C«ng t¸c gi¶i quyÕt khiÕu n¹i, tè c¸o...
Trang 1
LỜI MỞ ĐẦU
Giải quyết khiếu nại, tố cáo là một lĩnh vực hết sức quan trọng trong hệ thống
quản lý nhà nước và điều hành xã hội. Do vậy thực hiện tốt công tác giải quyết khiếu
nại, tố cáo của nhân dân sẽ củng cố và tăng niềm tin của nhân dân vào đường lối của
Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước đề ra, thể hiện mối quan hệ mật thiết
giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước.
Bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân
dân, tất cả quyền lợi đều thuộc về nhân dân. Việc quan tâm đến lợi ích của nhân dân
là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước. Nhận thức được điều đó, Đảng và Nhà nước ta
đã đưa ra những chính sách, văn bản pháp luật ngày càng hoàn thiện để giải quyết
khiếu nại, tố cáo nhanh, đúng pháp luật, bảo vệ và khôi phục kịp thời lợi ích hợp pháp
cho nhân dân, đồng thời xử lý nghiêm minh những cá nhân, tổ chức vi phạm pháp
luật, tạo niềm tin của nhân dân vào con đường đi lên xã hội chủ nghĩa mà Đảng và
Nhà nước ta đã lựa chọn.
Trong thời gian qua, Nhà nước ta đã đưa ra các văn bản quy phạm pháp luật
giải quyết khiếu nại, tố cáo, đặc biệt là sửa đổi, bổ sung Luật Khiếu nại, tố cáo ngày
càng hoàn thiện hơn nên việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đã đạt được những kết quả
tốt đẹp. Việc xử lý các vụ việc khiếu nại, tố cáo nhanh hơn, đúng người, đúng việc và
đúng thẩm quyền xử lý hơn, được nhân dân đồng tình ủng hộ. Song bên cạnh đó, do
sự phát triển của nền kinh tế thị trường có nhiều vấn đề phức tạp nên tình hình khiếu
nại, tố cáo của công dân ở các địa phương có chiều hướng gia tăng, diễn ra không
bình thường. Có nhiều đơn phức tạp kéo dài nhiều năm do không được giải quyết, giải
quyết không đúng pháp luật, xử lý không nghiêm minh. Bên cạnh đó còn có nhiều
đơn khiếu nại, tố cáo vượt cấp dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng không chỉ về mặt
giải quyết khiếu nại, tố cáo mà còn ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội của địa phương.
Từ trước đến nay việc xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân luôn
được xác định là nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan Thanh tra nhà nước. Vai trò
Sinh viªn thùc hiÖn: NguyÔn TrÝ ThuÇn Gi¶ng viªn híng dÉn: ThS. Mai Nguyªn Thanh
• Tìm hiểu công tác soạn thảo các loại văn bản tại cơ quan Thanh tra.
• Đọc, nghiên cứu hồ sơ về khiếu nại, tố cáo liên quan đến chuyên đề thực tập.
• Viết đề cương chuyên đề.
Tuần 03 đến tuần 07: Từ ngày 30/3 – 03/5/2009:
• Thu thập số liệu và theo dõi tình hình tiếp dân.
• Tham gia trực công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo.
• Tổng hợp các báo cáo để thực hiện việc viết chuyên đề.
Tuần 08 đến ngày 15/5/2009: Từ ngày 04/5 – 15/5/2009:
• Viết báo cáo chuyên đề.
• Trình lãnh đạo cơ quan nhận xét quá trình thực tập và nhận xét của giảng viên
hướng dẫn.
B. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÀNH THANH TRA NHÀ NƯỚC:
1. Lịch sử hình thành về ngành Thanh tra:
Khởi nghiệp cho sự ra đời của ngành Thanh tra là Ban Thanh tra đặc biệt được
quy định trong Sắc lệnh số 64/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 23/11/1945, lần
đầu tiên quyền thanh tra được xác định và chính thức giao cho Chính phủ. Với khái
niệm "Thanh tra là tai mắt của trên, là người bạn của dưới, cán bộ thanh tra là tai mắt
Sinh viªn thùc hiÖn: NguyÔn TrÝ ThuÇn Gi¶ng viªn híng dÉn: ThS. Mai Nguyªn Thanh
C«ng t¸c gi¶i quyÕt khiÕu n¹i, tè c¸o...
Trang 4
của Đảng và Chính phủ, tai mắt có sáng suốt thì người mới sáng suốt, người được
giao quyền thanh tra phải luôn luôn xem trọng công tác thanh tra”.
