on Minh Phỳc http://violet.vn/minhphucpl
1
Một số vấn đề Đổi mới ph-ơng pháp dạy học
môn tiếng anh trung học cơ sở
Phần I. đề c-ơng tập huấn
Chủ đề 1: Định h-ớng đổi mới PPDH môn tiếng Anh THCS
1. Quan điểm đổi mới PPDH
2. Bản chất của tích cực hoá hoạt động học tập của HS trong dạy học ngoại ngữ
3. Những căn cứ của đổi mới PPDH
4. Giải pháp đổi mới PPDH tiếng Anh THCS
5. Vận dụng một số PPDH theo định h-ớng đổi mới và sử dụng TBDH
Chủ đề 2: Kĩ thuật mở bài; Giới thiệu ngữ liệu mới; Luyện tập Ngữ pháp
1. Mở bài Gây không khí học tập
2. Giới thiiêụ ngữ liệu mới
3. Luyện tập ngữ pháp
Chủ đề 3: Luyện kĩ năng Nói
1. Ba b-ớc luyện Nói
2. Ví dụ minh hoạ (Tiết dạy Nói, Unit 1, lớp 8)
Chủ đề 4: Luyện kĩ năng Nghe hiểu
1. Ba b-ớc luyện Nghe hiểu
2. Xem băng và thảo luận (Tiết dạy Nghe hiểu, Unit 2, lớp 9)
Chủ đề 5: Luyện kĩ năng viết
1. Ba b-ớc luyện Viết
2. Ví dụ minh hoạ (Tiết dạy viết, Unit 4, lớp 9)
Chủ đề 6: Luyện kĩ năng Đọc hiểu
1. Thực hiện 3 b-ớc dạy các kĩ năng (nói chung)
2. Ba b-ớc luyện Đọc hiểu
3. Xem băng và thảo luận (Tiết dạy Đọc hiểu, Unit 9, lớp 8)
Phụ lục 1: Vận dụng một số PPDH và sử dụng TBDH
Phụ lục 2: Giáo án minh hoạ: Giới thiệu ngữ liệu mới (Unit 8, lớp 6)
các nhiệm vụ giao tiếp bằng ngoại ngữ. Tiêu chí chủ yếu để đánh giá kết quả học tập của học sinh là năng
lực giao tiếp, năng lực ứng xử bằng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp cụ thể.
2. Bản chất của tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh trong dạy học ngoại ngữ
Những biểu hiện tích cực đặc tr-ng của học sinh trong hoạt động học tập bộ môn ngoại ngữ
đ-ợc thể hiện ở những mặt chủ yếu sau:
Học sinh có nhu cầu tiếp thu kiến thức, kĩ năng, vận dụng kĩ năng để giao tiếp, hứng thú làm
việc với các tài liệu học tập.
Từ chỗ có nhu cầu tiếp thu kiến thức, rèn luyện và vận dụng kĩ năng trong giao tiếp, học sinh
sẽ tự giác học tập, chủ động huy động vốn kinh nghiệm đã tích luỹ (vốn từ, quy tắc ngữ pháp,
) để bắt chớc, tái hiện, tìm tòi cách ứng xử và ứng xử sáng tạo trong các tình huống giao
tiếp.
on Minh Phỳc http://violet.vn/minhphucpl
3
Học sinh chủ động lựa chọn kiến thức và thao tác t- duy thích hợp để có những ứng xử ngôn
ngữ cần thiết, phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp.
Học sinh biết bộc lộ nhận thức và sự hiểu biết của mình ra bên ngoài bằng lời nói, bài viết
thông qua ngoại ngữ.
Học sinh biết cách làm việc theo cặp, theo nhóm, hợp tác với bạn khi cần thiết trong quá trình
luyện tập ngôn ngữ theo yêu cầu và nhiệm vụ của thày giao.
Học sinh biết cách tự học, biết chủ động trình bày những ý định của mình thông qua giao tiếp
nói hoặc viết.
Trên đây là một số nét biểu hiện chính của PPDH mới. Đây cũng chính là những năng lực và
phẩm chất mà ng-ời giáo viên cần phải hình thành và phát triển ở học sinh trong quá trình học tập
ngoại ngữ.
3. Nhng cn c ca i mi PPDH ngoi ng
i mi PPDH cn phi cn c vo c im ca mụn ngoi ng v c im tõm sinh lý
ca hc sinh:
3.1. Căn cứ vào đặc điểm của môn ngoại ngữ nói chung:
- Quan điểm giao tiếp là quan điểm đặc thù của môn ngoại ngữ trong nhà tr-ờng. Quan điểm
- Rất hứng thú và tích cực trong hoạt động luyện tập phát triển kĩ năng ngôn ngữ, nhất là 2 kĩ
năng nghe và nói, nh-ng cũng rất dễ chán nản trong việc luyện tập phát triển các kĩ năng
phức tạp, ví dụ nh- kĩ năng đọc hiểu vì gặp nhiều từ mới, trừu t-ợng và khó đoán nghĩa; hoặc
nh- kĩ năng viết vì cảm thấy khó diễn đạt suy nghĩ, ý t-ởng cá nhân bằng ngôn ngữ viết.
