Đôi điều cần bàn lại về mối quan hệ
giữa Nguyễn Bỉnh Khiêm - Nguyễn Dữ -
Phùng Khắc Khoan
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) là một nhân cách văn hoá lớn, một nhà
tư tuởng - triết học lớn, một đại thụ bao trùm bóng mát cả vườn cây
văn học Việt Nam thế kỷ XVI. Ông là người có khả năng “huyền cơ tham
tạo hoá” (nắm được cái lẽ huyền vi của tạo hoá) như La Sơn phu tử
Nguyễn Thiếp có ngợi ca; là “một bậc kỳ tài, hiền danh muôn thuở” như
Phan Huy Chú đã xưng tụng. Văn chương của ông “không cần điêu
luyện mà tự nhiên, giản dị mà rất lưu loát, thanh đạm mà có nhiều vị”
(…) “như gió mát trăng thanh, nghìn năm sau còn tưởng thấy” mà Vũ
Khâm Lân đã nhận định trong bài Phả ký; “thanh tao, tiêu sái, hồn hậu,
phong nhã, có ý thú tự nhiên” như Phan Huy Chú đã bình trong Văn tịch
chí ở sách Lịch triều hiến chương loại chí. Ông sống gần trọn thế kỷ XVI,
đã chứng kiến những cảnh tranh giành xâu xé giữa các tập đoàn phong
kiến bấy giờ, hết Lê - Mạc rồi Trịnh - Nguyễn. Nếu trừ khoảng 8 năm
ông ra làm quan cho nhà Mạc tại triều đình trung ương thì thời gian còn
lại ông đều sống ở quê nhà (44 năm trước khi xuất chính và 44 năm sau
khi cáo quan về vườn), nhờ thế mà ông có dịp gần gũi nhân dân, thấu
hiểu dân tình khốn khổ trong cảnh binh đao. Đây cũng là một trong
những yếu tố hình thành tư tưởng thân dân của Tuyết Giang phu tử,
với tấm lòng ưu thời mẫn thế, tiên ưu hậu lạc đến già vẫn không nguôi,
đúng như Vũ Khâm Lân đã viết: “Tuy ở nhà 44 năm mà không ngày nào
quên đời, lòng ưu thời mến tục đều bộc lộ trong thơ” (Phả ký). Ông
sống trên đất nhà Mạc, giữa thời chiến tranh tao loạn, vậy mà vẫn đứng
vững như cây tùng, cây bách trong giá rét mùa đông; giữa những bão
táp biến động của thời thế. Không chỉ thế mà lúc bấy giờ các tập đoàn
phong kiến Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn đều nể vì, kính ngưỡng ông; họ trực
tiếp hoặc gián tiếp bằng cách phái những thủ túc thân cận đến cầu kiến
ông, xin những lời mách bảo của ông về thời cuộc. Bao trùm lên cuộc
có cái cốt lõi sự thật lịch sử, nhưng dù sao cũng vẫn là truyền thuyết, là
giai thoại, khó có sức thuyết phục vì thiếu tính khoa học.
Nhưng nếu không có nó thì các nhân vật lịch sử của ta ít nhiều sẽ mất đi
vẻ uy linh, đẹp đẽ mà người đời qua bao thế hệ từng ngưỡng vọng và
thêu dệt nên. Tài liệu xưa nhất hiện còn đã đề cập đến mối quan hệ anh
em này giữa Trạng Trình và Trạng Bùng là bản gia phả họ Phùng ở
Phùng Xá, Thạch Thất, Sơn Tây, mang tên Ký lục tiên tổ sự tích, hiện để
tại nhà thờ Phùng Khắc Khoan ở Phùng Xá. Bản phả ký này do tằng tôn
(chắt nội - tức cháu 3 đời, vậy người này gọi cụ Trạng Bùng bằng cố, tức
tằng tổ). Điều đó có nghĩa là có thể người chắc nội trên đã theo lời
truyền của gia tộc và trong dân gian mà ghi lại ?; và một văn bản nữa có
nhan đề là Mai Lĩnh hầu thành mẫu chí truyện (Truyện ông Mai Lĩnh
hầu hoàn thành chí nguyện của mẹ). Truyện này do người đời sau chép
lại (không rõ người chép), được đóng chung trong sách Danh gia thi
truyện tập (Tập thơ và truyện các nhà nổi tiếng), trong đó còn có chép
Ngôn chí thi tập của Phùng tiên sinh. Sách Danh gia thi truyện tập được
hoàn thành vào tháng giêng năm Giáp Dần (tức 1854) dưới triều vua Tự
Đức (1847-1871), ký hiệu VHv.2163. Nội dung truyện ghi lại (xin được
lược dịch) như sau: …Khi thân phụ Phùng Khắc Khoan ở Từ Sơn, có gặp