Đến Hiến pháp năm 1946, quy định của pháp luật về Thanh tra cũng chưa được
xác định cụ thể và do đó hoạt động thanh tra, kiểm tra chưa được giao cho một cơ
quan chuyên trách nào, quyền kiểm soát đối với Chính phủ được giao cho Ban
Thường vụ của Nghị viện.
Sau Hiến pháp năm 1946 và đến Hiến pháp năm 1980 pháp luật về Thanh tra
cũng chỉ mới xác định là chức năng của cơ quan quản lý nhà nước, nhưng chưa có
quy định về quyền thanh tra, kiểm tra cũng như chưa giao nhiệm vụ cho một cơ quan
xây dựng và đổi mới đất nước ngày một hoàn thiện hơn. Bên cạnh đó, đặt ra những
nhiệm vụ và trọng trách mới trong sự nghiệp quản lý nhà nước nói chung và trong
công tác phòng ngừa, phát hiện xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những
sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền các biện pháp khắc phục. Phát huy những nhân tố tích cực, góp phần
nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, và các cá nhân.
2. Khái niệm về công tác thanh tra trong Luật Thanh tra năm 2004:
Khái niệm và thuật ngữ cụ thể để thể hiện nội dung bao hàm của từ thanh tra,
kiểm tra theo như căn cứ vào khái niệm của từ điển tiếng Anh - Thanh tra = Inspect,
có nghĩa là nhìn vào bên trong, chỉ một sự xem xét từ bên ngoài vào một đối tượng
nhất định. Theo từ điển tiếng Việt - Thanh tra bao hàm nội dung là việc kiểm tra xem
xét, việc làm tại chỗ của địa phương, cơ quan, xí nghiệp do người thuộc cơ quan có thẩm
quyền thực hiện, còn kiểm tra (theo từ điển tiếng Việt) là việc kiểm tra xem xét tình hình
thực tế để đánh giá nhận xét thì chưa được quy định một cách cụ thể trong một văn bản
mang tính giá trị pháp lý nào.
Năm 1945, sau khi sắc lệnh số 64/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, thì thuật
ngữ thanh tra bắt đầu được xuất hiện nhưng vẫn mang tính chất chung chung, kể cả
trong Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 cũng chưa sử dụng thuật ngữ
Sinh viªn thùc hiÖn: NguyÔn TrÝ ThuÇn Gi¶ng viªn híng dÉn: ThS. Mai Nguyªn Thanh
C«ng t¸c gi¶i quyÕt khiÕu n¹i, tè c¸o...
Trang 6
thanh tra. Trong Hiến pháp năm 1980 thì thuật ngữ thanh tra được sử dụng và xác
định đó là chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước.
Đến Hiến pháp năm 1992, khái niệm thanh tra, kiểm tra được thể hiện rõ tại các
Điều 112, 115, 116, và 124. Tại Pháp lệnh Thanh tra năm 1990, hoạt động thanh tra
của các tổ chức Thanh tra một lần nữa khẳng định đó là chức năng thiết yếu của cơ
quan quản lý nhà nước. Sau khi Luật Thanh tra năm 2004 ra đời đã làm rõ hơn nội
dung bao hàm của thuật ngữ thanh tra, kiểm tra cũng như về vị trí, vai trò, chức năng,
Trong quá trình sắp xếp kiện toàn tổ chức, đảm bảo nguyên tắc thanh tra có tính
độc lập tương đối nhưng phải gắn liền với quản lý, Luật Thanh tra quy định rõ về tính
hệ thống của các cơ quan Thanh tra. Mức độ quan hệ giữa các cơ quan Thanh tra nhà
nước, đảm bảo sự thống nhất trong chỉ đạo về mặt công tác, tổ chức, nghiệp vụ thanh
tra giữa Thanh tra cấp trên với cấp dưới.
Theo quy định tại Luật Thanh tra, các cơ quan Thanh tra nhà nước có cơ cấu tổ
chức như sau:
Tổ chức các cơ quan Thanh tra theo cấp hành chính gồm:
- Thanh tra Chính phủ
- Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
- Thanh tra quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
Trong đó Thanh tra Chính phủ là cơ quan của Chính phủ, chịu trách nhiệm
trước Chính phủ thực hiện việc quản lý nhà nước về công tác thanh tra và thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước. Cơ cấu tổ chức của
Thanh tra Chính phủ có Tổng thanh tra, Phó tổng thanh tra và Thanh tra viên. Tổng
thanh tra là thành viên Chính phủ, do Thủ tướng Chính phủ đề nghị Quốc hội phê
chuẩn và Chủ tịch bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, chịu trách nhiệm trước Quốc hội
và Thủ tướng Chính phủ về công tác thanh tra.