- Nhìn chung học sinh THCS tuy hào hứng, có ý thức muốn nắm bắt và sử dụng đ-ợc ngoại
ngữ nh-ng khả năng độc lập trong học tập ch-a tốt (ví dụ: còn rụt rè, không tự tin và sợ mắc
lỗi trong khi nói). Học sinh ít có cơ hội để luyện tập, hơn nữa lại thiếu kiên trì trong rèn luyện
phát triển kĩ năng ngôn ngữ nên kết quả học tập th-ờng bị hạn chế, dễ nản chí và bỏ cuộc. Vì
vậy các em cần phải th-ờng xuyên đ-ợc sự khuyến khích, động viên kịp thời của giáo viên,
và đặc biệt cần có sự hỗ trợ của các ph-ơng pháp dạy học thích hợp để củng cố, ổn định và
nâng cao hiệu quả học tập ngoại ngữ của các em.
4. Gii phỏp i mi PPDH ting Anh trng THCS
PPDH ting Anh theo nh hng tớch cc hoỏ hot ng hc tp
Ngy nay, ngi ta c bit quan tõm ti vic ỏp dng phng phỏp Giao tip vo quỏ trỡnh
ging dy ting Anh. Giỏo viờn luụn luụn coi trng vic hỡnh thnh v u tiờn phỏt trin cỏc k nng
giao tip (nghe, núi, c v vit). ng thi, vic cung cp kin thc ngụn ng (ng õm, t vng v
ng phỏp) l quan trng, gúp phn hỡnh thnh v phỏt trin cỏc k nng giao tip. Chớnh vỡ vy, phng
phỏp Giao tip, chng mc nht nh, ó phỏt huy c u im ca nú, thc s giỳp cho hc sinh
cú kh nng s dng c ting Anh giao tip.
Vic ỏp dng phng phỏp Giao tip (cú s kt hp vi cỏc phng phỏp dy hc khỏc)
trong quỏ trỡnh ging dy ting Anh THCS c thc hin nh sau:
Cả 4 kỹ năng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc và viết) đều đ-ợc quan tâm và đ-ợc phối hợp trong
các bài tập và các hoạt động trên lớp.
Kỹ năng nghe luôn đ-ợc sử dụng (phối hợp với kỹ năng đọc) để giới thiệu ngữ liệu hoặc nội
dung bài học mới. Ngoài ra, kỹ năng nghe còn đ-ợc rèn luyện từng b-ớc thông qua các bài tập nghe khác
nhau nh- nghe lấy ý chính, nghe hiểu các thông tin chi tiết, nghe để đoán nghĩa qua ngữ cảnh,vv.
on Minh Phỳc http://violet.vn/minhphucpl
5
Kỹ năng nói đ-ợc dạy phối hợp với ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, chức năng ngôn ngữ và với các
dung giao tiếp trong các tình huống cụ thể trong đời sống thật của học sinh.
5. Vận dụng một số PPDH và sử dụng thiết bị dạy học (xem phụ lục 1) on Minh Phỳc http://violet.vn/minhphucpl
6
Chủ đề 2: kĩ thuật mở bài, giới thiệu ngữ liệu mới, Luyện tập ngữ pháp
1. Mở bài - Gây không khí học tập
Để có đ-ợc một giờ dạy thành công, ngay ở b-ớc hoạt động đầu tiên của một giờ dạy là b-ớc
mở bài, giáo viên cần tạo ra đ-ợc một không khí học tập thuận lợi về cả mặt tâm lý lẫn nội dung cho
hoạt động dạy học tiếp theo đó.
Những hoạt động gây không khí học tập này th-ờng rất ngắn (5 -7 phút) nh-ng vô cùng quan trọng.
Vậy mở bài nên làm những gì và làm thế nào để có thể thực hiện đ-ợc các mục đích đó.
1.1. Các hoạt động mở bài
Các hoạt động mở bài nhằm một số mục đích sau:
ổn định lớp, cho phép học sinh có một thời gian để thích nghi với bài học mới;
tạo môi tr-ờng thuận lợi cho bài học mới;
gây hứng thú cho bài học mới;
giúp học sinh liên hệ những điều đã học với bài học mới;
chuẩn bị về kiến thức cần cho bài học mới;
tạo tình huống, tạo ngữ cảnh cho phần giới thiệu bài tiếp theo;
tạo nhu cầu giao tiếp, hay tạo mục đích cho một hoạt động giao tiếp kế tiếp.
1.2. Các hình thức và thủ thuật vào bài
Tuỳ theo mục đích và đặc thù của giờ dạy, đồng thời tuỳ theo đối t-ợng học sinh cụ thể của
mình, giáo viên có thể lựa chọn những hoạt động hay thủ thuật vào bài cho phù hợp.
