Đôi điều cần bàn lại về mối quan hệ
giữa Nguyễn Bỉnh Khiêm - Nguyễn Dữ -
Phùng Khắc Khoan 2. Trước hết, cần xác định lại năm sinh của Nguyễn Dữ.
Trên cơ sở tư liệu hiện còn, người đọc hôm nay chưa biết gì thêm về
Nguyễn Dữ ngoài những thông tin mà các cụ xưa như Hà Thiện Hán
trong Lời tựa sách Truyền kỳ mạn lục; Vũ Khâm Lân trong bài Phả ký ở
sách Đại Việt sử loại tiệp lục; rồi Vũ Phương Đề, Trần Tiến, Trần Trợ đã
viết tiếp trong sách của các vị. Đến Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục
và Toàn Việt thi lục; Bùi Huy Bích trong Hoàng Việt thi tuyển và Hoàng
Việt văn tuyển; Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí v.v
cũng có nhắc đến tiểu sử Nguyễn Dữ dù chỉ rất sơ lược.
Lời tựa Truyền kỳ mạn lục của Đại An Hà Thiện Hán viết năm 1547 là tư
liệu sớm nhất có ghi chép về Nguyễn Dữ như sau: “Lúc nhỏ rất chăm lối
học cử nghiệp, đọc rộng nhớ nhiều, lập chí ở việc lấy văn chương
truyền nghiệp nhà. Sau khi thi đậu Hương tiến, nhiều lần thi Hội trúng
Tam trường, từng được bổ Tri huyện Thanh Tuyền (Toàn). Mới được
một năm, ông từ quan về nuôi mẹ cho tròn đạo hiếu, đến mấy năm
không đặt chân đến chốn thị thành, thế rồi ông viết ra tập lục này để
ngụ ý” (23). Lời Tựa trên của Hà Thiện Hán đều có chép trong bản Cựu
biên năm 1712 và bản Tân biên năm 1763, năm 1774, tuy còn sơ lược
nhưng rất đáng tin cậy, bởi nó được viết lúc Nguyễn Dữ còn sống, và
tác giả bài tựa lại là người sống đồng thời với Nguyễn Dữ.
Còn đây là thông tin của cụ Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục: “Ông
người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, Hải Dương. Cha là Tường Phiêu,
đỗ Tiến sĩ khoa Bính Thìn (1496), làm quan Thượng thư bộ Hộ. Nguyễn
Ức đoán suy luận về năm sinh Nguyễn Dữ của nhà nghiên cứu M.
Tkachov, theo chúng tôi là có lý. Nếu quả đúng như thế thì Nguyễn Dữ
chỉ nhỏ hơn Nguyễn Bỉnh Khiêm khoảng 5 tuổi. Chúng tôi còn nghĩ rằng,
cũng có thể Nguyễn Dữ được sinh ra trước đó vài năm, tức trước khi cụ
Nguyễn Tường Phiêu thi đỗ Tiến sĩ dưới đời Hồng Đức Lê Thánh Tông
(1496). Vì ngày xưa, các cụ thường lập gia đình sớm, nhiều người có con
khi chưa đến 20 tuổi, mà gia đình Nguyễn Dữ là danh gia vọng tộc. Ông
còn là con trai cả của cụ Thượng thư Tiến sĩ Nguyễn Tường Phiêu
(Phiếu) đời Lê sơ.
3. Thứ đến, thử so sánh thời điểm hiển vinh, thi đỗ và làm quan của
Nguyễn Dữ và Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ở đây, chúng tôi xin lưu ý thêm,
Nguyễn Dữ đỗ Hương tiến (đúng ra phải là Hương cống) và Thi Hội
nhiều lần, đã trúng Tam trường dưới thời Lê sơ, cụ thể lúc này là các
đời Uy Mục (1505-1509), Tương Dực (1510-1516), Chiêu Tông (1516-
1522), Cung Hoàng (1522-1527); có thể ông đã từng làm quan một năm
và đã từ quan trước hoặc trong năm 1527 là năm Mạc Đăng Dung tiếm
ngôi. Điều đó có nghĩa là Nguyễn Dữ hiển đạt, thành danh trước
Nguyễn Bỉnh Khiêm ít ra cũng đến 10 hay hơn 10 năm, và lúc này
Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ là một nho sĩ bình dân, nghèo túng (thơ chữ
Hán của cụ có nói nhiều về cảnh bần hàn này). Vì tình thế bức bách,
Bạch Vân tiên sinh mãi đến năm 44 tuổi mới đi thi và đỗ đầu kỳ thi
Hương và năm sau, lúc 45 tuổi thi Hội rồi thi Đình, đỗ Trạng nguyên
năm 1535, bắt đầu nổi danh. Từ đó, cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm mới xuất
chính giúp nhà Mạc. Trong khi đó, tại thời điểm này thì Nguyễn Dữ từ
lâu đã là một ẩn sĩ nơi quê nhà hoặc nơi núi rừng Thanh Hoá, đang viết
dở hoặc đã hoàn thành bộ thiên cổ kỳ bút Truyền kỳ mạn lục!
