1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư vú (UTV) là bệnh thường gặp nhất trong các bệnh ung thư ở phụ nữ.
Theo hiệp hội ung thư Hoa Kỳ (American Cancer Sociation, ACS) cã khoảng
1,4 triệu trường hợp mắc ung thư vú mới trên toàn thế giới vào năm 2008 [41].
Và tại Hoa Kỳ, năm 2009 có 19.2370 trường hợp mắc mới và 40.170 trường hợp
tử vong do căn bệnh này [41].
Theo thống kê dịch học trong nước gần đây, UTV là loại ung thư thường
gặp nhất ở phụ nữ, ở Hà Nội 30/100.000 phụ nữ, TP Hồ Chí Minh là 20/100.000
phụ nữ [3]. Nguy cơ mắc UTV tăng dần theo lứa tuổi [8], [29]. Theo nghiên cứu
cũng cho thấy nguy cơ mắc ung thư tăng dần theo tuổi, tuổi 30-39 là 0,43%; tuổi
40-49 là 1,44%; tuổi 50-59 là 2,63%, 60-69 là 3,65% [41]. Thống kê trong bệnh
viện thì UTV chủ yếu tập trung ở độ tuổi 45-49 [8]. Các nghiên cứu cũng chủ
yếu chủ yếu tập trung vào các lứa tuổi này. Tuy nhiên ở những phụ nữ UTV cao
tuổi, những phụ nữ ở độ tuổi hậu mãn kinh cả ở những nước phát triển và các
nước đang phát triển thì việc được tiếp cận chẩn đoán với các chăm sóc y tế thấp
hơn so với nhóm phụ nữ trẻ tuổi [22], [23]. Do vậy đây cùng là yếu tố ảnh
hưởng đến kết quả điều trị.
Ngày nay, trong việc chẩn đoán và điều trị UTV nói chung đã đạt nhiều tiến
bộ lớn rất. Có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước đã chỉ ra
rằng các yếu tè: tuổi, kích thước u, số lượng hạch nách di căn, thể mô bệnh học,
độ mô học, tình trạng thụ thể nội tiết, tình trạng biểu lé Her-2/neu… là những
yếu tố quan trọng trong điều trị và tiên lượng bệnh [30], [24]. Điều trị ung thư
vú đòi hỏi sù phối hợp nhiều phương pháp: tại chỗ bằng phẫu thuật, xạ trị; điều
trị toàn thân bằng hóa chất, nội tiết, kháng thể đơn dòng [8]. Nhờ vậy, thời gian
sống của bệnh nhân UTV ngày càng được cải thiện, chất lượng cuộc sống của
bệnh nhân ngày càng nâng cao. Tuy nhiên việc điều trị nội tiết thường chỉ áp
dụng và có hiệu quả với những bệnh nhân có thụ thể nội tiết dương tính, ở
những bệnh nhân có thụ thể nội tiết âm tính thường không được tiÕp tục điều trị
bằng thô thể nội tiết hoặc điều trị thường có hiệu quả không cao [23], [35]
Trong khi đó, tình trạng bộc lé Her-2/neu quá mức cũng là một yếu tố quan
độ ăn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển UTV [13], [27]. Tỷ lệ mắc
UTV tăng theo tuổi, hiếm gặp ở lứa tuổi dưới 30, khi trên độ tuổi này tỷ lệ mắc
bệnh gia tăng một cách nhanh chóng [3], [14]. Tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi tăng từ
25/100.000 dân ở độ tuổi 30 - 34 lên đến 200/100.000 dân ở độ tuổi từ 45 - 49
[10]. Tuy nhiên, ở một số nước phát triển mặc dù tỷ lệ mắc gia tăng nhanh
chóng nhưng tỷ lệ chết vẫn giữ được ở mức độ ổn định nhờ nhận thức của người
bệnh, nhờ vào các tiến bộ trong sàng lọc phát hiện sớm và những thành tựu đạt
được trong điều trị, đặc biệt là điều trị hệ thống [10]. Tại Việt Nam, theo thống
kê giai đoạn 2001-2004, tỷ lệ mắc UTV ở các tỉnh phía Bắc là 19,6/100.000 dân,
đứng đầu các ung thư ở nữ và ở phía Nam, tỷ lệ này là 16,3/100.000 dân, đứng
thứ hai sau ung thư cổ tử cung [3].