Giáo viên có thể tham khảo một số gợi ý sau:
1.2.1. Tạo môi tr-ờng thuận lợi cho bài học
a) Thiết lập không khí dễ chịu giữa thày và trò ngay giờ phút vào lớp:
chào hỏi học sinh;
các bài tập hoặc câu hỏi, vv
L-u ý:
Trong thực tế, những hoạt động và thủ thuật dùng cho phần mở bài có thể cùng một lúc đáp ứng
đ-ợc nhiều mục đích khác nhau . Vì vậy, giáo viên nên tìm cách sáng tạo để có đ-ợc một cách vào bài
sao cho cùng một lúc có thể đáp ứng đ-ợc nhiều nhiệm vụ đặt ra ở phần mở bài. Ví dụ, ngay khi b-ớc
vào lớp, giáo viên có thể bắt đầu bài bằng một hoạt động nêu vấn đề và giải quyết vấn đề (problem-
solving), hoặc khai thác vốn kiến thức có sẵn của cả lớp về một nội dung có liên quan đến bài cũ và bài
mới (brainstorming). Bằng cách đó, giáo viên đã cùng một lúc gây đ-ợc sự chú ý, gây hứng thú cho bài
học, ổn định đ-ợc lớp, kiểm tra, ôn lại đ-ợc bài cũ, đồng thời cũng đã giúp cho học sinh chuẩn bị đ-ợc
tâm lý và kiến thức cần thiết cho bài mới.
Nh- đã đề cập, mục đích của các hoạt động mở bài là để học sinh làm quen và cảm thấy hứng
thú với chủ đề sắp học trong bài, đồng thời ôn luyện lại những kiến thức đã học có liên quan đến bài
mới hoặc để giáo viên tạo những nhu cầu giao tiếp cần thiết cho các hoạt động của bài mới. Với ý
nghĩa đó, phần mở bài đôi khi không có ranh giới cụ thể mà luôn đ-ợc tiến hành phối hợp với phần
giới thiệu ngữ liệu.
1.3. Các hoạt động mở bài trong ch-ơng trình sách giáo khoa mới
Trong ch-ơng trình sách giáo khoa mới, giáo viên có thể sử dụng các thủ thuật và bài tập có
sẵn trong sách giáo khoa (ví dụ nh- đối với sách ch-ơng trình lớp 8 và lớp 9) hoặc GV tự sáng tạo (ví
dụ, với ch-ơng trình lớp 6 và lớp 7). Có thể sử dụng các thủ thuật nh-:
on Minh Phỳc http://violet.vn/minhphucpl
8
Dựa vào tranh ở mục đầu của bài, hỏi, gợi ý về chủ đề mới:
- Sử dụng tranh ảnh, bản đồ, vật thực tự chuẩn bị thay cho tranh trong sách để gây hấp dẫn.
- Hỏi các kiến thức bài cũ có liên quan đến bài mới.
- Khai thác các kiến thức có sẵn của học sinh.
- Liên hệ đến thực tế của chính học sinh, của địa ph-ơng hay các tình huống gần gũi với học
sinh và thay thế các tình huống trong sách nếu cần.
Khi tiến hành phần này, giáo viên cần chú ý một số điểm sau:
Có thể sử dụng cả tiếng Anh và tiếng Việt.
c). Dùng các tình huống thật trong đời sống thật của hoc sinh;
d). Dùng các câu chuyện có thật, các hiện t-ợng thật trong thực tế;
e). Sử dụng các bảng biểu, bản đồ, bảng tin, báo chí;
f). Sử dụng tranh, ảnh, giáo cụ trực quan;
g). Sử dụng ngôn ngữ học sinh đã biết;
h). Sử dụng các bài hội thoại ngắn;
i). Sử dụng tiếng mẹ đẻ;
k). Phối hợp một hay nhiều cách trên.
2.2. Giới thiệu hình thái ngôn ngữ
Sau khi dùng ngữ cảnh để giới thiệu nghĩa và cách dùng của các mục dạy, lúc này giáo viên có
thể làm rõ hình thái cấu trúc, các quy tắc ngữ pháp nếu có để học sinh nhớ đ-ợc dễ hơn và hệ thống hoá
đ-ợc những ngữ liệu đã học. Giáo viên có thể gợi ý cho học sinh tự nhận xét và lập thành mẫu câu hoặc
lập ra các công thức dễ nhớ.
2.3. Kiểm tra mức độ tiếp thu của học sinh. (Checking comprehension)
Sau khi giáo viên đã giới thiệu làm rõ nghĩa và cách sử dụng của ngữ liệu mới, cần thực hiện
việc kiểm tra mức độ tiếp thu bài của học sinh để qua đó biết đ-ợc học sinh đã thực sự hiểu bài ch-a,
mức độ hiểu đến đâu, để trên cơ sở đó có thể kịp thời bổ xung bài giảng nếu cần.