một thiếu phụ từ Hải Dương đến (…) lông mày lá liễu, sắc mặt hơi buồn
(…) bà đi cùng đường với ông, được chừng một dặm, ông thấy bà nhàn
rỗi như đi dạo, bèn trò chuyện, hỏi han. Thấy ông có phúc tướng, bà
mới bộc bạch nỗi lòng. Ông rơi lệ cảm động. Hai người kết nghĩa vợ
chồng (…) Qua năm sau, sinh được con trai có tướng lạ, mới năm sáu
tuổi mà đã có khí vũ của bậc trượng phu. Bà mừng rỡ bảo ông nên dạy
cho nó học, nếu trời xanh không phụ, may gặp thời phò được thiên hạ
nghiêng đổ thì chí thiếp mãn nguyện…(1). Theo lời dân Phùng Xá mà
các nhà nghiên cứu sau này ghi lại thì người thiếu phụ Hải Dương ấy
chính là bà họ Nhữ, mẹ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, tuy lời truyền, giai
- Trần Lê Sáng trong Phùng Khắc Khoan cuộc đời - thơ văn (viết xong
1984), ở chương 2, mục II Gia thế, ông đã dành 20 trang (51-70) viết về
Phùng Khắc Khoan. Sau khi nêu những băn khoăn, thắc mắc và nói
nhiều năm thực tế điền dã cùng trưng ra nhiều tư liệu dẫn chứng về
mối quan hệ (là anh em, không phải là anh em), nêu chủ kiến của ông
để phản biện những ý kiến không công nhận mối quan hệ anh em giữa
hai cụ Trạng, cuối cùng nhà nghiên cứu tuy không tuyên bố rõ nhưng
người đọc vẫn nhận ra là tác giả cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm là anh trai
cùng mẹ khác cha với Phùng Khắc Khoan: “Dĩ nhiên, những chuyện ấy
được kể ra đều có gốc gác, chúng có nét thực, chúng tôi cũng tin,
nhưng dù sao vẫn muốn được thuyết minh rõ hơn. Có điều nếu chúng
ta tin những truyền thuyết ấy, tại sao chúng ta lại không tin những
truyền thuyết khác? Vì mẹ đẻ của Phùng Khắc Khoan, rõ ràng không chỉ
nhắc đến trong một vài truyền thuyết mà được nhắc đến trong nhiều
truyền thuyết khác ở các nơi xa nhau, thậm chí còn được ghi vào văn
bản, tại sao ở trường hợp này, chúng ta lại gạt hết không tin (7).
Trong các bộ văn học sử ở ta cũng như trong các bộ giáo trình lịch sử
văn học của hai trường ĐHSP HN và ĐHTH HN (nay là ĐHKHXH và NV –
ĐHQG HN), tuy các tác giả không đề cập đến mối quan hệ trên, nhưng
khi giảng dạy trên giảng đường về Nguyễn Bỉnh Khiêm và Phùng Khắc
Khoan, chính tác giả - vị giáo sư lão thành và khả kính của các thế hệ
sinh viên Ngữ văn chúng tôi, cũng đã có nêu ra mối quan hệ anh em
trên của hai vị Trạng.
Trên đây là những gì người xưa và các nhà nghiên cứu ở thế kỷ XX đã
khẳng định về mối quan hệ anh em giữa Trạng Trình và Trạng Bùng.
Tiếp theo đây là ý kiến của chúng tôi về vấn đề trên.
Khiêm đã căn cứ vào câu “Bà (tức Nhữ Thị Thục, mẹ của Nguyễn Bỉnh
Khiêm) vẫn không nguôi giận, bỏ về ở bên cha mẹ đẻ, cách ít lâu sau thì
mất” trong bài Phả ký của Vũ Khâm Lân “Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn
công Văn Đạt phả ký” (Phả ký về Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn Văn Đạt)
mà khẳng định mẹ cụ Trạng trình không phải là mẹ cụ Trạng Bùng (9).
Ở đây, Nguyễn Quân, Trần Lê Sáng và một số nhà nghiên cứu khác,
trong số đó có cả học giả nước ngoài như Trần Ích Nguyên ở Đại học
Trung Chính, Đài Bắc, trong sách Tiễn đăng tân thoại dữ Truyền kỳ mạn
lục tỷ giảo so sánh (10) v.v đều đã nhầm bài văn này là của Thuần Phủ
Vũ Phương Đề trong Công dư tiệp ký. Bởi khi viết sách Công dư tiệp ký
vào năm 1755 niên hiệu Cảnh Hưng thứ 16, đời vua Lê Hiển Tông (theo
lời Tựa), thì cụ Vũ Phương Đề đã chép lại toàn văn bài Phả ký trên của
Vũ Khâm Lân vào sách của ông.