1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe của phụ nữ và trẻ em là những vấn đề quan tâm hàng đầu của
các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Phụ nữ là cốt lõi của sự phát
triển kinh tế xã hội. Sức khỏe và cuộc sống của phụ nữ có ý nghĩa quan trọng
đối với gia đình, bản thân và cộng đồng. Hơn thế nữa, đời sống và sức khỏe
phụ nữ là yếu tố cơ bản và có ảnh hưởng trực tiếp tới thế hệ tương lai [4].
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Đảng và Nhà nước ta
đã có nhiều chính sách ưu tiên nhằm nâng cao đời sống cho đồng bào các dân
tộc sống ở vùng sâu, vùng xa cũng như đẩy mạnh sự phát triển của miền núi.
Trong đó, sức khoẻ của phụ nữ người dân tộc càng là vấn đề đáng quan tâm
trong chiến lược chăm sóc sức khoẻ nhân dân khu vực miền núi, dân tộc ít
người. Chăm sóc sức khoẻ cho phụ nữ đến nay đã đạt được nhiều thành tựu
rất quan trọng, nhiều chỉ số cơ bản liên quan đến chăm sóc sức khoẻ sinh sản
đã đạt và vượt mục tiêu đề ra [9], [11], [13], [24]. Tuy nhiên, thực tế cho thấy
sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội của khu vực miền núi vẫn còn thấp
hơn rất nhiều so với các khu vực khác của cả nước [12], [24], [65], [66]. Mức
sống thấp, trình độ dân trí chưa được nâng cao, hệ thống giao thông đi lại khó
khăn, điều kiện chăm sóc y tế còn thiếu thốn là những vấn đề đang đòi hỏi
cần phải có sự đầu tư hơn nữa của Chính phủ cho các dân tộc sống ở những
vùng khó khăn này, trong đó có tỉnh Bắc Kạn.
Bắc Kạn là một tỉnh miền núi, vùng cao. Theo niên giám thống kê 2009
[8], Bắc Kạn có 295.296 người. Trên địa bàn tỉnh có 23 dân tộc, đông nhất là
dân tộc Tày chiếm 54,3%; dân tộc Kinh chiếm 13,3%; dân tộc Dao chiếm
16,5%; dân tộc Nùng (5,4%) và các dân tộc khác.
Huyện Bạch Thông là một trong những huyện mang đầy đủ những nét
đặc trưng của tỉnh Bắc Kạn. Huyện Bạch Thông gồm 1 thị trấn và 16 xã. Tại
đây, người Dao sống tập trung ở một số xã vùng cao như: xã Đôn Phong,
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Định nghĩa văn hóa
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác
nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Do
vị trí của văn hoá trong đời sống nên văn hoá đã được nhiều người quan tâm
nghiên cứu và đưa ra hàng trăm định nghĩa về văn hoá [3], [40], [44], [47].
Văn hóa trong tiếng Hán được hiểu là những hình xăm trên cơ thể, qua
đó người khác nhìn vào để nhận biết và phân biệt mình với người khác, biểu
thị sự quy nhập vào thần linh và các lực lượng bí ẩn của thiên nhiên, chiếm
lĩnh quyền lực siêu nhiên.
Theo ngôn ngữ của phương Tây, từ tương ứng với văn hóa của tiếng
Việt (culture trong tiếng Anh và tiếng Pháp, kultur trong tiếng Đức, ) có
nguồn gốc từ các dạng của động từ Latin colere là colo, colui, cultus với hai
nghĩa: (1) giữ gìn, chăm sóc, tạo dựng trong trồng trọt; (2) cầu cúng.
Trong cuộc sống hàng ngày, văn hóa thường được hiểu là văn học, nghệ
thuật như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh Các “trung tâm văn hóa” có ở
khắp nơi chính là cách hiểu này. Một cách hiểu thông thường khác: văn hóa là
cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử và cả đức tin, tri
thức Vì thế chúng ta nói một người nào đó là văn hóa cao, có văn hóa, văn
hóa thấp hoặc vô văn hóa.
Trong nhân loại học và xã hội học, khái niệm văn hóa được đề cập đến theo
một nghĩa rộng nhất. Văn hóa bao gồm tất cả mọi thứ vốn là một bộ phận trong
đời sống con người. Văn hóa không chỉ là những gì liên quan đến tinh thần mà
bao gồm cả vật chất.