1.1.2 Các yếu tố nguy cơ
• Yếu tè gia đình: những người có tiền sử gia đình như: mẹ, chị em gái,
con gái bị UTV thì có nguy cơ bị UTV cao gấp hai đến ba lần so với
người bình thường [37]. Phô nữ có mẹ UTV trước tuổi 40 nguy cơ
phát triển UTV tăng gấp 2 lần so với phụ nữ không có tiền sử gia đình
[27], [10].
• Yếu tố nội tiết: estrogen thúc đẩy sự phát triển và hoạt động tăng sinh
của hệ thống ống tuyến vú, làm tăng nguy cơ UTV do việc kích thích
sinh các tế bào chưa biệt hóa. Nồng độ estrogen nội sinh ở những phụ
nữ bị UTV cao hơn so với những người không bị ung thư. Việc sử
dụng hormon ngoại sinh như thuốc tránh thai cũng làm tăng nguy cơ
mắc UTV [21], [31].
4
• Tuổi: nguy cơ mắc UTV tăng lên theo tuổi. Hiếm gặp bệnh nhân UTV
ở tuổi 20 - 30. Tỷ lệ mắc UTV cao ở độ tuổi 45 - 49 [10]. UTV rất
hiếm gặp ở người trẻ tuổi, tại thời điểm được chẩn đoán chỉ khoảng
2,5% số bệnh nhân dưới 35 tuổi, 6,5% dưới 40 tuổi. Tại Việt Nam
Her-2/neu liên quan đến giảm tỷ lệ sống thêm [35], [24].
5
• Gen UTV: những loại gen có liên quan đến UTV là BRCA1 nằm trên
nhiễm sắc thể 17, BRCA2 nằm trên nhiễm sắc thể 13 đột biến những gen
này làm tăng nguy cơ mắc UTV [27].
1.2.2 Bệnh sử tự nhiên của UTV
Biểu hiện lâm sàng của UTV có đặc trưng là kéo dài và rất khác nhau giữa
các bệnh nhân. Người ta ước tính, từ khi tế bào chuyển biến ác tính đầu tiên đến
khi phát hiện được khối u có kích thước 1cm thì phải mất khoảng thời gian vài
năm. Chỉ một số Ýt bệnh nhân (<3%) ngay sau khi xuất hiện các triệu chứng,
bệnh tiến triển nhanh và tử vong trong vài tháng [32]. Green Wood, Bloom và
CS theo dõi những trường hợp UTV không điều trị, thấy thời gian sống thêm
trung bình kể từ khi chẩn đoán là 31 tháng, tỷ lệ sống thêm 3 năm là 40% và 5
năm là 18-20%, chỉ có 4% sống thêm 10 năm [10].
Giai đoạn tại chỗ: khối u nguyên phát xuất phát từ đơn vị tiểu thùy, ống
tuyến tận cùng của tuyến vú. Sau đó phát triển lan sang mô lân cận, xô đẩy tổ
chức tuyến vú bình thường. Xu hướng vượt khỏi mô tuyến vú xâm nhiễm mô
xung quanh đến các cấu trúc lân cận như da, làm co rót da, sần da cam, phù nề
da, đỏ và loét da. Khi chúng xâm nhiễm đến cân cơ ngực và thành ngực tạo
thành một khối cứng.
Giai đoạn lan tràn: khi tế bào u rời khỏi khối u nguyên phát sẽ theo mạng
bạch huyết nông để đến các chặng hạch nách rồi đi vào hệ tuần hoàn tĩnh mạch,
vào hệ hạch vú trong lan vào trung thất. Tế bào di căn xương của ung thư biểu
mô tuyến vú là loại tiêu xương hoặc tạo xương hoặc cả hai. Ung thư vú thường
lan tràn vượt ra ngoài vùng vú vào lúc chẩn đoán được bệnh, mặc dù không phát
hiện được sự lan tỏa này, đây là cơ sở đặt ra điều trị toàn thân [10].
1.3. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng UTV
1.3.1. Đặc điểm lâm sàng
Triệu chứng lâm sàng của UTV rất đa dạng.
căn tới hạch nách phá vỡ vỏ hạch, xâm lấn ra ngoài da, gây vỡ loét da
vùng nách. Đôi khi hạch nách sưng to là triệu chứng đầu tiên phát hiện
UTV.
