mình và để làm điều đó, họ phải tuân thủ những nguyên tắc riêng của phòng tin”.
Quy tắc này có thể là nhà báo phải hiểu cơ quan mình sẽ chọn cái gì đưa tin và cái gì
không. Những yếu tố này không thể nói là không làm khó xử cho họ và họ sẽ quen
với việc được bảo là làm gì, hơn là làm điều mình muốn.
Tuy nhiên ở các nước phương Tây họ có một giải pháp, đó là tách biệt các hoạt
động quảng cáo với phần hoạt động báo chí đích thực. Điều đó giúp cho bản chất của
tin tức sẽ không bị ảnh hưởng, thông tin vẫn chính xác và đảm bảo sự trung thực. Ở
đa số các quốc gia, người ta nghiêm cấm hình thức quảng cáo lén lút, núp dưới các
bản tin, tin tức. Một vài nước còn đưa ra cả luật lệ cho việc đó.
Trong báo chí, cũng như những ngành nghề khác, thời gian là tiền. Các tổng
biên tập luôn muốn có nhiều tin hơn trong thời gian ngắn hơn, áp lực đặt lên nhà báo.
Hậu quả là họ có thể trở thành những cỗ máy được lập trình để hoạt động. Họ thiếu
thời gian để nghiên cứu, điều tra, để tìm hết các ngóc ngách, phương diện của vấn đề.
Nhiều khi các ông tổng biên tập muốn mọi phương diện của một câu chuyện tội phạm
đi quá cả phạm vi giá trị thông tin câu chuyện bởi họ có thể in nhiều bản hơn để bán.

độc lập của báo chí”. Quy định này còn có thể coi là lời kêu gọi rất có ý nghĩa với
người làm báo hiện nay.
4. Tập trung và độc quyền hóa báo chí
4.1 Khái niệm
Tập trung hóa báo chí là quá trình sáp nhập giữa các cơ quan báo chí, hoặc
thôn tính, thâu tóm, bành trướng lẫn nhau giữa các cơ quan báo chí để hình thành nên
các tập đoàn báo chí.
Độc quyền, trong kinh tế học, độc quyền là trạng thái thị trường chỉ có duy nhất
một người bán và sản xuất ra sản phẩm, không có sản phẩm thay thế gần gũi. Tiếng
Anh: monopoly có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp monos (nghĩa là một) và polein (nghĩa là
12
bán). Đây là một trong những dạng của thất bại thị trường, là trường hợp cực đoan
của thị trường thiếu tính cạnh tranh. (vi.wikipedia.org)
Độc quyền hóa báo chí đó là tình trạng mà các các tập đoàn báo chí đã thâu
tóm toàn bộ các cơ quan báo chí, biến mình trở thành duy nhất trên thị trường nhằm
phục vụ mục đích riêng của mình.
4.2 Quá trình hình thành
Quá trình tập trung và độc quyền báo chí bắt đầu được hình thành từ năm 1892
khi mà Scripps cùng với người bạn là Macrê thành lập một mối liên kết giữa 5 tờ báo
của họ. Ở Mỹ người ta đã tính toán rằng kề từ năm 1962 “các tập đoàn tài chính hữu
quan” hàng năm đã mua lại khoảng 68 tờ báo độc lập. Năm 1979, số lượng bản phát
hành của các tờ báo hằng ngày thuộc sở hữu của các tổ chức độc quyền chiếm đến
71% tổng số lượng bản phát hành của tất cả các báo. Đồng thời, trong số 38 tờ báo
hằng ngày đã truyển về tay người chủ khác thì trong 7 tháng của năm 1979 đã có 34
tờ báo trở thành sở hữu của chính các tổ chức độc quyền.