Việc kiểm tra mức độ hiểu bài của học sinh ở phần giới thiệu ngữ liệu này có thể đ-ợc thực hiện thông
qua một số bài tập thực hành nh-:
Học sinh ứng dụng mẫu câu vừa học vào các tình huống t-ơng tự khác giáo viên đ-a ra;
thực hiện một số bài tập lắp ghép;
xây dựng các bài hội thoại ngắn theo mẫu bằng cách lắp ghép những từ, đoạn câu gợi ý;
thực hiện các bài tập hỏi /trả lời theo dạng câu hỏi đóng hoặc các câu hỏi trắc nghiệm đúng sai
(comprehensive questions, True/False questions)
dịch ra tiếng Việt (nếu phù hợp và cần thiết)
2.4. Tóm tắt các b-ớc giới thiệu ngữ liệu mới
Các b-ớc giới thiệu ngữ liệu mới có thể đ-ợc tóm tắt theo một tiến trình nh- sau:
1) Giới thiệu ngữ nghĩa và cách sử dụng của ngữ liệu: cấu trúc ngữ pháp/ từ mới/ mẫu câu chức
năng qua tình huống, ngữ cảnh, mẫu hội thoại, tranh ảnh
2) Nêu bật cấu trúc/ từ/ mẫu câu chức năng mới bằng cách đọc to cho học sinh nghe nhắc lại hoặc
xác định xem sẽ dạy từ nào nh- một từ bị động và từ nào nh- một từ chủ động. Với từ bị động, giáo viên có
thể khuyến khích học sinh tự tìm hiểu nghĩa từ (ví dụ: tra từ điển), hoặc đoán từ qua ngữ cảnh.
b) Học sinh đã biết từ này ch-a?
Giáo viên cần xác định rõ từ mình định dạy có thực sự là từ cần dạy hay không. Vốn từ của học sinh
luôn luôn đ-ợc mở rộng bằng nhiều con đ-ờng, và cũng có thể bị quên bằng nhiều lý do khác nhau. Để
tránh tình trạng giới thiệu những từ không cần thiết và mất thời gian, giáo viên có thể dùng những thủ thuật
nhằm phát hiện xem các em đã biết những từ đó ch-a và biết đến đâu. Giáo viên có thể dùng các thủ thuật
on Minh Phỳc http://violet.vn/minhphucpl
11
nh- eliciting; brainstorming; các thủ thuật dùng ở các b-ớc 5) và 6) trong tiến trình giới thiệu ngữ liệu mới;
hoặc có thể hỏi trực tiếp học sinh những từ nào là từ mới và khó trong bài.
on Minh Phỳc http://violet.vn/minhphucpl
12
2.5.2. Những thủ thuật làm rõ nghĩa từ
Ngoài những thủ thuật giới thiệu nghĩa trong ngữ cảnh đã đề cập ở phần giới thiệu ngữ liệu chung, có thể
sử dụng một số thủ thuật đặc thù cho từ vựng nh-:
a) Dùng trực quan nh-: đồ vật thật trên lớp, tranh ảnh, hình vẽ phác hoạ (hình que), hình cắt dán
từ tạp chí, cử chỉ điệu bộ v.v.
b) Dùng ngôn ngữ đã học:
Định nghĩa, miêu tả;
Dùng từ đồng nghĩa, trái nghĩa;
Dựa vào các quy tắc hình thành từ, tạo từ;
Tạo tình huống;
Đoán nghĩa của từ trong ngữ cảnh
c) Dịch sang tiếng mẹ đẻ.
Các b-ớc tiến hành giới thiệu từ mới cũng t-ơng tự nh- các b-ớc giới thiệu ngữ liệu nói chung,
song có thể đ-ợc phối hợp nhanh hơn.Cụ thể là sau khi đã làm rõ nghĩa và cách sử dụng từ, giáo viên sẽ
tạo điều kiện cho học sinh thực hành ngay qua các bài tập ứng dụng phối hợp với các mẫu cấu trúc hoặc
mà các mục ngữ pháp, hay chức năng ngôn ngữ này đã đ-ợc xuất hiện trong các mục tr-ớc của bài học
để qua đó có thể làm rõ ý nghĩa các ngữ liệu đó và hệ thống hoá đ-ợc tốt hơn. Đây là lúc giáo viên có thể
giải thích, tóm tắt hay chốt lại các điểm ngữ pháp đã xuất hiện trong bài một cách kỹ l-ỡng hơn.
3.1. Giới thiệu cấu trúc ngữ pháp
Đầu tiên GV giới thiệu bằng lời cấu trúc mới rồi ghi lên bảng. Cấu trúc ngữ pháp đó phải nằm
trong ngữ cảnh. Cách đơn giản nhất để trình bày một cấu trúc là chỉ ra một cách trực tiếp, sử dụng
các vật thể mà HS có thể nhìn thấy trong và ngoài lớp, tranh ảnh, hình vẽ minh hoạ, bản đồ, biểu
bảng, bản thân GV và HS hoặc bằng hành động.
