Bài tập lớn môn Kinh tế vĩ mô Chính sách tài khóa - Pdf 19

Bài tập lớn kinh tế vĩ mô Chính sách tài khoá
Lời mở đầu
Năm 1995, Việt Nam gia nhập tổ chức ASEAN, năm 2006 gia nhập tổ
chức thương mại thế giới WTO. Điều này đặt ra cho đất nước những cơ hội
lớn đồng thời đi kèm là những thách thức cần vựơt qua để hội nhập và phát
triển cùng với nền kinh tế thương mại thế giới.
Việt Nam tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa từ một đất nước nghèo
vừa thoát khỏi chiến tranh, nền kinh tế lạc hậu, cơ sở vật chất thiếu thốn.
Đã có giai đoạn vấp phải những sai lầm do chủ quan nóng vội đưa kinh tế
đất nước xuống mức suy yếu và trì trệ nghiêm trọng. Đảng và Nhà nước đã
kịp thời nhận ra những khuyết điểm sai lầm, tìm con đường đổi mới để khôi
phục kinh tế.
Thực tế đã khẳng định Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành quả do đổi
mới mang lại thể hiện ở tốc độ tăng trưởng kinh tế và quan trọng hơn sự
phát triển đó là vì mục tiêu con người. Tuy nhiên làm thế nào để giữ cho sự
phát triển đó được nhanh, bền vững, ổn định? Đó là câu hỏi được đặt ra
không phải chỉ đối với các nhà hoạch định kinh tế mà đó là trách nhiệm của
mỗi công dân, đặc biệt hơn là với sinh viên - thế hệ trẻ và là tương lai của
đất nước.
Việc học tập nghiên cứu kinh tế học là việc cần thiết quan trọng trang
bị cho sinh viên những lý thuyết cơ bản về tình hình kinh tế của đất nước nói
riêng và thế giớ nói chung. Kinh tế học vĩ mô là bộ phận quan trọng trong
phân ngành kinh tế học với những lý thuyết về các chính sách thu nhập,
chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ… mà đất nước đã học tập và áp dụng
trong thời kỳ xây dựng kinh tế những năm qua.
Thế hệ trẻ, đặc biệt là một sinh viên khoa kinh tế cần nhận thức rõ
được tình hình kinh tế của đất nước, học tập và nắm vững những kiến thức
cơ bản để tương lai trở thành một nhà hoạch định kinh tế có tầm nhìn và
kiến thức sâu rộng để góp phần xây dựng đất nước.
Nguyễn Thị Ngọc Anh
1

tế vĩ mô. Hoạt động của hộp đen như thế nào sẽ quyết định chất lượng của các
biến đầu ra. Hai lực lượng quyết định sự hoạt động của hộp đen kinh tế vĩ mô là
tổng cung và tổng cầu.
+ Tổng cung bao gồm tổng khối lượng sản phẩm quốc dân mà các doanh
nghiệp sẽ sản xuất và bán ra trong một thời kỳ tương ứng với giá cả, khả năng
sản xuất và chi phí sản xuất đã cho. Tổng cung liên quan đến khái niệm sản
lượng tiềm năng. Đó là sản lượng tối đa mà nền kinh tế có thể sản xuất ra trong
điều kiện toàn dụng nhân công, mà không gây nên lạm phát. Sản lượng tiềm
năng phụ thuộc vào việc sử dụng các yếu tố của sản xuất, đặc biệt là lao động.
+ Tổng cầu là tổng khối lượng hàng hoá và dịch vụ ( tổng sản phẩm quốc
dân ) mà các tác nhân trong nền kinh tế sẽ sử dụng tương ứng với mức giá cả,
thu nhập và các biến số kinh tế khác đã cho.
Nguyễn Thị Ngọc Anh
2
KTB 49 - ĐH1
Bài tập lớn kinh tế vĩ mô Chính sách tài khoá
• Mục tiêu và công cụ trong kinh tế vĩ mô:
- Mục tiêu
+ Mục tiêu sản lượng:
Đạt đựợc sản lượng thực tế cao, tương ứng với mức sản lượng tiềm
năng
Tốc độ tăng trưởng cao và bền vững
+ Mục tiêu việc làm
Tạo được nhiều việc làm tốt
Hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp
+ Mục tiêu ổn định giá cả
Hạ thấp và kiểm soát được lạm phát trong điều kiện thị trường tự do.
+ Mục tiêu kinh tế đối ngoại:
Ổn định tỷ giá hối đoái
Cân bằng cán cân thanh toán quốc tế