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau [40]:
1.1.3. Khái niệm dân tộc, quốc gia dân tộc, dân tộc thiểu số
Trong tiếng Việt cũng như trong ngôn ngữ của nhiều dân tộc trên thế
giới, thuật ngữ dân tộc và thuật ngữ Quốc gia dân tộc chỉ rõ hai khái niệm,
hai phạm trù riêng biệt. Quốc gia dân tộc mang tính lãnh thổ, chính trị, Nhà
nước; còn dân tộc lại mang tính lịch sử cộng đồng ngôn ngữ, văn hóa tự nhiên.
Một quốc gia có thể có một hay nhiều dân tộc sinh sống. Trái lại, một dân tộc
cũng có thể phân bố trên lãnh thổ nhiều quốc gia [79]. 5
Việt Nam là một nước có nhiều dân tộc. Theo từ điển tiếng Việt, dân tộc
được định nghĩa: “Cộng đồng người hình thành trong lịch sử có chung một
lãnh thổ, các quan hệ kinh tế, một ngôn ngữ văn học và một số đặc trưng văn
hoá và tính cách” [74].
Thuật ngữ dân tộc thiểu số, dân tộc ít người, dân tộc dân số ít là dựa trên
sự so sánh tỷ lệ dân số của từng dân tộc trong mỗi nước để gọi. Ở Việt Nam,
tộc người Việt (dân tộc Kinh) chiếm 82,6% dân số cả nước. Trừ dân tộc Kinh,
các dân tộc còn lại được coi là dân tộc thiểu số.
1.1.4. Một số thuật ngữ khác
Dịch vụ [81]: Dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa
nhưng phi vật chất, gồm các tính chất sau:
- Tính đồng thời: Sản xuất và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời;
- Tính không thể tách rời: Sản xuất và tiêu dùng dịch vụ không thể tách
rời. Thiếu mặt này thì sẽ không có mặt kia;
- Tính chất không đồng nhất: Không có chất lượng đồng nhất;
- Vô hình: Không có hình hài rõ rệt. Không thể thấy trước khi tiêu dùng;
- Không lưu trữ được: Không lập kho để lưu trữ như hàng hóa được.
Dịch vụ y tế [93]: Dịch vụ y tế là một dịch vụ khá đặc biệt. Về bản chất,
dịch vụ y tế bao gồm các hoạt động được thực hiện bởi nhân viên y tế như
thức ăn chủ yếu là thịt gà, thịt lợn được nấu với các loại thuốc nam có tác
dụng nhanh khỏe người, giúp sản phụ có nhiều sữa để nuôi con.
Uống: Thức uống của người Dao trong sinh hoạt hàng ngày là nước chè.
Một số loại lá cây có vị thơm mát, dễ uống dùng để chữa bệnh gan, thận, tim
hoặc bổ máu cũng được người Dao chế biến và sử dụng. Loại đồ uống phổ
biến nữa là rượu được ủ bằng men lá. Hầu hết các gia đình người Dao đều
biết nấu rượu và cất giữ rượu. Báo cáo kết quả điều tra y tế quốc gia năm
2001 - 2002 của Bộ Y tế [17] cho thấy: Tỷ lệ uống rượu vùng Tây Bắc, Đông
Bắc và Tây Nguyên cao hơn vùng đồng bằng sông Hồng. Tuy nhiên chưa có
nghiên cứu về tỷ lệ lạm dụng rượu và nghiện rượu được tính chung cho cả nước.
1.2.4. Tục lệ sinh đẻ và nuôi con
Trước đây, khi sinh con người phụ nữ thường đẻ tại nhà và phải tự đỡ đẻ,
rốn trẻ được cắt bằng nứa, khi đẻ khó thì chỉ biết mời thầy cúng về cúng bái 7
Những năm gần đây, việc sinh đẻ của người Dao đã có nhiều thay đổi, phụ nữ
khi có thai đã đi khám thai và đến trạm y tế để đẻ. Tai biến sản khoa, tỷ lệ chết
ở trẻ sơ sinh đã được hạn chế tối đa, dân số người Dao tăng lên rõ rệt.