Một cách khác để chỉ ra ý nghĩa của một cấu trúc là đặt ra một tình huống ở trong và ngoài
lớp mà trong đó cấu trúc đó có thể sử dụng một cách tự nhiên. Tình huống có thể có thực, t-ởng
t-ợng hoặc sáng tạo. Việc kết hợp các thủ pháp khác nhau là cần thiết trong việc chỉ ra ý nghĩa của
một cấu trúc mới bởi HS có nhiều có nhiều cơ hội để tiếp thu nó một cách trọn vẹn hơn. Bên cạnh
việc chỉ ra một cấu trúc ngữ pháp đ-ợc sử dụng và có ý nghĩa nh- thế nào thì GV cũng cần phải chỉ
ra hình thức của cấu trúc ấy. Có nhiều cách thể hiện hình thức cấu trúc ngữ pháp:
Đọc cấu trúc và yêu cầu HS nghe và nhắc lại.
Viết cấu trúc lên bảng.
Yêu cầu một số HS (cá nhân) nhắc lại.
Giải thích cấu trúc ngữ pháp mới đ-ợc hình thành nh- thế nào.
Yêu cầu cả lớp chép cấu trúc vào vở.
Đặt thêm ví dụ và tình huống để luyện tập.
3.2. Quy trình 3 b-ớc của giờ dạy ngữ pháp
Theo giáo học pháp hiện đại, giờ lên lớp đ-ợc xây dựng trên cơ sở một quy trình 3 b-ớc (The
Three P's) gồm: Giới thiệu, Luyện tập và Vận dụng. Quy trình đó có thể đ-ợc mô tả trong mô hình sau:
Presentation
Practice
Performance/Production
on Minh Phỳc http://violet.vn/minhphucpl
15
Chủ đề 3: Luyện kĩ năng nói
1. Ba b-ớc luyện nói
Sau phần giới thiệu ngữ liệu (ở lớp 8 và lớp 9) là phần luyện tập nói (Speak), với các hình thức
bài tập và hoạt động ở mỗi bài có khác nhau nhằm luyện tập sử dụng các trọng tâm cấu trúc ngữ
pháp, hay từ vựng để diễn đạt các chức năng ngôn ngữ theo các chủ đề và tình huống có liên quan
đến bài học.
Quy trình luyện nói bao gồm:
a) Chuẩn bị nói (Pre-speaking)
Giới thiệu bài nói mẫu (Những phát ngôn riêng lẻ hay một bài hội thoại).
Yêu cầu học sinh luyện đọc (Chú ý cách phát âm và nghĩa của từ mới)
Giáo viên dùng câu hỏi gợi mở để HS tự rút ra cách sử dụng từ và cấu trúc câu.
Giáo viên yêu cầu bài nói.
b) Luyện nói có kiểm soát (Controlled practice)
Học sinh dựa vào tình huống gợi ý (qua tranh vẽ, từ ngữ, cấu trúc câu cho sẵn hoặc bài hội
thoại mẫu) để luyện nói theo yêu cầu.
HS luyện nói theo cá nhân/ cặp /nhóm d-ới sự kiểm soát của của GV (sửa lỗi phát âm, lỗi ngữ
pháp, gợi ý từ )
GV gọi cá nhân hoặc cặp HS trình bày (nói lại) phần thực hành nói theo yêu cầu.
c) Luyện nói tự do (Free practice/ Production)
HS nói về kinh nghiệm bản thân, bạn bè, ng-ời thân trong gia đình hoặc về quê h-ơng, đất
n-ớc hay địa ph-ơng nơI mình ở.
GV không nên hạn chế về ý t-ởng cũng nh- ngôn ngữ ; nên để HS tự do nói, phát huy khả
năng sáng tạo của bản thân.
Để thực hiện mục này giáo viên cần l-u ý một số điểm sau:
Cần phối hợp sử dụng th-ờng xuyên các hình thức luyện tập nói theo cặp (pairs) hoặc theo
nhóm (groups) để các em có nhiều cơ hội sử dụng tiếng Anh trong lớp qua đó các em có thể
cảm thấy tự tin và mạnh dạn hơn trong giao tiếp.
Cần h-ớng dẫn cách tiến hành, làm rõ yêu cầu bài tập hoặc gợi ý hay cung cấp ngữ liệu
Các bài tập ứng dụng, chuyển hoá t-ơng tự nh- các bài tập sau khi đọc.
Cần phối hợp nhiều cách kiểm tra các đáp án nh-: để HS hỏi lẫn nhau, trao đổi đáp án và chữa
chéo, hay một HS hỏi tr-ớc lớp và chọn ng-ời trả lời tr-ớc khi GV cho đáp án cuối cùng.
2. Xem băng (Unit 2 Grade 9) và thảo luận
on Minh Phỳc http://violet.vn/minhphucpl
17
Chủ đề 5: Luyện kĩ năng viết
1. Ba b-ớc luyện viết
a) Tr-ớc khi viết (Pre-writing)
Giới thiệu bài viết mẫu (phần a).
Yêu cầu học sinh đọc kĩ để tìm hiểu cấu trúc của bài viết (l-u ý cách diễn đạt ngôn ngữ trong
văn bản viết).