Nếu như các thư tịch cũ cho rằng Nguyễn Dữ là học trò xuất sắc của
này mà lại cho theo học thầy đồ Nguyễn Bỉnh Khiêm chưa qua kinh
nghiệm trường thi, chưa nổi tiếng và cũng chưa đỗ đạt học vị gì vào lúc
này ? Đây là điều mà nhiều năm nay chúng tôi thường thắc mắc. Hơn
nữa, căn cứ vào những gì cụ Hà Thiện Hán trong lời Tựa Truyền kỳ mạn
lục và cụ Bảng nhãn Lê Quý Đôn viết trong Kiến văn tiểu lục thì có thể
suy luận thêm là Nguyễn Dữ có thể đỗ Hương cống trước năm 1520 hay
trong năm 1520, chứ khó có thể là sau năm này, vì sau đó cụ còn dự thi
Hội nhiều khoa (cứ cho nhiều tức là thi 2 khoa, thì cũng mất đến 6 năm
!) mới trúng Tam trường, ra làm quan một năm rồi từ quan trước năm
1527 hoặc trong năm 1527. Tất cả đều diễn ra vào thời Hậu Lê sơ, trước
khi họ Mạc cướp ngôi. Như vậy Nguyễn Dữ đã hiển vinh đỗ đạt (tuy
chưa phải là đại khoa) và làm quan trước Nguyễn Bỉnh Khiêm đến hơn
10 năm (Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ thi Hương năm 1534, đỗ thi Hội, thi
Đình năm 1535 dưới đời Mạc). Dĩ nhiên, chúng tôi rất biết chuyện thi
cử dưới thời phong kiến ở ta rất nhiêu khê và rắc rối nhưng có điều là
không kể tuổi tác, sĩ tử từ 14, 15 trở lên, nếu đủ học lực và trình độ,
trúng tuyển kỳ khảo hạch ở địa phương thì có đủ điều kiện dự thi
Hương; đỗ kỳ thi Hương thì năm sau được vào thi Hội; và trúng cách thi
Hội mới vào thi Đình (Điện thí).
Nhân đây, chúng tôi xin đính chính lại một chỗ nhầm lẫn của nhà
nghiên cứu Nguyễn Phạm Hùng trong bài viết Đoán định lại thân thế
Nguyễn Dữ và thời điểm sáng tác Truyền kỳ mạn lục (28), và thắc mắc
của Trần Ích Nguyên về học vị của Nguyễn Dữ trong Tiễn đăng tân thoại
dữ Truyền kỳ mạn lục tỷ giảo so sánh (29). Trong bài viết rất công phu
và có vài ý mới của Nguyễn Phạm Hùng mà chúng tôi rất thích thú,
nhưng tiếc là ở trang 126, mục 3 Những vấn đề đặt ra từ quan điểm của
các nhà khoa học nước ngoài, Nguyễn Phạm Hùng ghi: “Ông đỗ Hương
tiến (Cử nhân), thi Hội đỗ Tam trường (Tiến sĩ)…” (xin được in đậm để
nhấn mạnh). Chúng tôi nghĩ, học vị đỗ đạt kỳ thi Hương vào đời Trần -
thi Hội chỉ xếp Chánh và Thứ (phó) trúng cách thôi, chứ chưa xếp học vị.
Nguyễn Dữ chỉ trúng Tam trường, chưa qua được Tứ trường nên chưa
Trúng cách Hội thí. Ngày trước, thi Hương, thi Hội thường phải qua bốn
kỳ (bốn trường); trúng trường nhất mới vào trường nhì; trúng trường
nhì mới vào trường ba v.v cứ thế tiếp tục. Tên gọi Nhất trường, Nhị
trường, Tam trường …là để chỉ những sĩ tử đã thi trúng các trường ấy.
Còn nếu trúng cả 4 trường thì khảo quan cộng điểm theo ưu, bình, bình
thứ, thứ, thứ thứ mà xếp loại học vị thi đỗ; còn liệt là bị hỏng thi. Vì
hiểu nhầm như thế mà bài viết đi đến kết luận là “Vì thế việc chép
Nguyễn Dữ trúng Tam trường là không chính xác” (30). Chúng tôi nghĩ,
tác giả bài tạp chí đã vội vàng rút ra kết luận không chính xác thì có, chứ
các cụ Hà Thiện Hán, Vũ Khâm Lân, Vũ Phương Đề, Lê Quý Đôn đã chép
đúng và rất chính xác đấy (vì chúng tôi đã kiểm tra lại các trang 49, 50
của sách, ông Trần Ích Nguyên không viết câu kết luận trên).