U máu ở trẻ em - Pdf 19

U máu ở trẻ em

U máu là khối u lành tính bẩm sinh phổ biến nhất ở trẻ em - đó là loại u lành tính
của tế bào nội mạc lát thành mạch máu. Loại u này xuất hiện lúc mới sinh và có
đặc tính phát triển rất nhanh ở trẻ nhũ nhi. Ngược lại, u dị dạng mạch máu cũng
xuất hiện lúc mới sinh nhưng phát triển chậm hơn và tồn tại tới tuổi trưởng thành.
U máu có thể xuất hiện ở mọi nơi trên cơ thể như: da, đầu, mặt, cổ, mắt, vòm,
miệng, họng, ngực, chân, tay, nội tạng như gan, thận… Chính vì thế bệnh nhân có
thể tới khám ở các chuyên khoa khác nhau như da liễu, răng-hàm-mặt, tai-mũi-
họng, ngoại khoa,…
Phân loại U máu:
- U tế bào nội mạc mạch máu: U xuất hiện lúc mới sinh, phát triển rất nhanh,
khoảng 25% có hiện tượng thoái triển lúc 5 -7 tuổi. Tỉ lệ trẻ gái cao hơn trẻ trai từ
3-5 lần.
- U dị dạng mạch máu như: U dị dạng động mạch, tĩnh mạch hay u bạch mạch tồn
tại và phát triển đến tuổi trưởng thành.
Cơ chế bệnh sinh (theo Dans de Angelis 007)
- Loại u tế bào nội mạc: Có sự tăng sinh tế bào nội mạc lát thành mạch máu, các tế
bào nội mạc mới tạo thành các ống mạch máu mới, u phát triển nhanh.
- Loại u dị dạng mạch máu: Các tế bào nội mạc mạch máu không tăng sinh, không
tạo thành các ống mạch máu mới, loại u này phát triển từ từ tới tuổi trưởng thành.
Nguyên nhân
Có một số giả thuyết được đưa ra:
- Do di truyền: Từ cha mẹ sang con cái có nguy cơ 50/50 số lần mang thai. Bố
hoặc mẹ có u máu đã thoái triển nhưng đứa con bị u máu nặng hơn.
- Do rối loạn hoocmon
- Do rối loạn miễn dịch
- Bất thường về mạch máu
- Do ảnh hưởng của hoá chất hay các chất độc hại khác.
- Do cha mẹ bị nhiễm khuẩn hay nhiễm virut trong thời kỳ mang thai.
- Sau chấn thương.

Điều trị
Có nhiều phương pháp điều trị khác nhau. Tuy nhiên việc áp dụng phương pháp
điều trị nào còn tuỳ thuộc vào từng thể bệnh, từng vị trí khác nhau đòi hỏi bác sĩ
có những sự lựa chọn phương pháp điều trị sao cho đạt được các yêu cầu:
- Khỏi bệnh
- Không gây tác hại tới sự phát triển của cơ thể
- Thẩm mỹ.
Điều trị u máu tế bào nội mạc mạch máu
Steroid đường uống: liều lượng 2mg/kg/ngày dùng liên tục trong 4 tuần (giảm liều
sau từng tuần). Uống 1 tháng, nghỉ 15 ngày lại uống tiếp 1 tháng. Cần theo dõi
diễn biến toàn thân của trẻ vì khi dùng Steroid kéo dài vì có thể gây các biến
chứng: bộ mặt Cushing, thay đổi tính cách, nấm miệng, chậm phát triển tinh thần,
đái tháo đường, tăng huyết áp.
Đặc biệt, theo nghiên cứu của Dans de Angelis 2001 cho thấy tỉ lệ u máu điều trị
liệu pháp steroid chỉ đáp ứng khoảng 30%.
Tiêm xơ: Phương pháp này rất có hiệu quả đối với loại u máu tế bào nội mạc mạch
máu
Thuốc sử dụng: Scleremo hoặc trombovard 1%, 3% (thuốc của Pháp)
Việc tiến hành tiêm xơ phải bác sĩ có kinh nghiệm thực hiện, đặc biệt vùng đầu,
mặt, cổ.
Sử dụng interferon a-2b (Heberon): theo nghiên cứu của Juan Manuel Marquer –
Pediatric University hospital Lahabana – Cu Ba điều trị u máu cho trẻ em từ 1,5
tháng – 14 tuổi thì tỷ lệ thoái triển của trẻ 1- 5 tuổi đạt tỉ lệ cao.
- Cách sử dụng: liều 3 triệu đơn vị (3MUI)/ngày (pha thuốc với 1ml nước cất),
tiêm dưới da hàng ngày liên tục trong 6 tháng,
- Thời gian sử dụng: ít nhất trong 6 tháng
- Tác dụng phụ: chủ yếu là sốt trong 1-2 ngày đầu dùng thuốc. Theo dõi diễn biến
tiếp theo, cần phải kịp thời xử trí các triệu chứng như nôn, sốt, biếng ăn … trao đổi
với các đồng nghiệp có kinh nghiệm trong quá trình sử dụng thuốc.
Điều trị bằng phẫu thuật: tuỳ theo từng thể bệnh, vị trí hay mức độ khu trú của

17/07/2007 tại khoa Răng – Hàm - Mặt - bệnh viện Nhi Trung ương.
- Kết quả khám lại (tháng 10/2008): không có hiện tượng sụp mi, thể lực hoàn
toàn bình thường
Trường hợp 2:
Bệnh nhân Lê Mai P sinh ngày 27/10/2007 ở Đông Anh – Hà Nội. Bệnh nhân bị u máu vùng tuyến mang tai phải, u ngày càng phát triển to và lan
rộng toàn bộ vùng mang tai phải, góc hàm phải. Bệnh nhân đã được điều trị tiêm
xơ, nút mạch tại bệnh viện Nhi trung ương, u nhỏ hơn nhưng sau đó 1 tháng u lại
phát triển to nhanh. Mật độ u mềm, căng, có cảm giác nóng hơn so với vùng mang
tai trái, không có cảm giác “rung miu”. Tháng 10/2008 bệnh nhân đã được điều trị
bằng interferon a - 2b (Heberon - CuBa sản xuất), sau 02 tháng điều trị, bệnh nhân
đáp ứng tốt, u thoái triển (u nhỏ đi, mật độ mềm, da hết nóng.) Bệnh nhân tiếp tục
được sử dụng Interferon a - 2b thêm 1 tháng nữa để u thoái triển hoàn toàn.
- Nhận xét kết quả điều trị: điều trị u máu vùng tuyến mang tai với interferon a -
2b đem lại kết quả tốt, phẫu thuật cắt u vùng này rất khó khăn vì dễ bị tổn thương
dây thần kinh VII gây liệt mặt.
BSCKII. Nguyễn Nguyệt Nhã
– Liên khoa Tai Mũi Họng - Mắt – Răng Hàm Mặt
Bệnh viện Nhi Trung Ương.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status