Bài tập lớn kinh tế vĩ mô Chính sách tài khoá
+Sản lượng
-Mục tiêu:
+Ngắn hạn: ổn định nền kinh tế
+Dài hạn : hướng nền kinh tế đến sự phát triển lâu dài
* Chính sách tiền tệ: tác động đến đầu tư tư nhân, hướng nền kinh tế tới mức
sản lượng và việc làm mong muốn
-Công cụ:
+Mức cung tiền (MS)
+Lãi suất (i)
-Đối tượng:
+Tác động đến đầu tư (I)
+Chi tiêu của hộ gia đình (C)
+Tiết kiệm (S)
+Tỷ giá hối đoái (e)
-Mục tiêu (giống chính sách tài khoá)
* Chính sách thu nhập: bao gồm các biện pháp mà chính phủ sử dụng nhằm
tác động trực tiếp đến tiền công, giá cả và để kiềm chế lạm phát
-Công cụ:
+Tiền lương danh nghĩa (Wn)
-Đối tượng:
+Chi tiêu của các hộ gia đình (C)
+Tổng cung ngắn hạn
-Mục tiêu:
+Kiềm chế lạm phát
* Chính sách kinh tế đối ngoại: Nhằm ổn định tỷ giá hối đoái, giữ cho thâm hụt
cán cân thanh toán quốc tế ở mức có thể chấp nhận được
-Công cụ:
+Thuế quan
+Hạn ngạch

nguyên nhân quan trọng là đã sử dụng tốt hơn lực lượng lao động. Như vậy tăng
trưởng nhanh thì thất nghiệp có xu hướng giảm đi
- Tăng trưởng và lạm phát
Sự kiện lịch sử của nhiều nước cho thấy những thời kỳ kinh tế phát đạt,
tăng trưởng cao thì lạm phát có xu hướng tăng lên và ngược lại. Song mối quan
hệ giữa tăng trưởng và lạm phát như thế nào, đâu là nguyên nhân, đâu là kết
quả? Vấn đề này kinh tế vĩ mô chưa có câu trả lời rõ ràng.
- Lạm phát và thất nghiệp
Các nhà kinh tế cho rằng, trong thời kỳ ngắn thì lạm phát càng cao,
thất nghiệp càng giảm. Trong thời kỳ dài chưa có cơ sở nói rằng lạm phát và thất
nghiệp có mối quan hệ “ trao đổi”. Trong thời kỳ dài tỷ lệ thất nghiệp phụ thuộc
một cách cơ bản vào tỷ lẹ lạm phát trong suốt thời gian đó
Trong điều kiện nước ta, quá trình chuyển đổi kinh tế chưa hoàn tất, các
yếu tố thị trường còn non yếu và chưa phát triển đồng bộ, Nhà nước đóng vai trò
quan trọng trong việc quản lý và điều tiết nền kinh tế.
Vì vậy khi nghiên cứu những mối quan hệ này trong điều kiện nước ta
cần chú ý những đặc điểm trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, tránh rập khuôn
máy móc.
1. 2. Vị trí của môn học trong chương trình học đại học
Kinh tế học vĩ mô là một trong hai bộ phận hợp thành kinh tế học
Trong chương trình học đại học kinh tế học vĩ mô có vai trò quan trọng trong
việc tiếp tục bổ sung cho kinh tế học vi mô, đồng thời trang bị cho sinh viên tầm
nhìn kinh tế sâu rộng hơn trên phạm vi tổng thể nền kinh tế quốc gia với vai trò
của một nhà hoạch định kinh tế cho đất nước.
Vì vậy, việc học tập và nghiên cứu kinh tế vĩ mô là cần thiết với tất cả
sinh viên nói chung, đặc biệt hơn là đối với sinh viên học kinh tế, để có một kiến
thức và tầm nhìn tổng quát về kinh tế trong điều kiện kinh tế hội nhập hiện nay.
Nguyễn Thị Ngọc Anh
5
KTB 49 - ĐH1