• Đau vùng vú: thường UTV giai đoạn đầu không gây đau, đôi khi có thể bị
đau vùng vú, nhấm nhứt không thường xuyên.
• Biểu hiện UTV giai đoạn cuối: UTV giai đoạn cuối tại chỗ có thể xâm lấn
gây lở loét, hoại tử ra ngoài da gây chảy dịch, mùi hôi thối, xâm lấn thành
ngực gây đau nhiều. Có thể di căn hạch nách, hạch thượng đòn, xương,
não, phổi, gan gây gày sút, mệt mỏi, đau nhiều, khó thở, liệt
1.3.2 Đặc điểm cận lâm sàng
• Chẩn đoán tế bào học: tế bào học được làm từ những tổn thương loét ở
vú hay tiết dịch ở núm vú, khối u hay mảng cứng ở vú. Phương pháp
7
chọc rút bằng kim nhá trong chẩn đoán UTV là phương pháp đơn giản,
chính xác, thời gian nhanh, chi phí thấp và an toàn cho người bệnh. Bệnh
nhân sẽ có kết quả sau 30 phót mà không có biến chứng gì đáng kể. Đây
là xét nghiệm bắt buộc cho toàn bộ bệnh nhân UTV trước khi tiến hành
phẫu thuật.
o Sinh thiết kim (Core Biopsy): để chẩn đoán mô bệnh học, giúp xác
định hình ảnh mô bệnh học của tổn thương, tránh được việc lấy
mẫu không đảm bảo.
o Sinh thiết định vị: sử dụng nguyên tắc song song để xác định vị trí
tổn thương của tuyến vú trong không gian 3 chiều thông qua các
phim chụp từ nhiều phía khác nhau, hoặc dưới hướng dẫn của siêu
âm.
o Sinh thiết tức thì: cố định bệnh phẩm bằng đông lạnh tổ chức sau
đó cắt mỏng bằng máy, nhuộm và đọc kết quả trong vòng vài chục
phót.
o Sinh thiết mở: vẫn được coi là “tiêu chuẩn vàng” để khẳng định
T (U nguyên phát)
Tx: Không xác định được u nguyên phát.
T0: Không có dấu hiệu u nguyên phát.
Tis: Ung thư biểu mô tại chỗ: ung thư biểu mô ống tại chỗ; ung thư biểu mô tiểu
thuỳ tại chỗ hoặc bệnh Paget của núm vú nhưng không có u. tiÓu thuú t¹i
chç hoÆc bÖnh Paget cña nóm vó nhng kh«ng cã u.
T1: U có đường kính ≤ 2 cm.
T micro: U có đường kính ≤ 0,1 cm.
T 1a: 0,1 cm < U có đường kính ≤ 0,5 cm.
T 1b: 0,5 cm < U có đường kính ≤ 1 cm.
T 1c: 1 cm < U có đường kính ≤ 2 cm.
T2: 2 < đường kính u ≤ 5 cm.
T3: U có đường kính > 5 cm.
T4: U với mọi kích thước nhưng xâm lấn trực tiếp tới thành ngực hoặc da (thành
ngực bao gồm xương sườn, cơ liên sườn, cơ răng trước, không tính cơ ngực
lớn).
T4a: U xâm lấn tới thành ngực.
T4b: Thâm nhiễm sần da cam, loét da vú hoặc có nhiều u nhỏ dạng vệ tinh ở vú
cùng bên.
T4c: Bao gồm cả T4a và T4b.
9
T4d: UTV dạng viêm.
N (Hạch vùng theo lâm sàng).
Nx: Không xác định được hạch vùng.
N0: Không di căn hạch vùng.
N1: Di căn hạch nách cùng bên di động.
N2: Di căn hạch nách cùng bên nhưng hạch dính vào nhau hoặc dính vào mô
xung quanh hoặc lâm sàng có di căn hạch vú trong cùng bên nhưng không có di
căn hạch nách:
pN3b: di cn hch vỳ trong cựng bờn kốm theo di cn hch nỏch.
pN3c: di cn hch thng ũn cựng bờn.
M (Di cn xa)
Mx: Khụng xỏc nh c di cn xa thi im chn oỏn. Không xác
định đợc di căn xa ở thời điểm chẩn đoán.
M0: Khụng di cn xa. Không di căn xa.
M1: Di cn xa. Di căn xa.