Sau khi sinh sản phụ được chăm sóc chu đáo, họ thường được ăn cháo
gạo nếp nấu với thịt gà, nghệ hoặc cháo nấu với xương lợn và đu đủ hoặc
cháo gạo nếp nấu với trứng và đu đủ. Sản phụ ăn như vậy trong khoảng mười
ngày, sau đó ăn cơm nóng với trứng luộc, canh đu đủ, rau ngải cứu, đậu tương
hầm, canh gừng. Người Dao không cho sản phụ ăn thức ăn nguội, thịt chua,
hoa quả chua, rau cải vì họ quan niệm rằng ăn những thứ đó sẽ làm người
mẹ mất sữa và làm cho con mắc một số bệnh [39].
1.2.5. Tín ngưỡng liên quan đến bệnh tật
Người Dao quan niệm khi hồn đầy đủ trong cơ thể thì con người khỏe
mạnh. Nếu hồn ở vị trí nào đó vắng thì sẽ gây ốm đau ở chỗ đó. Hồn chính mà
các loại thịt chua, hoa quả chua, các loại rau có nhiều nước như rau cải, bắp
cải vì quan niệm rằng ăn những thức ăn đó không tốt sẽ gây ảnh hưởng xấu
đến sức khỏe người mẹ và con, có thể là nguyên nhân gây mất sữa hoặc làm
cho đứa trẻ chê bú sữa mẹ. Kiêng bế con đến chỗ khác trong nhà nhất là nơi
đặt bàn thờ tổ tiên và khu tiếp khách của nam giới. Kiêng đến gia đình người
khác vì sợ mang theo những thứ “không sạch sẽ” sẽ làm ảnh hưởng đến gia đình
họ. Kiêng người lạ đến nhà, cho nên dấu hiệu để nhận biết khi trong nhà có
người đẻ là người Dao thường treo cành lá hoặc hoa chuối rừng trước cửa.
Những kiêng kỵ có lợi cho sức khỏe bà mẹ và trẻ em [39].
Khi có thai được 3 - 4 tháng, phụ nữ người Dao chủ động kiêng sinh
hoạt vợ chồng để thai nhi được lành lặn, tránh tổn thương cho thai và sảy thai.
Trong thời kỳ mang thai, mỗi khi ra khỏi nhà, thai phụ phải đội nón vì họ
cho rằng Ngọc Hoàng nhìn thấy “người bẩn’’ sẽ trị tội và làm sảy thai. Khi đi
trên đường không được bước qua thừng trâu, chạc ngựa.
Khi có thai người phụ nữ phải kiêng ăn tất cả các loại thịt ôi, thiu và
kiêng ăn nhộng ong, nhộng tằm.
Sau đẻ sản phụ ăn cơm nóng với trứng luộc, canh gừng, uống nước lá
thuốc rồi ăn cơm nếp với thịt gà, thịt lợn.
Khi nhà có người sinh đẻ họ dùng lá cây cài trước cửa để cảnh báo người
lạ không được vào. 9
Người Dao ít khi mắng, chửi, đánh đập con cái, không thích nói to tiếng
vì sợ hồn vía trẻ nhỏ bị thất lạc sẽ ốm đau.
Những kiêng kỵ bất lợi cho sức khỏe bà mẹ và trẻ em [39]:
Phụ nữ người Dao Thanh y không muốn ai hỏi tới chuyện họ có thai, nên
khi mang thai họ thường giấu giếm. Các cô dâu mới về nhà chồng rất giữ ý
kiêng khem trong ăn, uống song vẫn phải cáng đáng mọi công việc nên sức
+ Chữa bệnh chướng hơi đầy bụng: Lấy củ canh chì đòi cho vào rượu
ngâm uống vài lần là khỏi. Loại rượu này uống chữa khỏi bệnh đái dắt.
+ Chữa bệnh đau xương khớp: Lấy cây thanh thảo (bùng leo), lá cây dâu
tằm (phong lốm mòm) đem giã nhỏ trộn với nước vo gạo, rang lửa cho ấm lên
rồi đắp vào chỗ đau.
+ Người bị ngã gãy xương: Dùng lá và thân cây “Tồm bùng lao tòn” và
cây tầm gửi mọc trên cây tre. Hai thứ này giã nhỏ trộn với nước vo gạo và rang
qua lửa cho ấm lên rồi đắp vào chỗ xương gãy. Trước khi đắp phải nắn lại chỗ
xương bị gãy cho thẳng và dùng nẹp bằng cây mía đỏ (tăm tía xi). Mỗi ngày
thay thuốc 1 lần, khoảng 10 hôm là đỡ đau, khoảng 1 tháng sẽ liền xương.