Thanh tra tỉnh là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, có trách nhiệm
giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước về công tác thanh tra và thực hiện nhiệm vụ, quyền
Sinh viªn thùc hiÖn: NguyÔn TrÝ ThuÇn Gi¶ng viªn híng dÉn: ThS. Mai Nguyªn Thanh
C«ng t¸c gi¶i quyÕt khiÕu n¹i, tè c¸o...
Trang 8
hạn về thanh tra hành chính trong phạm vi quản lý nhà nước của UBND cấp tỉnh.
Thanh tra tỉnh có Chánh thanh tra, Phó chánh thanh tra và Thanh tra viên. Chánh
thanh tra tỉnh do Chủ tịch UBND cùng cấp bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi
thống nhất với Tổng thanh tra.
Thanh tra huyện là cơ quan chuyên môn của UBND cấp huyện, có trách
nhiệm giúp UBND huyện quản lý nhà nước về công tác thanh tra và thực hiện nhiệm
thời tổ chức bộ máy của các cơ quan Thanh tra được kiện toàn trên cơ sở thu gọn đầu
mối, khắc phục tình trạng chồng chéo, bảo đảm sự quản lý tập trung thống nhất về tổ
chức và hoạt động thanh tra, phù hợp với nội dung, đối tượng, phạm vi của các loại
hình thanh tra, Luật Thanh tra đã có một bước đổi mới mạnh mẽ, triệt để về tổ chức
Thanh tra trong bối cảnh hiện nay.
Trên cơ sở xác định vị trí của các cơ quan Thanh tra nhà nước, phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn thanh tra của các cơ quan Thanh tra nhà nước phải phù hợp với sự phân
công, phân cấp của các cấp, các ngành. Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan Thanh
tra nhà nước được quy định trong Luật Thanh tra đã xác định cơ quan Thanh tra nhà
nước không chỉ là cơ quan có chức năng quản lý nhà nước như các cơ quan quản lý
nhà nước khác, mà còn là cơ quan có đặc thù xem xét, đánh giá việc thực hiện chính
sách, pháp luật và nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân do đó có những quy
định về nhiệm vụ, quyền hạn khác với cơ quan quản lý nhà nước.
Trên tinh thần kế thừa Pháp lệnh Thanh tra, Luật Khiếu nại, tố cáo, Pháp lệnh
phòng chống tham nhũng, Luật Thanh tra quy định đầy đủ hơn về nhiệm vụ, quyền
hạn của các cơ quan Thanh tra gồm:
- Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ
chức, cá nhân thuộc phạm vi thẩm quyền quản lý nhà nước cùng cấp.
- Thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định
của pháp luật.
- Thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa và chống tham nhũng theo quy
định của pháp luật.
Sinh viªn thùc hiÖn: NguyÔn TrÝ ThuÇn Gi¶ng viªn híng dÉn: ThS. Mai Nguyªn Thanh
C«ng t¸c gi¶i quyÕt khiÕu n¹i, tè c¸o...
Trang 10
- Giúp thủ trưởng cơ quan cùng cấp quản lý nhà nước về công tác thanh tra,
công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Về cơ cấu, tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan Thanh tra được quy
định từ Điều 13 đến Điều 29 trong Luật Thanh tra năm 2004.
hội khoá X, kỳ họp thứ 4 đã thông qua Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998. Quá trình
triển khai thực hiện cho thấy Luật Khiếu nại, tố cáo đã góp phần quan trọng vào việc
giải quyết có hiệu quả các khiếu nại, tố cáo của nhân dân. Hàng năm, các cơ quan
hành chính nhà nước tiếp nhận và giải quyết hàng trăm nghìn vụ việc khiếu nại, tố
cáo. Nhiều vụ việc phức tạp, tồn đọng lâu ngày đã được giải quyết dứt điểm. Các cấp,
các ngành nhận thức rõ hơn về ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác giải quyết
khiếu nại, tố cáo, từ đó có nhiều cố gắng, nỗ lực nâng cao hiệu quả công tác này. Trên
thực tế, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đã bảo vệ được các quyền, lợi ích hợp pháp
của công dân, góp phần bảo đảm an ninh trật tự và an toàn xã hội.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo vẫn
còn nhiều hạn chế, bất cập. Nhiều nơi số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo gia tăng,
thậm chí có nơi tình hình khiếu nại, tố cáo diễn biến hết sức phức tạp, làm ảnh hưởng
đến an ninh, trật tự tại địa phương. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do một số
Sinh viªn thùc hiÖn: NguyÔn TrÝ ThuÇn Gi¶ng viªn híng dÉn: ThS. Mai Nguyªn Thanh
C«ng t¸c gi¶i quyÕt khiÕu n¹i, tè c¸o...