Nhom Giai on
Giai on 0: TisN0M0 Tis N0 M0
Giai on I: T1N0M0 T1 N0 M0
Giai on IIA: T0,1N1M0; T2N0M0 T0,1 N1 M0; T2 N0 M0
Giai on IIB: T2N1M0; T3N0M0 T2 N1 M0; T3 N0 M0
Giai on IIIA: T0,1,2 N2M0; T3N1,2M0 T0,1,2 N2 M0; T3 N1,2
M0
Giai on IIIB: T4N0,1,2 M0 T4 N0,1,2 M0
Giai on IIIC: mi T N3M0 mọi T N3 M0
Giai on IV: mi T mi N M1 mọi T mọi N M1
1.4.3. Chn oỏn mụ hc v hoỏ mụ min dch
1.4.3.1. Phõn loi mụ hc
Phõn loi ca T chc Y t Th gii 1982 [20]
Khụng xõm nhp:
Ung th biu mụ ng ti ch
Ung th biu mụ tiu thu ti ch
Xõm nhp:
Ung th biu mụ ng xõm nhp
11
Ung thư biểu mô ống xâm nhập với thành phần nội ống trội
Ung thư biểu mô tiểu thuỳ xâm nhập
Ung thư biểu mô thể nhầy
12
mô tuyến vú có chứa một lượng ER có thể xác định được. Tần số các u có ER
dương tính và cường độ dương tính tăng với tuổi bệnh nhân, cả hai đạt tới mức
cao nhất ở những bệnh nhân mãn kinh [35], [37].
Her-2/neu.
HER-2/neu là thụ thể trên màng tế bào thuộc nhóm thụ thể của yếu tố tăng
trưởng biểu bì. Người ta tìm thấy 30%-50% UTV có bộc lé quá mức thụ thể yếu
tố phát triển biểu mô Her-2/neu, sự bộc lé quá mức yếu tố này còn gặp trong ở
một số loại ung thư khác như phổi, tiền liệt tuyến, đại trực tràng [31]. Sù bộc lé
quá mức hoặc khuyếch đại gen Her-2/neu có thể gây tăng sinh tế bào biểu mô.
Nhiều nghiên cứu đã đánh giá ý nghĩa của xét nghiệm hoá mô miễn dịch Her-
2/neu. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng những bệnh nhân có ER, PR âm tính thì
mức độ Her-2/neu biểu lé cao bất thường[35], [36]. Ngoài ra, Her-2/neu dương
tính còn liên quan đến sự kháng điều trị tamoxifen ở những bệnh nhân có ER
dương tính [37]. Một vài nghiên cứu còn ghi nhận những bệnh nhân có biểu hiện
quá mức với Her-2/neu thường nhạy với anthracyline [35], [40]. Her-2/neu
dương tính là yếu tố tiên lượng xấu làm giảm thời gian sống thêm [17],[20],
[21].
Ngoài những dấu Ên sinh học nói trên kỹ thuật hoá mô miễn dịch cũng đóng
vai trò quan trọng trong việc đánh giá các dấu Ên sinh học khác có ý nghĩa tiên
luợng trong điều trị ung thư biểu mô tuyến vú như Protein p53, Ki-67, PCNA
[20].
1.5. Điều trị UTV
Có thể nói điều trị UTV là sự phối hợp điển hình giữa các phương pháp điều
trị [17]. Ba phương pháp được áp dụng trong điều trị ung thư là phẫu thuật, tia
xạ và điều trị hệ thống (hoá chất, nội tiết).
Trên thực tÕ lâm sàng, lùa chọn phương pháp điều trị căn cứ vào nhiều yếu
tố bao gồm giai đoạn bệnh, thể mô học, ĐMH, tình trạng TTNT, Her-2/neu, tuổi
và một số yếu tố khác. Giai đoạn bệnh là yếu tố chính quyết định việc lùa chọn
phương pháp điều trị [3].
(fluorescence in situ hybridization) thì có thể kết hợp điều trị kháng thể đơn
dòng với hóa chất làm tăng thời gian sống thêm.
Điều trị UTV giai đoạn III trừ T3N1M0
Hầu hết các trường hợp này đều không mổ được và nên điều trị hóa chất tiền
phẫu có anthracycline làm giảm giai đoạn sau đó điều trị phẫu thuật sau. Nếu
trong lúc điều trị hóa chất trước mổ mà bệnh tiến triển thì cần xạ trị nhằm tăng
cường kiểm soát tại chỗ sau đó có thể điều trị toàn thân sau xạ trị.