GV cần làm rõ nghĩa từ mới và mẫu câu.
b) Trong khi viết (While-writing)
GV nêu yêu cầu bài viết (phần b) và có thể cho gợi ý.
HS thảo luận theo cặp hoặc nhóm, sau đó cá nhân HS tự viết.
HS cần bám sát bài viết mẫu, các gợi ý để viết theo yêu cầu.
GV gọi vài HS (đại diện nhóm) trình bày bài viết tr-ớc lớp (có thể ding OHP).
GV sửa lỗi và đ-a ra đáp án gợi ý.
c) Sau khi viết (Post-writing)
HS có thể trình bày lại bài viết (d-ới dạng nói).
GV có thể yêu cầu HS viết một bài theo tình huống gợi ý t-ơng tự (bài viết mới liên hệ thực
tế, mang tính sáng tạo và tự do hơn).
Nói tóm lại, các bài luyện viết th-ờng bắt đầu bằng một bài mẫu ở mục a). Thông qua hoạt
động đọc hiểu, học sinh nắm bắt cách trình bày viết một bài viết theo mục đích hay yêu cầu nhất
định. Phần b) sẽ là phần học sinh thực hiện các bài tập viết theo yêu cầu đề ra, có h-ớng dẫn, hoặc có
gợi ý; sau đó là bài viết mở rộng mang tính sáng tạo và tự do hơn.
- Để thực hiện bài này, giáo viên cần làm tốt phần h-ớng dẫn mẫu qua các bài tập đọc và phát hiện,
sau đó giải thích yêu cầu bài viết.
năng khác (ví dụ, nghe tr-ớc khi nói về một chủ điểm nào đó; nói tr-ớc khi viết, hoặc đọc
trớc khi viết v.v)
b) Các hoạt động trong khi thực hiện bài:
Các hoạt động ở b-ớc này gồm các yêu cầu bài tập giúp học sinh thực hành các kỹ năng đặt ra.
Các yêu cầu bài tập có thể là các câu hỏi đọc hiểu hay nghe hiểu; sắp xếp trật tự nội dung; những
bài tập chuyển hoá, bài tập viết theo mẫu v.v.
c) Các hoạt động sau khi thực hiện bài:
Các hoạt động sau khi thực hiện bài th-ờng gồm những bài tập ứng dụng mở rộng dựa trên bài
vừa học, thông qua các kỹ năng nói hoặc viết.
2. Ba b-ớc luyện đọc hiểu
a) Tr-ớc khi đọc (Pre-reading):
Các hoạt động tr-ớc khi đọc gồm những hoạt động nhằm đạt đ-ợc những mục đích sau:
Gây hứng thú;
Giới thiệu ngữ cảnh, chủ đề;
Tạo nhu cầu , mục đích đọc;
on Minh Phỳc http://violet.vn/minhphucpl
19
Đoán tr-ớc nội dung bài đọc;
Nêu những điều muốn biết về nội dung sắp đọc;
Giới thiệu tr-ớc từ vựng, ngữ pháp mới giúp cho học sinh hiểu đ-ợc bài đọc;
v.v
b) Trong khi đọc (While-reading):
Các hoạt động luyện tập trong khi đọc nhằm giúp học sinh hiểu bài đọc. Tuỳ theo mục đích nội dung
của từng bài đọc, sẽ có những dạng câu hỏi và bài tập khác nhau. Những dạng bài tập phổ biến gồm:
Check/tick the correct answers;
True/ false
Complete the sentences;
Fill in the chart;
Make a list of
có tài liệu tham khảo và có thể áp dụng trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung
học cơ sở.
1.1 Phương pháp Ngữ pháp – Dịch
Phương pháp Ngữ pháp – Dịch (Grammar – Translation Method) hay còn gọi là phương pháp
Truyền thống được áp dụng mạnh mẽ ở Việt Nam vào những năm 1970 cho đến tận những năm 1990.
Về bản chất, theo phương pháp này, chương trình tập trung chủ yếu vào phát triển kĩ năng đọc
hiểu, học thuộc lòng từ vựng, dịch văn bản, viết luận (composition) và phân tích ngôn ngữ (học để nắm
chắc quy tắc ngôn ngữ). Quy trình thực hiện: Các bài khóa (texts) được biên soạn và chia ra thành từng
đoạn ngắn. Việc giảng giải quy tắc ngôn ngữ là cơ bản. Học sinh được học về ngữ pháp rất kĩ trên cơ sở
các hiện tượng ngữ pháp cơ bản được rút ra từ các bài khóa. Để kiểm tra sự thông hiểu về nội dung bài
khóa (nội dung văn hóa, đất nước học nói chung) và các quy tắc ngôn ngữ, HS bắt buộc phải dịch các bài
khóa sang tiếng mÑ ®Î. HS không được phép mắc lỗi ngôn ngữ, nếu có phải sửa ngay.