Có một điều đáng lưu ý là chính những tập đoàn báo chí hùng mạnh thì lại càng
tăng cường sự ảnh hưởng của mình về cả số lượng ấn phẩm và cả số lượng bản phát
hành. Năm 1979 ở Mỹ, số lượng các tổ chức độc quyền từ con số 11 đã tăng lên 13
với tổng số lượng bản phát hành mỗi lần của các tờ báo đều vượt quá 1 triệu bản. Kết
quả là 13 tổ chức độc quyền đó kiểm soát 42% tổng số các tờ báo hằng ngày và 50%

21
24
20
20
42
42
53
56
59
65
64
62
60
63
58
Chú thích: Những số liệu dẫn trên liên quan đến tờ báo xuát bản 3-7 lần trong một tuần.
Sự độc quyền thông tin quyết định rất nhiều về nội dung thông tin. Báo chí
ngày nay là công cụ mạnh mẽ, nhiều nhánh và linh hoạt trong tay giai cấp thống trị và
báo chí được giai cấp thống trị sử dụng một cách khéo léo nhằm mục đích “tẩy não”
quần chúng, nhằm luận chứng và biện minh cho hành động gây tâm lý quân phiệt,
nhằm bảo đảm sự ủng hộ đối với đường lối chính trị đang được thi hành.
Ví dụ, đại công ty “Gannett company”. Năm 1966 sở hữu 26 tờ báo hằng ngày
và 6 tờ báo chủ nhật. Trong những năm 1980, nó có ảnh hưởng tới 88 tờ báo hằng
ngày và 23 tờ báo tuần, 13 đài phát thanh và 17 đài truyền hình.
Theo sự tính toán của các chuyên gia Mỹ: 20 tập đoàn nắm trong tay hơn một
nửa tổng số các tờ báo trong nước, 4 tập đoàn kiểm soát ngành truyền hình, 10 tập
đoàn kiểm soát ngành phát thanh, 12 tập đoàn thống trị trong ngành xuất bản sách, 4
tập đoàn ngự trị trong ngành điện ảnh. Đầu những năm 1980 nếu như tất cả các thành
phố Mỹ đều có những tờ báo ngày, thì 98% trong số đó đặt dưới quyền kiểm soát của
một trung tâm, trong tổng số 1700 tờ báo hằng ngày ở Mỹ có hơn 1000 báo thuộc sở

15
Ngày nay quá trình tích tụ tư bản và độc quyền hóa các phương tiện thông tin
đại chúng vẫn tiếp diễn. Không phụ thuộc vào các hình thức sở hữu và các phương
pháp điều hành doanh nghiệp. Trong điều kiện hiện nay sự tập trung và độc quyền
hóa các phương tiện thông tin đại chúng đang diễn ra theo một loạt định hướng.
Những tổ chức độc quyền đang tồn tại thì gia tăng sự hùng mạnh của mình bằng cách
không ngừng giảm số lượng các phương tiện thông tin đại chúng “độc lập”, các
phương tiện thông tin đại chúng tăng cường quan hệ với các tập đoàn xuyên quốc gia,
các cơ quan chính phủ đóng vai trò ngày càng lớn trong định hướng và thao túng các
phương tiện thông tin đại chúng. Đã xuất hiện những doanh nghiệp thông tin đại
chúng xuyên quốc gia với số tư bản “phân tán”, khi mà trên thực tế không thể xác
định được chúng thuộc sở hữu quốc gia nào.