Điều trị UTV giai đoạn IV
Đối với UTV di căn thì điều trị là nhằm mục đích kéo dài thời gian sống và
nâng cao chất lượng cuộc sống mà không phải điều trị khỏi hoàn toàn. Vì vậy
các phương pháp có độc tính thập nên được áp dụng như điều trị nội tiết. Bệnh
14
nhân có di căn xương thì dùng thêm các thuốc bisphosphonate cùng với hóa chất
và thuốc nội tiết.
Điều trị UTV tái phát, di căn
Bệnh nhân tái phát tại chỗ: lấy bỏ u tái phát và xạ trị tại chỗ (nếu chưa tia xạ
hoặc vẫn trong giới hạn liều an toàn). Nếu bệnh nhân đã được điều trị bảo tồn thì
phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú và xét điều trị bổ trợ toàn thân. Bệnh nhân tái phát di
căn xa thì điều trị như bệnh nhân giai đoạn IV.
Chương2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Gồm bệnh nhân UTV mãn kinh được chẩn đoán và điều trị triệt để tại bệnh
viện K từ năm 2002- 2005.
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
• Có hồ sơ lưu trữ đầy đủ thông tin cần thiết.
• Tất cả bệnh nhân nữ được chẩn đoán xác định là ung thư biểu mô tuyến vú
nguyên phát bằng mô bệnh học.
• Đã mãn kinh, hoặc đã cắt buồng trứng được 1 năm.
• Có xét nghiệm nhuộm hóa mô miễn dịch xác định ER, PR và thụ thể yếu tố
o Ranh giới khối u .
o Tính chất di động của khối u.
2.2.3.2. Nghiên cứu các đặc điểm cận lâm sàng
Mô bệnh học:.
o Thể giải phẫu bệnh và số lượng hạch nách di căn và xếp giai đoạn
theo UICC [10].
16
o Độ mô học: Phân ĐMH theo Scarff-Bloom-Richardson áp dụng cho
ung thư biểu mô ống xâm nhập. Độ I: Biệt hóa rõ
Độ II: Biệt hóa
Độ III: Biệt hóa kém
TT estrogen, progesterone : Phát hiện estrogen và progesterone bằng nhuộm hóa
mô miễn dịch [8]. Đánh giá trên tiêu bản bệnh phẩm sau mổ.
Her-2/neu : Âm tính : Không có tế bào bộc lé Her-2/neu.
o Dương tính yếu (+) : dưới 10% tế bào bộc lé Her-2/neu.
o Dương tính vừa (++) : trên 10% tế bào bộc lé Her-2/neu, mức độ bắt
mầu của tế bào u vừa phải.
o Dương tính mạnh (+++) : Trên 30% tế bào bộc lé Her-2/neu và có
mức độ bắt mầu tế bào u mạnh.
o Chỉ dương tính khi ++ và +++.
2.2.3.3. Các phương pháp điều trị.
• Phẫu thuật bảo tồn.
• Phẫu thuật cắt tuyến vú triệt căn.
• Điều trị hóa chất bổ trợ: khi có chỉ định.
• Điều trị tia xạ
• Các trường chiếu bao gồm:
o Trường chiếu vú:
o Trường chiếu hệ hạch thượng, hạ đòn, hố nách:
Tổng liều xạ: 45-50 Gy. Tăng liều tại giường khối u trong phẫu
phát hoặc di căn nếu tính STKB.
• Thời gian theo dõi được tính theo công thức:
Thời gian STTB (tháng) = (ngày có thông tin cuối cùng, ngày chết - ngày
phẫu thuật)/30,4.
Thời gian STKB (tháng) = (ngày có thông tin cuối cùng, ngày tái phát, di căn
- ngày phẫu thuật)/30,4.
18
Nếu đối tượng mất thông tin, thời gian nghiên cứu là số tháng tính từ ngày
thời điểm gốc nghiên cứu đến ngày cuối cùng.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
3.1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
3.1.1. Đặc điểm lâm sàng
19
3.1.1.1. Nhóm tuổi
Biểu đồ 3. 1: Phân bè theo tuổi bệnh nhân
Nhận xét: tuổi trung bình là 55,8. Bệnh nhân trẻ nhất là 44 tuổi, cao nhất là
74 tuổi.