+ Chữa bệnh đau thận: Lấy cây tầm gửi mọc trên cây gạo hoặc cây dâu,
cây môn gai (hậu giàng gim), cây “choang xi”, tất cả đem thái nhỏ, sắc nước
uống. Sau đó lấy thêm 2 loại lá cây “mắc nai nòm” và “mắc phường nòm”,
giã nhỏ ngâm vào nước vo gạo, rang nóng bọc vào mảnh vải sát vào chỗ phù.
Ngày sát 2 lần, sát từ trên xuống dưới.
+ Chữa rắn cắn: Lấy lá cây khoai môn nhai nát đắp vào chỗ rắn cắn sẽ
khỏi. Ngoài ra, họ dùng lá “tụp bầy” vò nhàu, bọc vào mảnh vải hơ nóng trên
lửa xoa vào chỗ rắn cắn và đắp vào chỗ rắn cắn vài lần là khỏi.
+ Chữa rết cắn: Lấy củ cây “tộp rùi” giã nhỏ rồi cho vào lá dong (lòm)
bọc lại hơ trên than hồng cho nóng lên rồi đắp vào chỗ rết cắn, cứ nguội lại
thay, cho đến khi không đau nữa thì thôi.
+ Để phòng bệnh và giữ gìn sức khoẻ hàng ngày, người Dao có kinh
nghiệm là khi đi ra ngoài nắng phải đội mũ, đội khăn, đi giầy dép. Khi đông
về giá lạnh, trong nhà thường xuyên đốt lửa và dùng nệm ấm khi ngủ.
1.3. Tình hình sức khỏe, sức khỏe sinh sản của phụ nữ
1.3.1. Đặc điểm cơ thể liên quan đến bệnh tật ở nữ giới
Cơ thể nữ giới được tạo hoá ban cho cấu tạo giải phẫu phù hợp với các
chức năng riêng của mình. Ngoài công tác xã hội, người phụ nữ còn là trung 12
Sức khoẻ sinh sản nữ vị thành niên
Việt Nam là nước có tỷ trọng dân số vị thành niên vào hàng cao nhất
trong khu vực châu Á, tác động của nền kinh tế thị trường đã làm ảnh hưởng
đạo đức của một bộ phận thanh thiếu niên, không ít vị thành niên sống buông
thả, mà một trong hành động đáng báo động là hoạt động tình dục trước hôn
nhân và các hậu quả nghiêm trọng của nó [33], [51], [57], [82], [94].
Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá nguy cơ tử vong do thai sản ở phụ nữ tuổi 15
đến 19 cao gấp 2 lần so với người từ 20 đến 24. Còn những em gái tuổi 10 - 14
nếu có thai thì nguy cơ tử vong cao gấp 5 lần so với tuổi ngoài 20 [95], [96].
Phụ nữ và nhiễm khuẩn đường sinh sản
Bệnh phụ khoa là bệnh của nữ giới, trong đó tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm
khuẩn đường sinh sản và bệnh lây truyền qua đường tình dục khá cao, đặc
biệt là ở những nước chậm hoặc đang phát triển [42].
Kết quả điều tra ở Thái Bình, Hải Phòng, Lâm Đồng, Hậu Giang (cũ), Hà
Sơn Bình (cũ), Hà Tuyên (cũ) cho thấy: Trong cơ cấu bệnh tật của nữ theo độ
tuổi, bệnh phụ khoa chiếm tỷ lệ cao nhất và tăng dần theo độ tuổi sinh sản, cao
nhất là ở độ tuổi 41 - 55, chiếm 60% [1].
Sự thiếu hụt kiến thức, thiếu hụt chăm sóc y tế, cũng như tình trạng mại
dâm hiện nay cũng là những yếu tố rất quan trọng để làm tăng tỷ suất của
bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản (NKĐSS) [73].
Trên thế giới, NKĐSS hay gặp nhất là viêm âm đạo, rồi đến một số bệnh
lây qua đường tình dục như trichomonas, lậu, giang mai. Tỷ lệ NKĐSS cao
nhất là ở châu Mỹ La tinh, châu Phi và châu Á [90], [91].
Ở Việt Nam, các nhiễm khuẩn đường sinh sản thường gặp là: Tạp khuẩn
(44%), Candida (28,5%), Candida + tạp khuẩn (27,5%) [22], [23], [24], [30].