- Sự ra đời của hàng loạt các tập đoàn báo chí lớn
Các công ty báo chí truyền thông ngày càng bành trướng mạnh mẽ bằng cách
mua lại, sáp nhập, thôn tính các công ty nhỏ hơn không đủ sức cạnh tranh để thành
lập nên các tập đoàn báo chí. Với việc bỏ ra hàng tỷ đô la, các ông chủ này đã đẩy
nhanh những sự tập hợp mới trong lĩnh vực báo chí, truyền thông đại chúng, tạo ra
quy mô hoạt động, sức mạnh ảnh hưởng vượt ra ngoài biên giới quốc gia, phạm vi
khu vực. Điều này dẫn đến sự ra đời của hàng loạt các tập đoàn báo chí lớn trên toàn
thế giới đặc biệt là ở các nước TBCN phát triển. Theo số liệu của Công ty nghiên cứu
thị trường Dialogic, trong 5 tháng đầu năm 2007, trên toàn thế giới đã ghi nhận 372
bản hợp đồng sáp nhập, mua lại giữa các công ty, tập đoàn báo chí truyền thông với
tổng giá trị lên đến 93,8 tỷ USD. Đáng chú ý nhất là hợp đồng sáp nhập giữa Google
và Double Click, trị giá 3,1 tỷ USD hồi tháng 4-2007, hợp đồng sáp nhập giữa Yahoo
với Right Media trị giá 680 triệu USD. (nhóm 3)
Thế giới đa dạng, các quá trình tập trung tư bản và độc quyền nắm giữ các
phương tiện thông tin đại chúng ở các nước khác nhau đang diễn ra theo những cách
khác nhau, tuy nhiên đó đều đang là xu hướng chung của nền báo chí truyền thông thế
giới.
16

nước ngoài. Nội dung của các ấn phẩm chuyên ngành này được tập trung vào một
ngành nghề cụ thể do đó khu biệt được đối tượng khán giả.
Lợi ích của quá trình phân hóa và chuyên môn hóa: Đó là nó cho phép nâng
cao hiệu quả của các bài vở của báo chí, đài phát thanh và truyền hình, sử dụng
phương tiện sẵn có với hiệu quả cao nhất. Quá trình phân hóa giúp thiết lập ra được
các ấn phẩm chuyên sâu vào một lĩnh vực, giúp cho công chúng có thể lựa chọn dễ
dàng ấn phẩm phù hợp. Trong tương lai, việc khu biệt đối tượng và lựa chọn cho
mình một lĩnh vực để kinh doanh truyền thông là một xu hướng tất yếu.
6. Gia tăng mối quan hệ giữa báo chí và kỹ thuật
Kỹ thuật có một ảnh hưởng to lớn đối với sự phát triển chung của xã hội, truyền
thông cũng là một lĩnh vực chịu sự tác động lớn của khoa học kỹ thuật. Trong quá
trình phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng, kỹ thuật đã và đang sẽ luôn
giữ vai trò hàng đầu. Từ các hình thức truyền thống là thông tin truyền miệng từ một
người này sang người khác cho đến những chữ viết cổ đầu tiên đã góp phần trao đổi
thông tin giữa người với người. Thời kì đánh dấu bước ngoặt của sự phát triển báo chí
đó là sự ra đời của máy in. Với sự ra đời của máy in vào vào năm 1455 do Johan
Gutenberg phát minh. Đó được xem là châm ngòi cho nền công nghiệp giấy bùng nổ.
Sự ra đời của máy in đã đơn giản hóa đi rất nhiều trong công đoạn làm báo, góp phần
tăng lượng xuất bản, tăng chất lượng và hình thành một nền công nghiệp báo chí. Phát
thanh – truyền hình ra đời cũng phải phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố kĩ thuật và để
phát triển chất lượng tin bài phát thanh truyền hình thì cũng đồng nghĩa với việc nâng
cao cơ sở vật chất kĩ thuật. Máy tính cùng với mạng internet ra đời đã đánh dấu sự đột
phá với lĩnh vực truyền thông. Một loại hình phương tiện mới ra đời có thể truyền tải
thông tin nhanh chóng kéo theo sự bùng nổ thông tin, điều này đã dẫn đến sự thay đổi
hết sức triệt để trong các phương tiện thông tin đại chúng.
Việc áp dụng khoa học kĩ thuật, các công nghệ mới vào các phương tiện thông
tin đại chúng đã dẫn đến những hệ quả xã hội quan trọng. Một trong những hệ quả ấy
18
được giáo sư G.V.Giêccốp nêu ra trong báo cáo khoa học của mình đó là hình thành
nên “Kỷ nguyên thông tin” (Information Era). Các quá trình thông tin hiện đại của xã

ngôn ngữ viết, ảnh, video, âm thanh, thiết kế đồ họa và các phương thức tương tác
khác trên trang web nhằm truyền tải một câu chuyện, một vấn đề một cách đa diện,
mỗi hình thức thể hiện góp phần tạo nên câu chuyện thuyết phục nhất và đầy đủ thông
tin nhất. Đối với ngành báo chí nói riêng, đặc biệt là báo điện tử và các kênh truyền
hình trực tuyến, phóng sự đa phương tiện chính là tương lai của sự phát triển.