nhập thấp,người ta phải chi tiêu nhiều hơn cho các nhu cầu thiết yếu như:
ăn,mặc,ở.Cùng với mức tăng lên của thu nhập,tỷ lệ thu nhập chi cho bữa ăn tăng
lên rất nhanh,trong khi tỷ lệ nhà ở thì tương đối ổn định.
Quan trọng hơn là các kết luận về cách thức tiêu dùng.Nhiều nghiên cứu đưa
ra giả thiết rằng người tiêu dùng quyết định chi tiêu của mình có xét đến những
điều kiện kinh tế lâu dài.Nói cách khác,người ta tiêu dùng dựa trên dự tính của
họ về khả năng thu nhập lâu dài,thương là thu nhập trong suốt thời gian dài hoặc
thu nhập có được trong cả cuộc đời.
Hàm tiêu dùng biểu thị mối quan hệ giữ tổng tiêu dùng và tổng thu nhập,
hàm này được xây dựng bằng phương pháp thống kê số lớn.Đố là một dạng hàm
hồi qua.Trong trường hợp đơn giản nhất,hàm tiêu dùng có dạng :
Nguyễn Thị Ngọc Anh
6
KTB 49 - ĐH1
Bài tập lớn kinh tế vĩ mô Chính sách tài khoá
C =
C
+ MPC.Y
Trong đó:
Y - Thu nhập (trong nền kinh tế giản đơn,thu nhập bằng thu nhập có thể
sử dụng đươc Y=YD).
- Tiêu dùng không phụ thuộc vào thu nhập (có thể coi là mức tiêu dùng
tối thiểu).
MPC - Xu hướng tiêu dùng cận biên
0 < MPC < 1
Xu hướng tiêu dùng cận biên biểu thị mối quan hệ giữ sự gia tăng của tiêu
dùng với sự gia tăng của thu nhập.Xu hương tiêu dùng cận biên nói lên rằng,nếu
thu nhập tăng bao nhiêu lần một đơn vị thì tiêu dùng tăng lên là bao nhiêu.
MPC =
Đồ thị hàm tiêu dùng mô tả trong hình 4.1.a.Trong hình 4.1.1,đương phân


O Y
s
S = + MSC.Y Hình 4.1.b

o Y

1.2 Hàm đầu tư
Bây giờ chúng ta chuyển sang nghiên cứu về đầu tư - thành phần quan trọng
thứ hai của tổng cầu hay tổng chỉ tiêu.
Đầu tư là bộ phận lớn và hay thay đổi trong tổng chi tiêu.Đầu tư có hai vai
trò trong kinh tế vĩ mô.Thứ nhất,vì là bộ phận lớn và hay thay dổi chủ chi
tiêu,nên những thay đổi thất thường về đầu tư co ảnh hương lớn đến sản lượng
và thu nhập về mặt ngắn hạn.Thứ hai,đầu tư dẫn đến tích lũy cơ bản,co tác dụng
mở rộng năng lực sản xuất.Vì thế,về mặt dài hạn,đầu tư làm tăng sản lượng tiềm
năng,thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Vì các hãng kinh doanh dự kiến đầu tư đê mong đợi thu vê được lợi nhuận
lớn hơn trong tương lai,do vậy cầu về đầu tư phụ thuộc rất lớn vào ba yếu tố
sau:
- Mức cầu về sản phẩm do đầu tư sẽ tạo ra.Nói cách khác,đó là mức cầu về
sản lương (GNP).Nếu mức cầu về sản phẩm càng lớn,thì dự kiến đầu tư của
các hãng sẽ càng cao và ngược lại.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí đầu tư.Trong nền kinh tế thị trường, các
doanh nghiệp thường vay vốn ngân hàng hoặc các trung gian tài chính để đầu
tư,nên chi phí đầu tư phụ thuộc nhiều vào lãi suất.Nếu lai suất cao,chi phí đầu tư
sẽ cao,lợi nhuận sẽ giảm,cầu về đầu tư dó đó cũng sẽ giảm.Thuế cũng là yếu tố
quan trọng trong ảnh hưởng đến đầu tư.Nếu thuế đánh vào lợi tức mà cao,sẽ hạn
chế số lương và quy mô các dự án đầu tư.Vì vậy,ở một số nước,người ta áp dụng
chính sách thuế đặc biêt cho các sản phẩm của đầu tư mới,nhằm khuyến khích
các hãng đầu tư cho sản phẩm mới.