85/100.000 (năm 2002) và 80/100.000 (năm 2005). 14
Điều tra tử vong mẹ năm 2000 - 2001 do Vụ Sức khoẻ sinh sản - Bộ Y tế
hợp tác với WHO thực hiện ở 7 tỉnh thuộc 7 vùng sinh thái của Việt Nam cho
thấy tỷ suất chết mẹ ở 7 tỉnh nghiên cứu là 130/100.000 trẻ đẻ ra sống [103].
Theo Trần Thị Trung Chiến (2006) [29], có sự khác nhau về chết mẹ giữa
các vùng (269/100.000 ở vùng núi và trung du, 81/100.000 ở đồng bằng), giữa
dân tộc thiểu số và dân tộc Kinh (316 và 81/100.000), giữa nông thôn và thành
thị (145 và 79/100.000). Nguyên nhân góp phần gây tử vong mẹ là do chậm trễ
đến cơ sở y tế (46,3%), chậm gửi lên tuyến trên do đường giao thông đi lại khó
khăn 41,3%; 40% do điều trị không kịp thời; ngoài ra còn do nhân viên y tế thiếu
năng lực chuyên môn, thiếu thuốc, thiếu trang thiết bị cần thiết
Trên thế giới, các nguyên nhân trực tiếp gây tử vong mẹ chiếm 80%,
nguyên nhân gián tiếp chiếm 20% [101], [102].
Ung thư ở nữ giới
Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế [24], thì tỷ lệ ung thư thường gặp ở
nữ là ung thư cổ tử cung chiếm 20,3%, ung thư vú (16,2%), ung thư dạ dày
(10%), đại trực tràng (8,3%), ung thư phổi (7,3%).
1.4. Nữ giới trong tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế
1.4.1. Hệ thống cung ứng dịch vụ y tế Việt Nam
Ở Việt Nam, hệ thống y tế được chia thành tuyến Trung ương, tuyến tỉnh
và tuyến y tế cơ sở, trong đó có y tế Nhà nước và y tế tư nhân [55], [56].
Trạm y tế xã là đơn vị kỹ thuật đầu tiên tiếp cận với nhân dân nằm trong
hệ thống y tế Nhà nước. Điều tra Y tế Quốc gia 2001 - 2002 cho biết bình
quân mỗi xã có 4,34 CBYT; có 52,7% số xã có bác sỹ, 89% xã phường có nữ
hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi [17].
1.4.2. Hệ thống quản lý chăm sóc sức khoẻ ban đầu - công cụ đánh giá
và nữ hộ sinh của tỉnh Bắc Kạn thấp hơn cả nước nhưng cao hơn so với vùng
Tây Bắc và Tây Nguyên.
1.4.4. Nhu cầu chăm sóc sức khoẻ, tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế
1.4.4.1. Nhu cầu chăm sóc sức khoẻ
Nhu cầu chăm sóc sức khoẻ là sự cần thiết được CSSK theo các vấn đề sức
khoẻ của người dân. Chúng ta cần phân định giữa nhu cầu (need - sự cần thiết) và
cầu (demand - là thể hiện qua ý muốn chủ quan của người bệnh, phụ thuộc vào sức 16
mua và khả năng chi trả). Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong CSSK luôn
gắn liền với nhu cầu chứ không gắn với sức mua [61]. Theo kết quả của VNHS
2001 - 2002 [17], bình quân sẽ có 1,5 đợt ốm_người/năm làm ảnh hưởng tới các
hoạt động như đi học, đi làm.
1.4.4.2. Tiếp cận dịch vụ y tế
“Tiếp cận dịch vụ y tế” là khả năng mà người sử dụng dịch vụ y tế
(DVYT) khi cần có thể đến sử dụng DVYT tại nơi cung cấp. Tiếp cận bao
hàm cả sự đánh giá, cách nhìn nhận DVYT trong tầm suy nghĩ của người dân
về loại dịch vụ qua các yếu tố không gian, thời gian, chi phí và chất lượng
dịch vụ y tế.
Tiếp cận DVYT phụ thuộc vào nhiều nhóm yếu tố nhưng có 4 nhóm yếu
tố cơ bản sau:
* Khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế: Được tính bằng thời gian đi từ nhà
đến cơ sở y tế. Nếu thời gian này trong vòng 60 phút đi bằng phương tiện
thông thường thì coi là tiếp cận được. Cách tính và đo lường này hợp lý cho
mọi trường hợp. Nếu càng tốn ít thời gian để đến với cơ sở y tế thì tính tiếp
cận càng cao và ngược lại [70].
Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Hùng (2007) [43] về chăm sóc sản khoa
thiết yếu tại tỉnh Lạng Sơn cho thấy: Tỷ lệ tiếp cận trong chăm sóc trước và
chỉ đề cập đến tính sẵn có của các dịch vụ mà người dân cần, tính thường trực,
thời gian mở cửa thích hợp, thái độ của cán bộ y tế với bệnh nhân, chất lượng
dịch vụ mà người dân yêu cầu.
Nghiên cứu quá trình cung cấp dịch vụ chăm sóc trước sinh ở huyện Cần
Đước - Long An [62] cho thấy: Yếu tố sẵn có của phương tiện khám thai, viên
sắt, giấy thử albumin niệu chưa đầy đủ (97%), trong khi đó tất cả phụ nữ
đều có khả năng tiếp cận với dịch vụ. Như vậy, tồn đọng của dịch vụ chăm
sóc sức khoẻ cho phụ nữ có thai trước sinh ở địa phương này chính là sử dụng
hiệu quả.
Báo cáo của sở Y tế tỉnh Thanh Hoá [63] về tính bao phủ của dịch vụ
chăm sóc trước sinh cho thấy yếu tố sẵn có chỉ đạt 86%, trong khi đó yếu tố
tiếp cận và sử dụng là 100%, tồn đọng của dịch vụ chăm sóc phụ nữ có thai
trước sinh vẫn là tỷ lệ sử dụng hiệu quả (66%). 18
* Văn hoá - xã hội: Trình độ hiểu biết của người ốm, người chủ gia đình
có ảnh hưởng rất lớn tới quyết định xử lý khi bị ốm đau và thông qua đó ảnh
hưởng gián tiếp tới lựa chọn DVYT. Yếu tố văn hoá - xã hội còn chịu sự tác
động của phong tục tập quán: Cúng bái trừ tà ma, kiêng khem, đẻ tại nhà,
ngại phải thổ lộ bệnh tật của mình với người khác…
1.4.4.3. Sử dụng dịch vụ y tế
Sử dụng DVYT là một quá trình tương tác của nhiều yếu tố. Hiện nay có 3
cách đề cập chính được sử dụng để xây dựng mô hình giải thích các mối quan hệ
ảnh hưởng của các yếu tố đến việc sử dụng DVYT của người dân: Kinh tế học,
nhân học và ứng xử xã hội trong chăm sóc sức khoẻ [86].
* Kinh tế học: Cách đề cập này dựa trên nhận định rằng con người khi
phải lựa chọn một dịch vụ nào đó, phải luôn tuân theo các nguyên lý kinh tế
học nhằm đạt được lợi ích tối đa với mức chi phí có thể bỏ ra.
hơn nam giới [77].
Ở Việt Nam, liên quan giới và sử dụng dịch vụ y tế còn rất ít tài liệu đề
cập đến. Tuy nhiên, có thể đoán biết rằng trong điều kiện kinh tế xã hội hiện
nay nhiều phụ nữ sống ở khu vực nông thôn miền núi khó có điều kiện tiếp
cận dịch vụ y tế có chất lượng.
Điều tra tỷ lệ sử dụng dịch vụ cơ bản hàng năm (không kể bệnh viện)
trên đầu người theo giới và tuổi cho thấy: Ở mọi lứa tuổi, nữ giới đều sử dụng
dịch vụ y tế cao hơn nam giới [70].
Nghiên cứu của Trương Việt Dũng [34], [66] cho thấy: Nữ giới thường
mua thuốc tự chữa bệnh cao hơn nam giới (38,7% so với 25,2%). Trong khi
đó, nam giới có tỷ lệ đến bệnh viện cao hơn nữ giới (23,2% so với 18,1%).
Sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh
Theo Tổ chức Y tế thế giới, tình hình chăm sóc trước và trong sinh của
phụ nữ ở các nước đang phát triển và các nước phát triển còn thấp so với nhu
cầu. Chỉ có một nửa phụ nữ 15 đến 49 tuổi ở Nam Á và các nước kém phát
triển được khám thai [90]. Trước Cairo (Hội nghị quốc tế về dân số và phát
triển tại Ai Cập), 43% phụ nữ không được khám thai, 15% các trường hợp đẻ
không được y tế hỗ trợ, 43% đẻ tại nhà; 46,5% đẻ do bà đỡ dân gian hoặc y tế
thôn bản đỡ, chỉ có 9,2% đẻ do cán bộ tuyến huyện và tỉnh thực hiện. Sau
Cairo thì tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc thai sản đã có sự cải thiện, số 20
lần khám thai trung bình là 1,4; tỷ lệ phụ nữ có thai được tiêm uốn ván 2 lần
trong thai kỳ là 82,1%; tỷ lệ thai phụ đẻ tại nhà là 50%, tỷ lệ đẻ được cán bộ y
tế hỗ trợ 88% [13], [97].
Các số liệu điều tra cho thấy việc sử dụng dịch vụ chăm sóc thai nghén
có chiều hướng gia tăng theo thời gian, nghĩa là tăng theo mức đời sống
chung, theo mức học thức và hiểu biết tăng dần ở phụ nữ trong tình hình phát
Theo nhận định của Tổ chức Y tế Thế giới [12], [60]: Mức độ sử dụng
dịch vụ tại trạm y tế xã của chúng ta còn ở mức thấp và trung bình. Trong khi
đó, nhu cầu về chăm sóc sức khoẻ của nhân dân là rất lớn.
Theo kết quả điều tra của Bộ Y tế [9]: Cách xử trí của người dân khi bị
ốm rất khác nhau. Sự lựa chọn cao hơn cả là tự mua thuốc về chữa. Tỷ lệ này
từ 50% đến 65% với các lý do sau: Bệnh nhẹ 62,23%, ở xa trạm y tế 11,3%.
Nhận xét của người dân về trạm y tế: Không đủ thuốc 65%, không có thuốc
16%, thuốc đắt 21%.
Nghiên cứu về khả năng tiếp cận các dịch vụ CSSK của các hộ gia đình
tại tuyến cơ sở ở 5 huyện thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế (1020 hộ gia đình) cho
thấy [18]: Tỷ lệ tiếp cận y tế cơ sở (YTCS) là 31,8% và tỷ lệ đến trạm y tế
(TYT) để khám chữa bệnh (KCB) khi bị ốm của các hộ gia đình là 12,7%.
Cách lựa chọn KCB của các hộ gia đình khi có người ốm đến TYT là 13,1%,
bệnh viện huyện 15,6%, tự chữa là 18,3%, đến y tế tư nhân 38,9%, có 6,9%
hộ gia đình chữa bệnh bằng hình thức cúng bái. Nghiên cứu này cũng cho
thấy: Người nghèo thường chọn thầy lang (gấp 3 lần) hoặc mua thuốc tự chữa
(gấp 2 lần so với người giàu). Ngược lại, những người giàu thường chọn y tế
tư nhân hoặc YTCS và đến bệnh viện. Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn cơ
sở KCB là chuyên môn giỏi, thái độ phục vụ tốt và gần nhà. Các lý do cản trở
người dân tiếp cận với YTCS là không tin tưởng vào trình độ chuyên môn của
cán bộ y tế, thiếu thuốc và phương tiện KCB, giờ mở cửa không thuận lợi.
Ngoài ra yếu tố kinh tế, phong tục tập quán cũng cản trở người dân tiếp cận
dịch vụ y tế.
1.5.2. Một số nghiên cứu ở các tỉnh miền núi phía Bắc
Kết quả nghiên cứu của Dương Huy Liệu (1996) [46] về CSSKBĐ ở
nông thôn phía Bắc cho thấy: Tỷ lệ các xã có cơ sở y tế chiếm 93,93%, trong
đó chỉ có 24,2% cơ sở nhà trạm được đánh giá là tốt. 22
gặp nhất ở tuyến xã là nhiễm khuẩn hô hấp (58,9%). Nữ có nhu cầu khám
chữa bệnh (53,3%) cao hơn nam (46,7%). Người dân tiếp cận TYT xã chủ 23
yếu là đi bộ (56,8%), khoảng 29% hộ gia đình khó tiếp cận với TYT xã vì
đường khó đi; có 29,3% tự mua thuốc chữa bệnh.