Theo hình thức truyền thông thông thường (media), thông tin được truyền –
phát đi bằng cách nghe, nhìn. Ví dụ một bản tin được đăng trên báo in, công chúng
đọc tờ báo và tiếp nhận thông tin ấy. Nhưng cũng cùng thông tin ấy, khi thể hiện
chúng trên Wedsite, ngoài bản text còn đính kèm hình ảnh, đoạn video có liên quan,
… Công chúng tiếp nhận thông tin bằng nhiều giác quan khác nhau, với những hình
thức thông tin khác nhau, đó là truyền thông đa phương tiện.
20
Multimedia = văn bản + hình ảnh + giọng nói + âm nhạc + video…= hiệu quả
truyền thông - www.thecommunicationsgroup.com
7.2 Nguyên nhân báo chí phát triển theo hướng đa phương tiện.
a. Sự phát triển của công nghệ truyền thông
Công nghệ truyền thông (Media Technology) là ngành bao gồm các lĩnh vực
nghiên cứu công nghệ, kỹ thuật, loại hình thông tin (báo chí - truyền hình, radio;
truyền số liệu; internet; di động; vệ tinh...); đánh giá và xây dựng các xu hướng, chiến
lược phát triển hệ thống thông tin.
Trong khoảng những năm gần đây, công nghệ truyền thông phát triển mạnh mẽ
với những bước đột phá bất ngờ: internet xóa nhòa khoảng cách thời gian – không
gian trong việc tiếp cận thông tin trên toàn thế giới, hệ thống dịch vụ mạng di động
tăng nhanh chóng, Phương tiện truyền thông kỹ thuật số đã bắt đầu phát triển và lan
rộng ra toàn cầu,…
Sự phát triển của công nghệ truyền thông chính là một mặt sự phát triển của
báo chí thế giới. Khi chưa có sự ra đời của internet, các loại hình báo chí truyền thống
(báo in, phát thanh, truyền hình) phát triển tương đối độc lập, mỗi loại hình có những
ưu thế riêng không bị lấn át. Khi internet ra đời và phát triển cùng một loạt tiện ích và
sản phẩm công nghệ truyền thông đi kèm tạo nên một sức mạnh mới mà các loại hình

7.3 Biểu hiện của báo chí phát triển theo hướng đa phương tiện
a. Sự phát triển của các tổ chức truyền thông đa phương tiện
Các công ty truyền thông như viễn thông, truyền hình cáp và các khối giải trí
đang tranh giành nhau để có chân trong “thị trường” tích hợp các phương tiện truyền
thông mới. Ví dụ:
- Hãng Time Warner sát nhập với hãng American Online - Sự liên doanh đó
minh họa sinh động cho sự kết hợp các phương tiện truyền thông cũ và mới: báo
mạng và báo giấy
22
- Những công ty phát hành báo lớn bao gồm New York Times Co.
(www.nyt.com) và Tribune Co., nhà xuất bản của tờ Chicago Tribune
(www.tribune.com), chuyển tin chủ yếu qua mạng Internet.
- NBC (www.home.nbci.com) có một trong nhiều trang đầy tham vọng trên
Internet, và có những dự án chung về truyền hình và Internet với hãng máy tính khổng
lồ Microsoft (www.msnbc.com). Các hãng khác như CBS, ESPN, FOX va CNN đều
có những trang chính trên Internet.