Tiếp theo,vấn đề đặt ra là,với tổng cầu được xác định như trên,nền kinh tế sẽ
cân bằng tại điểm nào ?
Hãy nhớ lại giả định ban đầu của chúng ta là các doanh nghiệp có thể và sẵn
sàng đáp ứng mọi nhu cầu của nên kinh tế.Lúc này,sản lượng cân bằng sẽ phụ
thuộc vào tổng cầu.Nếu tổng cầu giảm đi,các doanh nghiệp không thể bán hết
sản phẩm mà họ sản xuất ra.Hàng hóa tồn kho không dự kiến sẽ chất đống.
Ngược lại,khi tổng cầu tăng lên,họ phải tung hàng hóa dự trữ ra bán.Hàng tồn
kho giảm xuống dưới mức dự kiến.Vi vậy,khí giá cả và tiền công cố định,thị
trường hàng hóa và dịch vụ sẽ đạt trạng thái cân bằng ngắn hạn,khi tổng cầu
hoặc tổng chi tiêu dự kiến đúng bằng sản lượng thực tế sản xuất ra trong nên
kinh tế.
Ở trạng thái cân bằng ngắn hạn,lượng hàng tồn kho không dự kiến sẽ bằng
không.Dự kiến chi tiêu không bị phá vỡ do thiếu hàng hóa.Ngược lại các doanh
nghiệp cũng không sản xuất nhiều hơn mức có thể bán được.Muốn cho thị
trường hàng hóa và dịch vụ cân bằng,sản lượng sản xuất trong nền kinh tế phải
bằng tổng cầu :
Y = AD
Hay Y = (
C
+
I

) + MPC.Y
Suy ra :
Y
0
= (
C
+
I

Y
0
= m(
C
+
I

)
Trong biểu thức trên,m gọi là số nhân chi tiêu.Số nhân chi tiêu cho biết sản
lượng sẽ thay đổi bao nhiêu khi có thay đổi mỗi đơn vị trong mức chi tiêu không
phụ thuộc vào thu nhập.
Thật vậy,nếu
C

hoặc
I

hoặc cả hai tăng lên một đơn vị,thì sản lượng cân
bằng Y
0
sẽ tăng lên m đơn vị.Vì MPC là một sô nhỏ hơn 1,lớn hơn 0,nên m luôn
lớn hơn 1.Độ lớn của m phụ thuộc vào MPC hoặc MPS.Kết quả là,những thay
đổi nhỏ trong tiêu dùng và đầu tư sẽ được số nhân m khuếch đại lên nhiều lần.
Chính nhờ tác dụng khuếch đại này,số nhân chi tiêu có một ý nghĩa quan trọng
trong kinh tế học.
2.Tổng cầu trong nền kinh tế đóng,có sự tham gia của Chính phủ.
2.1. Chi tiêu của Chính phủ và tổng cầu
Khi Chính phủ mua sắm hàng hóa và dịch vụ,tổng cầu của nền kinh tế sẽ
tăng lên.Lúc này tổng cầu sẽ bằng :
AD = C + I +G

Y
0
= (
C
+
I
+
G
)
Hay : Y
0
= m . (
C
+
I
+
G
)
Thực ra trong nền kinh tế,khi tiêu dùng và đầu tư của một hộ gia đình và các
hãng kinh doanh không thay đổi,thì một thay đổi nhỏ trong chi tiêu Chính phủ
có thể dẫn đến một thay đổi lớn trong sản lương do tác động của số nhân chi tiêu
2.2 Thuế và tổng cầu.
Khi Chính phủ thu thuế,thu nhập có thể sử dụng của dân cư giảm,do vậy họ
sẽ quyết định tiêu dùng ít đi.Tuy nhiên,Chính phủ còn tiến hành các trợ cấp Xã
hội như trợ cấp thất nghiệp,hưu trí…và do đó bổ sung vào quỹ tiêu dùng cộng
sản thể sử dụng của dân cư
Trong mô hình này,ta coi thuế là một đại lượng ròng:
T = TA - TR
Trong đó : T - Thuế ròng
TA - Thuế

T
+ (
C
+
I
+
G
)
Nếu thay : m
t
= - và m = ta có :
Y
0
= m
t
.
T
+ m. (
C
+
I
+
G
)
Trong đó : m
t
- Số nhân về thuế
M - Số nhân chi tiêu
* Chú ý :
Nguyễn Thị Ngọc Anh

+
G
)
Ta có :
Đặt m’ = : số nhân chi tiêu trong nền kinh tế đóng
Suy ra :
Y = m’(
C
+
I
+
G
)
45
0 AD = C + I
AD E’ AD = C + I + G
E
Y
0
Y’
0
Y
3. Tổng cầu trong nền kinh tế mở.
Trong mô hình tổng cầu này,chúng ta mở rộng đến khu vực ngoại thương,
tức là khu vực xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ.
Cán cân thương mại là giá trị xuất khẩu ròng.Khi xuất khẩu lớn hơn nhập
khẩu,nền kinh tế có thặng dư cán cân thương mại,khi nhập khẩu vượt xuất
khẩu,nền kinh tế bị thâm hụt cán cân thương mại.
Nguyễn Thị Ngọc Anh
12