Nghiên cứu của Khổng Thị Ngọc Mai (2003) [50] về đánh giá hiệu quả
chăm sóc trẻ em ở một số bản vùng cao miền núi cho thấy: Vai trò của nhân
viên y tế thôn bản là rất cần thiết trong việc tuyên truyền vận động thực hiện
các chương trình y tế về chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em; giảm tỷ lệ cúng
bái từ 8,97% xuống còn 1,14%; giảm tỷ lệ trẻ bị ốm không đi khám bệnh từ
35,62% xuống 0%.
Kết quả nghiên cứu của Vũ Thanh Hiền (2003) về chăm sóc sức khoẻ
ban đầu cho người nghèo tỉnh Hà Giang cho thấy [37]: Tỷ lệ hộ gia đình có
người ốm còn cao (40,7%). Người dân khi bị ốm chủ yếu là mua thuốc về tự
chữa. Tỷ lệ người ốm đến KCB tại TYT xã còn thấp (23,8%), lý do không đến
TYT phần lớn là do quá xa và mất thời gian chờ đợi.
Nghiên cứu của Lý Ngọc Kính (2003) [45] về đánh giá hiệu quả của
chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em tại xã Hợp Tiến, Đồng Hỷ, Thái Nguyên
cho thấy: 100% các phụ nữ Dao đều sinh con tại nhà, trong đó 50,9% có cán
bộ y tế giúp; tỷ lệ khám thai đủ 3 lần là 49,7%; có 24,8% trẻ sơ sinh được
tiêm phòng uốn ván, không có trẻ nào được cân và theo dõi cân nặng.
Tác giả Nguyễn Văn Hiến (2004) [36] nghiên cứu về mô hình truyền
thông giáo dục sức khỏe tại một số xã thuộc huyện đồng bằng Bắc bộ cho
thấy 44,9% cán bộ y tế chưa được đào tạo kiến thức, kỹ năng truyền thông
giáo dục sức khoẻ. Trong khi đó, có 99,5% người dân có nhu cầu được truyền
thông - giáo dục sức khoẻ
Nghiên cứu của Đinh Hùng Minh (2004) [52] về hoạt động khám chữa
Nguyễn Đình Học (2004) [41], nghiên cứu về mô hình bệnh tật của trẻ
em người dân tộc Dao cho thấy: Nhóm bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất là suy dinh
dưỡng, bướu cổ, còi xương (45,3%), tiếp đến là nhiễm ký sinh trùng (33,3%)
và nhóm bệnh nhiễm khuẩn hô hấp (29,7%).
1.6. Một số nghiên cứu về sử dụng dịch vụ y tế ở các nước khác
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, có khoảng 80% - 90% bệnh nhân ngoại trú
tìm kiếm giải pháp y tế có thể giải quyết tại nhà. Chỉ có 10% - 15% được giải
quyết khi đến các bác sỹ đa khoa và các đơn vị sức khoẻ ngoại vi [88]. 25
Sau khi mô hình Andersen được đưa ra, một loạt các nghiên cứu ở Mỹ
đã áp dụng mô hình này và có điều chỉnh, biến đổi về nghiên cứu tiếp cận và
sử dụng dịch vụ y tế của người dân. Các nghiên cứu đều cho biết quyết định
của người bệnh đi đâu, làm gì khi ốm phụ thuộc khá nhiều vào chất lượng, giá
thành và loại bệnh, mức độ bệnh cũng như khoảng cách và khả năng tiếp cận
tới các dịch vụ y tế của người dân [85], [86], [97].
Tại Trung Quốc sau thời kỳ mở cửa, hệ thống y tế hợp tác xã bị tan giã,
chi phí y tế không còn được bao cấp, người dân vùng nông thôn tự chi trả các
dịch vụ KCB khi bị ốm. Việc thu phí dịch vụ y tế trở thành cản trở rất lớn đối
với người dân khi bị ốm đau muốn tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế vì không
có khả năng chi trả. Gánh nặng chi trả dịch vụ y tế đã tăng từ 24% (năm
1980) lên tới 46% (năm 1989). Chi phí cho y tế so với tổng chi phí hộ gia
đình ở Trung Quốc vào khoảng 12%, trong đó có 15,7% số hộ gia đình phải
vay tiền để chi phí cho việc CSSK; 8,8% số hộ phải nợ tiền bệnh viện; 5,6%
số hộ phải bán tài sản đi để có tiền chi trả KCB và 3,3% số hộ phải nhờ đến
sự cứu trợ của Chính phủ dành cho bệnh tật [98].