Ưu điÓm:
- HS được rèn luyện rất kĩ về ngữ pháp và tiếp thu lượng từ vựng khá lớn.
- HS nắm được tương đối nhiều các cấu trúc câu cơ bản, thuộc lòng các đoạn văn hay hoặc
bài khóa mẫu.
- HS có thể đọc hiểu nhanh các văn bản.
Hạn chế:
- Không giúp HS “giao tiếp” được. Hoạt động chủ yếu trong lớp là người thày- thày giảng
giải, nói nhiều; HS thụ động ngồi nghe và ghi chép, không có ý kiến phản hồi hoặc không
tham gia giao tiếp (nói) với thày và bạn bè.
- Hoạt động dạy học chỉ diễn ra một chiều - HS hoàn toàn bị động, không có cơ hội thực
hành giao tiếp trong lớp; khả năng sáng tạo và đặc biệt kĩ năng nãi của HS bÞ h¹n chÕ.
Một số lưu ý:
- Ở chừng mực nào đó, GV vẫn có thể áp dụng Phương pháp Truyền thống, ví dụ: khi muốn
kiểm tra sự hiểu chính xác về một văn bản (đoạn văn, câu thơ…trong bài đọc hiểu) hoặc một cấu
trúc câu phức tạp khác với cấu trúc câu trong tiếng Việt, GV có thể yêu cầu HS dịch sang tiếng Việt.
Đoàn Minh Phúc http://violet.vn/minhphucpl
21
HS ở đầu cấp THCS. HS cảm thấy phấn khởi và tự tin khi được nghe và tập bắt chước theo giáo
viên, ví dụ: HS làm theo lệnh của GV hoặc hát các bài hát tiếng Anh đơn giản.
Đoàn Minh Phúc http://violet.vn/minhphucpl
22
Hạn chế:
- §ối với HS có trình độ cao việc học theo phương pháp này sẽ nhàm chán nếu không có sự
điều chỉnh phương thức dạy học cần thiết.
- HS áp dụng những gì đã được lĩnh hội trong lớp học vào thực tiễn giao tiếp ngôn ngữ là khó. Các
em không thể vận dụng các hình thức ngôn ngữ (các mẫu lời nói) được luyện tập trên lớp một cách tự
nhiên vì tuy HS có khả năng nghe hiểu, nhớ và bắt chước (nói theo) ngay tại chỗ trong lớp học, song
các em cũng rất chóng quên và cảm thấy bị “tắc” khi gặp tình huống tương tự trong giao tiếp thực;
tức là không diễn đạt được những gì định nói mặc dù sau một thời gian dài học tập. Người ta cảm
thấy nghi ngờ về tính hiệu quả của phương pháp này so với phương pháp Ngữ pháp-Dịch. Tuy nhiên,
HS có thể nghe và nói thuần thục nếu các em được rèn luyện trong môi trường ngoại ngữ (language
environment) mà điều kiện này bị hạn chế ở trường THCS.
Một số lưu ý:
Lớp học không nên quá đông (không quá 35 HS/lớp). Giờ học nên được tiến hành ở các
phòng học tiếng có thiết bị nghe chuẩn; hoặc GV cần chuẩn bị băng cát-sét/ đĩa CD ghi âm các bài
đối thoại mẫu có chất lượng cao để đảm bảo cho HS có thể nghe hiểu và thực hành nói đạt hiệu quả.
Đối với HS tiểu học hoặc HS đầu cấp THCS, GV nên chuẩn bị nhiều tranh ảnh để tạo tình huống
giao tiếp; chú ý tổ chức các hoạt động ngôn ngữ khác nhau như: trò chơi, câu đố… để gây không khí
thoải mái trong học tập cho các em.
Ví dụ minh họa:
HS tiểu học hoặc HS ở đầu cấp THCS có thể được nghe các mẫu đối thoại chứa cấu trúc câu
thông thường như hỏi và trả lời về thời tiết, ví dụ: What’s the weather like? It’s cold
(hot/sunny/rainy etc.). HS cần phải được GV làm rõ ý nghĩa (bằng giải thích, cho ví dụ hoặc thậm
chí phải dịch sang tiếng Việt nếu cấu trúc câu không có trong tiếng mẹ đẻ, ví dụ: đại từ “it” dùng để
chỉ thời tiết) và hiểu được cách sử dụng cấu trúc câu, cách phát âm, ngữ điệu câu hỏi (xuống giọng).
HS có thể vận dụng hỏi-trả lời về thời tiết trong các tình huống gợi ý (ví dụ: các tranh vẽ trời
giao tiếp (intention) thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ khác nhau (tasks).
Tiến trình giảng dạy diễn ra theo 5 bước:
- Giới thiệu ngữ liệu (presentation)
- Thực hành bài tập (Exercises)
- Hoạt động giao tiếp (Communicative activities)
- Đánh giá (Evaluation)
- Củng cố (Consolidation).