AD=C+I+G+X AD = C + I
XGIC
+++
AD=C+I+G
GIC
++
C
+
I
0 Y
1
Y
2
Y
Nguyễn Thị Ngọc Anh
13
KTB 49 - ĐH1
Bài tập lớn kinh tế vĩ mô Chính sách tài khoá
- Xác định sản lương cân bằng dựa vào điều kiên cân bằng trên thị trường
hàng hóa :
Y = AD
Ta có
Y = (
XGIC
+++
)
Đặt
m’’ =
ta co m’’ : Số nhân chi tiêu trong nền kinh tế mở
m > m’ > m’’

Bài tập lớn kinh tế vĩ mô Chính sách tài khoá
định,chu kỳ kinh doanh chưa đựoc khắc phục hoàn toàn.Trứơc khi nghiên cứu
những vấn đề áp dụng chính sách tài khoá trong thực tiễn,hãy xem xét một cơ
chế đặc biệt của chính sách này, đó là cơ chế ổn định tự động.
Hệ thống tài chính hiện đại có những yếu tố tự ổn định mạnh mẽ. Đó là :
a. Những thay đổi tự động về thuế.Hệ thống thuế hiện đại bao gồm thuế
thu nhập luỹ tiến với thu nhập cá nhân và lợi nhuận của doanh nghiệp.khi thu
nhập quốc dân tăng lên.số thu về thuế tăng theo và ngựoc lại,khi thu nhập
giảm,thuế giảm ngay,mặc dù Quốc hội chưa kịp điều chỉnh thuế suất.Vì
vậy,hệ thống thuế có vai trò như là một bộ tự ổn định tự động nhanh và
mạnh.
b. Hệ thống bảo hiểm,bao gồm bảo hiểm thất nghiệp và các chuyển
khoản mang tính chất xã hội khác.Hệ thống này hoạt động khá nhạy cảm.
Khi mất việc hay thất nghiệp thì ngưòi thất nghiệp đựơc nhận trợ
cấp.khi có việc làm thì họ bị cắt tiền trợ cấp đi.Như vậy,hệ thống bảo hiểm
bơm tiền vào và rút tiền ra khỏi nền kinh tế.Ngựơc lại,chiều hướng của chu
kỳ kinh doanh,góp phần ổn định hệ thống kinh tế.
Tuy nhiên,những nhân tố ổn định tự động chỉ có tác dụng làm giảm một
phần các giao động của nền kinh tế,mà không xoá bỏ hoàn toàn những giao
động đó.Phần còn lại đặt lên vai các chính sách tài chính và tiền tệ chủ động
của Chính phủ.
2. Chính sách tài khoá và vấn đề thâm hụt ngân sách.
Chính sách tài khoá thường thể hiện trong quá triình lập.phê chuẩn,và
thực hiện ngân sách Nhà nước.Thật vậy,chi tiêu chính phủ về hàng hoá và
dịch vụ là bộ phận chính của chi ngân sách,cũng như thuế là nguồn chủ yếu
của thu ngân sách.Ngân sách của các quốc gia trên thế giới luôn phải đương
đầu với vấn dề thâm hụt ngân sách.
a. Khái niệm về thâm hụt ngân sách.
Ngân sách Nhà nước là tổng các kế hoạch chi tiêu và thu nhập hàng năm của
chính phủ,bao gồm khoản thu (chủ yếu từ thuế),các khoản chi ngân sách.