Trang 13
nơi chính quyền cơ sở chưa quan tâm đúng mức tới công tác giải quyết khiếu nại, tố
cáo. Quá trình giải quyết còn tình trạng nể nang, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Một
số cán bộ, công chức còn thiếu tinh thần trách nhiệm, không thực hiện đúng quy định
của pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo. Một số người lợi dụng việc khiếu nại,
tố cáo để kéo dài thời gian, không chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo
đã có hiệu lực pháp luật. Chính sách, pháp luật trong một số lĩnh vực chưa đầy đủ,
đáng chú ý là một số quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo sau nhiều năm thực hiện đã
không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội, làm hạn chế hiệu quả
công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan, tổ chức và công dân. Để giải quyết
các vướng mắc đặt ra trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, nâng cao hiệu quả
việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan, tổ chức và công dân, ngày 15 tháng 6
năm 2004, Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Khiếu nại, tố cáo. Đây là lần sửa đổi tập trung vào thẩm quyền, trách
quan hành chính cấp trên thì không được khởi kiện tại Toà án.
Ngoài ra, với cơ chế giải quyết khiếu nại trên và việc quy định trình tự, thủ tục
còn quá nhiều tầng nấc đã dẫn đến tình trạng giải quyết bị kéo dài, không dứt điểm,
gây khó khăn cho cơ quan nhà nước và người khiếu nại, nhiều vụ việc không có điểm
dừng, các cơ quan hành chính bị quá tải về số lượng vụ việc khiếu nại, tố cáo, trong
khi Tòa án có rất ít vụ việc thụ lý giải quyết.
Để khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong công tác giải quyết khiếu nại, tố
cáo, đáp ứng các yêu cầu về khiếu kiện và giải quyết khiếu kiện hành chính của WTO
và BTA, nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thì việc sửa đổi, bổ
sung Luật Khiếu nại, tố cáo là hết sức cần thiết. Xuất phát từ yêu cầu khách quan đó,
ngày 29 tháng 11 năm 2005, kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và Luật chính thức có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 6 năm 2006.
2. Khái niệm khiếu nại, tố cáo và một số nội dung liên quan:
2.1. Khiếu nại:
Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ
tục do Luật Khiếu nại, tố cáo quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
Sinh viªn thùc hiÖn: NguyÔn TrÝ ThuÇn Gi¶ng viªn híng dÉn: ThS. Mai Nguyªn Thanh
C«ng t¸c gi¶i quyÕt khiÕu n¹i, tè c¸o...
Trang 15
quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật
cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật,
xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
2.2. Tố cáo:
Tố cáo là việc công dân theo thủ tục của Luật Khiếu nại, tố cáo quy định báo
cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của
bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
2.3. Một số khái niệm các nội dung liên quan:
Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của người có
thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo
quy định của pháp luật.
• Quyết định kỷ luật:
Quyết định kỷ luật là quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ quan, tổ
chức để áp dụng một trong các hình thức kỷ luật là khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc
lương, hạ ngạch, cách chức, buộc thôi việc đối với cán bộ, công chức thuộc quyền
quản lý của mình theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.
• Giải quyết khiếu nại:
Giải quyết khiếu nại là việc xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết của
người giải quyết khiếu nại.
• Quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng:
Quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng là quyết định có hiệu lực thi hành và
người khiếu nại không được quyền khiếu nại tiếp.
• Quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật:
Quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật bao gồm: quyết định giải
quyết khiếu nại cuối cùng; quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà trong thời hạn
do pháp luật quy định người khiếu nại đã không khiếu nại tiếp hoặc không khởi kiện
Sinh viªn thùc hiÖn: NguyÔn TrÝ ThuÇn Gi¶ng viªn híng dÉn: ThS. Mai Nguyªn Thanh