Ưu điểm: Phương pháp Giao tiếp có ưu điểm hơn hẳn các phương pháp khác là nó bao trùm mọi
phương diện của quá trình dạy học ngoại ngữ: đó là các yếu tố ngôn ngữ, văn hóa, xã hội, các yếu tố
ngoài ngôn ngữ… nhằm rèn luyện kĩ năng giao tiếp hoàn chỉnh. Đặc biệt Phương pháp Giao tiếp coi
hình thành và phát triển bốn kĩ năng giao tiếp như nghe, nói, đọc và viết là mục đích cuối cùng của quá
trình dạy học. Các kiến thức ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp là phương tiện, điều kiện
hình thành và phát triển các kĩ năng giao tiếp. Vì vậy, phương pháp Giao tiếp thực sự giúp cho HS có
khả năng sử dụng được tiếng Anh để giao tiếp.
on Minh Phỳc http://violet.vn/minhphucpl
24
Hn ch: Phng phỏp Giao tip nhn mnh vo vic hỡnh thnh v phỏt trin 4 k nng ngụn ng:
nghe, núi, c, vit trong quỏ trỡnh dy hc, trong ú kin thc ngụn ng (ng õm, t vng v ng
phỏp) khụng c quan tõm mt cỏch thớch ỏng. Kt qu l mt s HS cm thy khú cú th giao
tip vỡ HS lm sao cú th nghe, núi, c, vit c mt khi cỏc em khụng nm chc h thng qui tc
ngụn ng. Mt khỏc, theo quan im ca phng phỏp ny, quan h gia ý nh giao tip (bao gm
cỏc hnh ng li núi hay l cỏc chc nng ngụn ng hc c) v hin thc l quỏ phc tp, khụng rừ
rng. Núi mt cỏch khỏc, ngi ta khú cú th la chn cỏc phỏt ngụn theo chc nng phự hp vi nhu
cu giao tip thc t a dng v rt phc tp.
Mt s lu ý:
GV gi vai trũ l ngi hng dn, t chc thực hin. HS úng vai trũ ch o trong quỏ trỡnh
dy hc; tc l phi phỏt huy cao tớnh tớch cc ca cỏc em trong luyn tp thc hnh. trng
THCS (lớp 8 và 9), HS cn tp trung rốn luyn sõu tng k nng nghe, núi, c, vit. Mun thc hin
c, cỏ nhõn HS phi tớch cc v t giỏc tham gia thc hnh, khụng s mc li, v cn lu ý rng
Bc tip theo, GV cho HS luyn tp qua vic yờu cu HS c bng danh sỏch cõu hi trc
tip (thi vn ỏp ting Anh) ca ban giỏm kho so sỏnh v xỏc nh vi cỏc cõu hi giỏn tip
trong bi i thoi (phn b.); sau ú HS luyn tp i thoi trc tip theo cp (úng vai Lan v ngi
giỏm kho). Mc ớch l cng c hỡnh thỏi loi cõu hi trc tip cho HS trc khi cho cỏc em luyn
tp i sang cõu hi giỏn tip.
Bc tip theo l hot ng giao tip mang tớnh t do hn. GV cú th yờu cu HS da vo
bi i thoi gia Lan v ngi giỏm kho úng vai Lan v Paola tp núi li ni dung cỏc cõu hi
trc tip ú dng cõu hi giỏn tip (nh bi i thoi trong phn gii thiu ng liu).
tng cng giao tip mc hon ton t do (mang tớnh sỏng to), GV cú th yờu cu HS
luyn tp phng vn theo cp theo cỏc tỡnh hung do giỏo viờn gi ý; sau ú HS i din cho mi
cp tng thut li cỏc cõu hi dng giỏn tip.
Nh vy, vớ d trờn cho thy vic dy kin thc ngụn ng (cõu hi giỏn tip) c gii thiu
thụng qua tỡnh hung giao tip, va m bo vic truyn ti c hin tng ngụn ng theo vn
cnh cú ngha, va bỏm sỏt ni dung ch ca bi hc. iu quan trng l HS c luyn tp v cú
th vn dng vo cỏc tỡnh hung giao tip tng t.
2. Sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học
2.1 Giới thiệu thiết bị, đồ dùng dạy học tối thiểu
Bộ băng tiếng cát-sét/ đĩa CD môn tiếng Anh lớp 6 - 9 đợc xây dựng theo danh mục thiết bị
dạy học tối thiểu do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định. Bộ băng tiếng cát-sét/ đĩa CD gồm 2 đĩa CD-
Audio hoặc 2 băng cát-sét do ngời bản ngữ đọc, đảm bảo chất lợng âm thanh (stereo). Mở đầu mỗi
bài, mỗi đề mục và kết thúc mỗi bài, mỗi đề mục đều có nhạc báo hiệu. Đối với mỗi bài đối thoại
th-ờng có 2 giọng đọc (giọng nam và giọng nữ) theo độ tuổi khác nhau của nhân vật tham gia đối
thoại. Mục đích sử dụng bộ băng tiếng cát-sét/ đĩa CD là nhằm giúp cho việc tạo dựng môi trờng học