hợp nếu nền kinh tế hoạt động o mức sản lượng tiềm năng.
(3) Thâm hụt ngân sách chu kỳ: Đó là thâm hụt ngân sách bị động do
tình trạng của chu kỳ kinh doanh.
Thâm hụt chu kỳ bằng hiệu số giữa thâm hụt thực tế và thâm hụt cơ cấu.
Trong 3 loại thâm hụt trên, thâm hụt cơ cấu phản ánh kếtqủa hoạt động
chủ quan củ chính sách tài khoá như: định ra thuế suất phúc lợi, bảo hiểm… Vì
vậy, để đánh giá kết quả chính sách tài khoá phải sử dụng thâm hụt cơ cấu.
b.Chính sách tài khoá cùng chiều và chính sách tài khoá ngược chiều
Hàm ngân sách đơn giản có dạng như sau:
B=-G + tY
Trong đó: B - Cán cân ngân sách
G - Chi tiêu ngân sách
tY – thu ngân sách
Nếu Chính phủ thiết lập một chích sách thu chi ngân sách sao cho tại mức
sản lượng tiềm năng thì ngân sách là cân bằng.Ta có:
B = -G + tY=0
Hay tY=G
Như vậy, với bất kỳ mức thu nhập hay sản lượng nào nhỏ hơn sản lượng tiềm
năng,ngân sách sẽ thâm hụt.Ngược lại,với bất kỳ mức thu nhập hay sản lượng
nào lớn hơn sản lượng tiềm năng,ngân sách sẽ thặng dư.Chỉ tại điểm sản lượng
tiềm năng,ngân sách sẽ cân bằng.
Nếu mục tiêu của Chính phủ là luôn đạt được ngân sách cân bằng dù sản
lượng có thể thay đổi thế nào cũng được,thì chính sách đó gọi là chính sách tài
khoá cùng chiều.Lúc đó khi nền kinh tế suy thoái,ngân sách thâm hụt.Chính phủ
phải giảm chi tiêu,hoặc sử dụng cả hai biện pháp,ngân sách sẽ trở nên cân bằng.
Nguyễn Thị Ngọc Anh
16
KTB 49 - ĐH1
Bài tập lớn kinh tế vĩ mô Chính sách tài khoá
Đổi lại,chi tiêu của nền kinh tế sẽ giảm đi,sản lượngg cũng sẽ giảm theo,suy

Khi các biện pháp tăng thu và giảm chi không giải quyết được toàn bộ
thâm hụt,các Chính phủ phải sử dụng các biện pháp tài trợ cho thâm hụt.
Có 4 biện pháp tài trợ sau:
+Vay nợ trong nước(vay dân)
+Vay nợ nước ngoài
+Sử dụng dự trữ ngoại tệ
+Vay ngân hàng(in tiền)
Mỗi biện pháp đều có thể gây nên những ảnh hưởng phụ đến nền kinh
tế.Nghệ thuật quản lý vĩ mô là phải làm sao hạn chế và trung hoà các ảnh hưởng
này,làm cho chúng không gây nên những tác động xấu đến các mục tiêu kinh tế
vĩ mô.
Nguyễn Thị Ngọc Anh
17
KTB 49 - ĐH1
Bài tập lớn kinh tế vĩ mô Chính sách tài khoá
***********************************
Từ những cơ sở lý thuyết cùng sự nhận thức về vai trò của tài chính trong
nền kinh tế thị trường,Chính phủ ta đã vận dụng và đã có những thành tựu
đáng khích lệ trong công cuộc đổi mới hệ thống tài chính.
Nhất là sau khi nước ta gia nhập WTO,chính sách tài khoá của nước ta có
những chuyển biến phù hợp.
Đặc biệt là thời kỳ 2007-2008-thời kỳ ngay sau khi gia nhập WTO vào năm
2006.
Chương II : Đánh giá việc thực hiện chính sách tài khóa của Việt
Nam thời kỳ 2007-2008.
I. Nhận xét chung tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam.
1.1 Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2007.
Bước vào năm 2007 chúng ta có thuận lợi cơ bản là sau hơn 20 năm đổi
mới thế và lực của nền kinh tế nước ta cũng như những kinh nghiệm tổ chức,
quản lý và điều hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đều đã