Bảng 3.1: Thời gian từ khi phát hiện bệnh đến khi điều trị bệnh
Thời gian Số bệnh nhân Tỷ lệ %
Dưới 1 tháng 10 7,2
1-3 tháng 35 31,5
3-6 tháng 18 16,2
Trên 6 tháng 50 45,1
Nhận xét: đa số bệnh nhân được chẩn đoán trước chẩn đoán sớm dưới 1 năm
kể từ khi có triệu chứng đầu tiên (78,4%). Trong đó số bệnh nhân được chẩn
đoán sớm dưới 1 tháng chiếm tỷ lệ thấp (7,2%), chẩn đoán sau 6 tháng chiếm
(45%).
II 78 67,9
III 25 21,7
Nhận xét:
Chủ yếu gặp bệnh nhân ở giai đoạn II chiếm 67,9%, giai đoạn I,III chiếm tỷ
lệ thấp hơn (10,4% và 21,7%).
3.1.2. Đặc điểm cận lâm sàng
3.1.2.1. Giải phẫu bệnh mô bệnh học
Bảng 3.4: Phân bố mô bệnh học.
Loại mô bệnh học Số bệnh nhân Tỷ lệ %
UTBM ống xâm nhập 99 86,8
UTBM nhầy 1 0,8
21
UTBM ống xâm nhập có thành phần
nội ống
5 4,4
UTBM thể nhó 1 0,8
UTBM thể tủy 1 0,8
UTBM thể gai 1 0,8
UTBM thể thùy xâm lấn 6 5,6
Tổng sè 114 100,0
Nhận xét: UTBM ống xâm nhập là thể giải phẫu bệnh hay gặp nhất chiếm
86,8 % sè bệnh nhân.
Bảng 3.5: Phân bố độ mô học của bệnh nhân ung thư vú
Độ mô học Số bệnh nhân Tỷ lệ %
Độ I 10 9,9
Độ II 82 79,2
Độ III 9 10,9
Tổng sè 101 100
Nhận xét: trong số các bệnh nhân được xếp độ mô học thấy chiếm tỷ lệ cao
Her2/neu Total
ER
(-)
(-) (+)
39 16 55
(+)
70,9% 29,1%
53 7 60
88,3% 11,7%
PR
(-)
49 17 66
74,2% 25,8%
(+)
43 6 49
23
87,8 12,2%
Di
căn
hạch
Không
di căn
43 14 57
75,4% 24,6%
Di căn
hạch
49 7 56
87,5% 12,5%
(+) 24 (40,0) 24 (40,0) 12 (20,0)
PR (-) 34 (53,1) 13 (20,3) 17 (26,6)
0,063
(+) 23 (46,9) 19 (38,8) 7 (14,3)
Nhận xét:
Her-2/neu và giai đoạn hạch: tỷ lệ dương tính của giai đoạn pN0: 24,6%,
nhóm pN1, pN2-3: 12,5%. Nhóm không di căn hạch thì có tỷ lệ dương tính với
Her thấp hơn so với nhóm không di căn. Tuy nhiên không tìm thấy sự khác nhau
về tỷ lệ Her-2/neu dương tính có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm này với p =
0,202.
ER và giai đoạn hạch sau mổ: tỷ lệ dương tính của nhóm pN0: 42,1%, nhóm
có hạch di căn pN1, pN2, pN3: 62,1%. Nhóm có hạch di căn tỷ lệ dương tính
cao hơn hẳn nhóm không có hạch di căn với p = 0,011.
PR và giai đoạn hạch: tỷ lệ PR dương tính của nhóm không di căn hạch là
40,3%; nhóm có hạch di căn pN1, pN2-3: 46,4%. Có sự khác nhau về tỷ lệ
dương tính PR giữa các nhóm này, tuy nhiên không tím thấy có ý nghĩa thống kê
với p = 0,063.
3.2. Kết quả điều trị.
Nghiên cứu có 80 trường hợp có thông tin về sống thêm, chúng tôi thu được
kết quả sau:
3.2.1. Đặc điểm tái phát, di căn
Bảng 3.9: Đặc điểm di căn của bệnh nhân
vị trí di căn N tỷ lệ %
Phổi 5 23,8
Gan 4 19,0
Xương 4 19,0
buồng trứng 1 4,8
Khác 7 33,4
25