"Truyền hình trên nền Internet sẽ trở nên phổ cập - bằng cớ là nhiều hãng viễn
thông lớn đang gia cố cơ sở hạ tầng cho viễn cảnh đó. Bạn sẽ được thưởng thức tất cả
các dịch vụ trên một nền duy nhất" - Bill Gates
Rõ ràng các tổ chức truyền thông đã có chung một tầm nhìn về tương lai – kết
hợp các phương tiện truyền thông và giải trí vào một phương thức truyền thông mới
có khả năng cung cấp sự lựa chọn tin tức bằng văn bản hay bằng các đoạn phim và
những bộ phim mới nhất bất kì khi nào được yêu cầu.
b. Những biểu hiện cụ thể về sản phẩm báo chí đa phương tiện
- Báo giấy không thể thiếu sản phẩm báo điện tử đi kèm.
- Các tờ báo còn có thể làm đài phát thanh, kênh truyền hình và đặc biệt là
báo mobile (gửi các bản tin cho bạn đọc qua điện thoại di động)
- Dùng giao thức Internet để phát chương trình phát thanh, truyền hình (số hóa)
Nhà báo thời truyền thông đa phương tiện (multimedia journalist) phải có kĩ
năng của nhiều loại hình báo chí, có thể tác nghiệp nhanh nhạy và sử dụng thành thạo

thành tờ báo trực tuyến nổi tiếng và thành công về mặt thương mại với khẩu hiệu:
"Mỗi công dân là một nhà báo". 80% tin bài trên website này là do các thường dân
cộng tác.
Năm 2001, website ThemeParkInsider.com của Mỹ là tờ báo trực tuyến đầu
tiên giành được một giải thưởng báo chí quan trọng của Hiệp hội Báo chí trực tuyến
Mỹ và khoa báo chí Đại học.
24
Ý tưởng cốt lõi trong triết lý và hệ thống giá trị của báo chí công dân (civic
journalism) là niềm tin cho rằng báo chí có một nghĩa vụ đối với đời sống công cộng.
8.2 Sức mạnh của báo chí công dân
Có khả năng thông tin nhanh chóng những sự việc vừa xảy ra. Đưa ra cái nhìn
khách quan và không bị chi phối bởi bất kì cơ quan nào. Bắt nguồn từ sự phát triển
của khoa học kĩ thuật và nhu cầu được nói lên chính kiến cũng hay bày tỏ quan điểm
của mình.
Báo chí công dân (Citizen Journalism) - loại hình báo chí mới sinh ra trong kỷ
nguyên Internet, đang trở thành trào lưu mạnh mẽ trên toàn thế giới. Đại diện chính
cho báo chí công dân chính là những tờ báo mạng, trang tin tức và cộng đồng web-
blog khổng lồ. Một số trang "báo chí công dân" khá nổi tiếng là NowPublic.com, với
99.214 "phóng viên" ở 3651 thành phố, OhmyNews.com, một trong những trang tin
điện tử có ảnh hưởng nhất Hàn Quốc hiện nay thu hút hơn 1 triệu độc giả mỗi ngày
với 50.000 "nhà báo công dân", YouWitnessNews của Yahoo! chuyên đăng tải nội
dung do người dùng gửi về, sau khi đã qua màn chỉnh trang của các biên tập viên
chuyên nghiệp, YouTube chuyên đăng tải các đoạn video cá nhân "hút" hàng triệu
lượt truy cập mỗi ngày..., trang tin bách khoa trực tuyến WikiPedia (wikipedia.org)
hiện có tới hơn chục ngàn cộng tác viên tích cực, với hàng triệu bài viết dưới nhiều
ngôn ngữ khác nhau (cả tiếng Việt). Nói đến báo chí công dân là phải nhắc tới cộng
đồng web - blog. Theo thống kê của hãng nghiên cứu Technorati (Mỹ), hiện tại trên
toàn thế giới có khoảng 55 triệu blog (2006) đến nay đã lên tới 72 triệu blog. Cứ 0.5
giây 1 blog ra đời, mỗi ngày trên Internet lại có thêm khoảng 100 nghìn blog mới và
khoảng 1,3 triệu đề mục được đăng tải.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status