Bên cạnh các kết quả tích cực đã đạt được trong năm 2007, nền kinh tế
cũng đang đứng trước những yếu kém và khó khăn.
(1) Chất lượng tăng trưởng và hiệu quả sản xuất kinh doanh vẫn còn hạn
chế, sức cạnh tranh của hàng hoá dịch vụ thấp, trong khi phải mở cửa theo lộ
trình đã cam kết làm cho cán cân thương mại mất cân đối lớn, nhập siêu cao.
(2) Tiến độ thực hiện và giải ngân vốn chậm, nhất là vốn trái phiếu Chính
phủ, công tác quản lý chất lượng xây dựng, giám sát thi công công trình còn yếu
kém, gây thiệt hại, lãng phí về vốn và mất an toàn cho người lao động. Khả năng
hấp thụ vốn của nền kinh tế chưa cao.
(3) Giá tiêu dùng tăng nhanh, nhất là giá lương thực, thực phẩm đang tác
động tiêu cực đến sản xuất và đời sống, đặc biệt là đời sống bộ phận dân cư
vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số có thu nhập thấp.
(4) Một số vấn đề xã hội chậm được cải thiện như vệ sinh an toàn thực
phẩm, ùn tắc giao thông, tai nạn giao thông cần được quan tâm giải quyết
đồng bộ và dứt điểm.
Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 07/2007/QH12 của Quốc hội khoá
XII về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2008 và phấn đấu hoàn thành về
cơ bản một số chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 2006-2010 vào năm 2008,
chúng ta cần phải đề ra các giải pháp đồng bộ, thiết thực nhằm huy động tối đa
các nguồn lực, phát huy tính năng động, sáng tạo của toàn xã hội, khắc phục có
hiệu quả những yếu kém nêu trên và biến thời cơ, thuận lợi thành sức mạnh để
tiếp tục phát triển nhanh và bền vững.
1.2 Tình hình kinh tế - xã hôi Viêt Nam 2008.
Nguyễn Thị Ngọc Anh
19
KTB 49 - ĐH1
Bài tập lớn kinh tế vĩ mô Chính sách tài khoá
Tình hình kinh tế-xã hội nước ta năm 2008 diễn ra trong bối cảnh tình hình
thế giới và trong nước có nhiều biến động phức tạp, khó lường. Giá dầu thô và
giá nhiều loại nguyên liệu, hàng hoá khác trên thị trường thế giới tăng mạnh

20
KTB 49 - ĐH1
Bài tập lớn kinh tế vĩ mô Chính sách tài khoá
với thực tế. Vì vậy, lạm phát đã được kiềm chế; xuất khẩu ổn định; nhập siêu
chuyển biến tích cực; thu ngân sách nhà nước tiếp tục tăng; thu hút đầu tư nước
ngoài phát triển tốt; sản xuất nông nghiệp đạt kết quả cao; đời sống dân cư ổn
định.
Tuy nhiên, những kết quả đạt được trong năm qua chưa thật vững chắc,
cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm; cân đối vĩ mô chưa hợp lý; đời sống dân cư
chưa được cải thiện nhiều, giá cả tăng và đứng ở mức cao nên đời sống bộ phận
dân cư thu nhập thấp, vùng sâu, vùng xa, vùng thiên tai đang gặp nhiều khó
khăn.
Nền kinh tế nước ta đang phát triển nhanh theo hướng mở, do đó dễ bị tác
động trong điều kiện khủng hoảng tài chính thế giới hiện chưa kết thúc. Để vượt
qua được những khó khăn và thách thức, trong quá trình thực hiện kế hoạch phát
triển kinh tế-xã hội năm 2009, cần thực hiện có hiệu quả một số vấn đề quan
trọng sau đây:
Một là, các cấp, các ngành phải khẩn trương tập trung mọi nỗ lực,
chủ động thực hiện đồng bộ và có hiệu quả 5 nhóm giải pháp trọng tâm của
Chính phủ nhằm ngăn chặn sự suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo
đảm an sinh xã hội trên cơ sở đề ra những giải pháp cụ thể liên quan đến hoạt
động của từng ngành, lĩnh vực.
Hai là, có sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa các Bộ, Ngành
liên quan khi thực hiện các giải pháp nhằm tạo sự thống nhất, linh hoạt trong chỉ
đạo điều hành.
Ba là, cần có chiến lược và giải pháp để các doanh nghiệp Việt Nam
cạnh tranh thắng lợi trên thị trường trong nước. Cần củng cố hệ thống phân phối,
khắc phục các điểm yếu của hệ thống này để đối phó với việc mở cửa dịch vụ
phân phối cho các doanh nghiệp nước ngoài bắt đầu từ 01/01/2009.
Bốn là, tăng cường khả năng dự báo, đánh giá tình hình để đối phó kịp

công cụ chính sách tài khoá này.Bên cạnh đó,việc gia nhập WTO có tác động
sâu rộng cả tích cực lẫn tiêu cực tới nền kinh tế,chính vì vậy trên quan điểm
quản lý Nhà nước,việc điều chỉnh chính sách tài khoá là cần thiết để thực hiện
các cam kết,tối đa hoá các lợi ích mà quy chế WTO mang lại(động cơ hiệu
quả),giảm thiểu những phí tổn có thể phát sinh nhất là hỗ trợ những nhóm đố
tượng dễ bị tổn thương trong quá trình hội nhập(động cơ công bằng Xã hội).
Dẫu rằng khi thực thi cam kết của WTO,một số khoản trợ cấp từ NSNN sẽ
bị giảm một cách trực tiếp(chẳng hạn.giảm trợ cấp xuất khẩu,trợ cấp cho các
doanh nghiệp nhà nước),một số khoản thu thuế nội địa tăng;tuy nhiên,do nguồn
thu ngân sách của việt Nam trong những năm gần đây chưa bền vững(như thu
nội địa còn nhỏ,thu NSNN còn phụ thuộc vào thu từ xuất khẩu dầu thô,tỷ trọng
thuế trực thu tăng chậm,thu thuế từ nhập khẩu có tỷ trọng trong tổng thu thuế
còn tương đối cao và có xu hướng giảm)
Chính vì vậy,mục tiêu chính sách tài khoá trong thời kỳ 2007-2008 là sự
điều chỉnh các công cụ chính sách tài khoá(chủ yếu là chính sách thuế,thuế
quan(thu NSNN),trợ cấp(chi NSNN)) đảm bảo nguồn ngân sách Nhà nước được
bền vững,nâng cao năng lực của các ngành hàng,thúc đẩy xuất khẩu tăng trưởng
kinh tế giảm thiểu tác động tiêu cực của việc gia nhập WTO.Các mục tiêu cụ thể
như sau:
1. Để đảm bảo tối thiểu hoá thất thu NSNN từ thuế nhập khẩu,xây
dựng mức cắt giảm thuế quan thực tế hợp lý trên cơ sở tính đến
lợi ích tổng thể quốc gia với linh động cần thiết để bảo hộ một
cách hữu hiệu một số ngành hàng có thể bị tổn thương và có
tiềm năng phát triển.
2. Thực hiện việc cắt bỏ các hàng rào thuế thương mại và các công
cụ thuế khác hướng phát triển các nguồn thu NSNN để bù đắp sj
giảm sút có thể có trong thu từ nhập khẩu,thực hiện cắt giảm và
điều chỉnh có hiệu quả các loại thuế để giảm chi NSNN góp
phần kiểm soát mức thâm hụt NSNN ở mức an toàn.Trong chi
Nguyễn Thị Ngọc Anh

năm: (I+IV+V)
281,900 323,000
I
Thu thường xuyên:
(II+III)
263,557 301,849
II Thu thuế 251,213 287,369
1 Thuế thu nhập doanh nghiệp 98,965 108,121
2 Thuế thu nhập cá nhân 6,119 8,135
3 Thuế nhà đất 584 698
4 Thuế môn bài 772 861
5 Lệ phí trước bạ 3,750 5,194
6
Thuế chuyển quyền sử dụng
đất
1,249 1,974
Nguyễn Thị Ngọc Anh
23
KTB 49 - ĐH1
Bài tập lớn kinh tế vĩ mô Chính sách tài khoá
7 Thuế giá trị gia tăng (VAT) 78,929 96,670
8
Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng
sản xuất trong nước
17,110 19,875
9 Thuế tài nguyên 19,854 19,559
10
Thuế sử dụng đất nông
nghiệp
81 82

1 Chi quản lý hành chính 24,800 28,438
2 Chi sự nghiệp kinh tế 16,330 19,532
3 Chi sự nghiệp xã hội 97,290 115,678
Chia ra:
Nguyễn Thị Ngọc Anh
24
KTB 49 - ĐH1
Bài tập lớn kinh tế vĩ mô Chính sách tài khoá
3.1 Chi giáo dục 38,060 43,518
3.2 Đào tạo 9,220 10,542
3.3 Chi Y tế 14,660 16,643
3.4 Chi khoa học công nghệ 3,580 3,827
3.5 Chi văn hoá thông tin 2,250 2,440
3.6 Chi phát thanh truyền hình 1,310 1,420
3.7 Chi thể dục thể thao 820 880
3.8
Chi dân số và kế hoạch hoá
gia đình
590 615
3.9
Chi lương hưu và đảm bảo xã
hội
26,800 35,793
4 Chi quốc phòng 23,630 29,800
5
Chi an ninh, trật tự - an toàn
xã hội
11,000 13,780
6 Chi trả nợ lãi 11,711 15,450
7 Chi cải cách tiền lương 24,600 28,400


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status