Xác định mầm bệnh ký sinh trùng gây bệnh cho người trong rau và thuỷ sản được nuôi trồng từ nguồn nước thải tại một số thành phố và nông thôn miền bắc - Pdf 19


BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
@ BÁO CÁO NHIỆM VỤ BVMT

XÁC ĐỊNH MẦM BỆNH KÝ SINH TRÙNG GÂY
BỆNH CHO NGƯỜI TRONG RAU VÀ THỦY SẢN
ĐƯỢC NUÔI TRỒNG TỪ NGUỒN NƯỚC THẢI
TẠI MỘT SỐ THÀNH PHỐ VÀ NÔNG THÔN
MIỀN BẮC
Thời gian thực hiện: 24 tháng, từ tháng 1/2008 đến tháng 12/ 2009
Chủ trì nhiệm vụ: PGS.TS. Nguyễn Văn Đề
Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Y Hà Nội
Cơ quan quản lý: Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế

Tên đề tài:
XÁC ĐỊNH MẦM BỆNH KÝ SINH TRÙNG GÂY
BỆNH CHO NGƯỜI TRONG RAU VÀ THỦY SẢN
ĐƯỢC NUÔI TRỒNG TỪ NGUỒN NƯỚC THẢI
TẠI MỘT SỐ THÀNH PHỐ VÀ NÔNG THÔN
MIỀN BẮC HỘI ĐỒNG NGHIỆM THU CẤP BỘ

Chủ tịch Hội đồng: GS.TS. Phan Thị Kim

Uỷ viên nhận xét 1: Uỷ viên nhận xét 2: TS. Trần Như Dương TS. Nguyễn Mạnh Hùng



Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Nguyễn Văn Đề
Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Y Hà Nội
Cấp quản lý: Bộ Y tế
Mã số đề tài (nếu có):
Thời gian thực hiện: từ tháng 01 năm 2008 đến tháng 12 năm 2009
Tổng kinh phí thực hiện đề tài 1.400 triệu đồng
Trong đó: kinh phí SNKH 1.400 triệu đồng
Nguồn khác (nếu có) ………. triệu đồng Hà Nội 4/2010 3
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI/NHIỆM VỤ CẤP BỘ

Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Văn Đề

4
Những chữ viết tắt ADN Acide Deoxyribonucleic
ATSLa Ấu trùng sán lá
BM Bộ môn
cs Cộng sự (cộng tác viên)
C. sinensis Clonorchis sinensis
Đ Trứng giun đũa
KST Ký sinh trùng
Hp Haplorchis pumilio
Ht Haplorchis taichui
M Trứng/ấu trùng giun móc
NCKH Nghiên cứu khoa học
L Ấu trùng giun lươn Angiostrongylus
PCR Polymerase Chain Reaction
S. erinacei Spirometra erinacei
SLRN Sán lá ruột nhỏ
SLGN Sán lá gan nhỏ
TP Thành phố
T Trứng giun tóc
WHO World Health Organization



1. Bảng kết quả số liệu nghiên cứu (xem kết quả báo cáo kèm theo)
2. Báo cáo kết quả xác định loài của mầm bệnh ký sinh trùng trong thủy sản và rau
tươi sống sử dụng nước thải (xem kết quả báo cáo kèm theo)
3. Các báo cáo khoa học được đăng tải:
Có 3 bài báo khoa học đăng trên các tạp chí như sau:
- Nguyễn Văn Đề, Phan Thị Hương liên, Trương Thị Kim Phượng, Phạm Ngọc
Minh và cs. Ô nhiễm mầm b
ệnh trên cá nuôi bằng nước thải tại thành phố và
nông thôn tỉnh Nam Định. Tạp chí Thông tin Y Dược. Số 8/ 2009. Tr.19-21
- Nguyễn Văn Đề, Phan Thị Hương liên, Trương Thị Kim Phượng, Phạm Ngọc
Minh, Lê Thanh Phương, Phạm Văn Khiêm, Nguyễn Thị Hậu. Đánh giá ô
nhiễm mầm bệnh giun sán của một số loại thủy sản được nuôi trong ao bằng
nước thải sinh hoạt. Tạp chí Y Dược học Quân sự. Số
9/ 2009. Tr.29-32
- Lê Thanh Phương, Nguyễn Văn Đề, Phạm Ngọc Minh, Phan Thị Hương liên,
Trương Thị Kim Phượng và cs. Mầm bệnh ký sinh trùng trên rau được tưới bằng
nước thải tại thành phố và nông thôn tỉnh Nam Định. Tạp chí Y Dược học Quân
sự. Số 9/ 2009. Tr.29-32
4. Các khóa luận tốt nghiệp Y khoa về vấn đề liên quan đến nhiệm vụ.
Hai khoá luận tốt nghiệp Cử nhân Y học (Lê Thị Thanh Loan và Đinh Công
Trứ) bảo v
ệ năm 2009 (có bản phô tô bìa kèm theo) và sẽ có 2 khóa luận tốt
nghiệp bảo vệ năm 2010.
5. Đề xuất các giải pháp phù hợp.
- Giải pháp cho người sản xuất: Để sản xuất thủy sản và rau đảm bảo an toàn thực
phẩm là không sử dụng nước thải chưa được xử lý đúng quy trình ở cả nông thôn
và thành phố.
- Giải pháp cho người tiêu dùng: Hiện nay, việc sử dụng nước th
ải để nuôi trồng

ốc tại 6 điểm nuôi
thủy sản sử dụng nước thải ở thành phố và nông thôn kết quả cho thấy:
Thủy sản được nuôi bằng nước thải cả ở nông thôn và thành phố đều bị ô nhiễm bởi

8
mầm bệnh ký sinh trùng gây bệnh nguy hiểm cho người. Thành phần loài mầm
bệnh ký sinh trùng trong thủy sản được xác định là ấu trùng sán lá gan nhỏ
Clonorchis sinensis, sán lá ruột nhỏ họ Heterophyidae, giun đầu gai Gnathostoma
spinigerum, ấu trùng sán nhái Spirometra erinacei; ốc nhiễm ấu trùng sán lá thuộc
nhóm sán lá gan nhỏ và sán lá ruột nhỏ (Parapleurolophocercous cercaria). Riêng
tại Hòa Bình tìm thấy ấu trùng sán lá phổi Paragonimus trên cua và ốc.
b) Xét nghiệm cho 1.980 mẫu rau tươi sống tại 6 điểm sử dụng nước thả
i ở thành
phố và nông thôn kết quả cho thấy:
Rau tươi sống được tưới bằng nước thải cả ở nông thôn và thành phố đều bị ô nhiễm
bới mầm bệnh ký sinh trùng gây bệnh nguy hiểm cho người. Thành phần loài mầm
bệnh ký sinh trùng trong rau và nước được xác định là trứng giun đũa Ascaris
lumbricoides, giun tóc Trichuris trichiura, sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis, sán lá
ruột nhỏ họ Heterophyidae, ấu trùng giun móc họ Ancylostomatidae, ấu trùng giun
lươn Angiostrongylus; đơn bào gây b
ệnh cho người bao gồm amíp Entamoeba
histolytica, trùng roi Giardia lamblia và bào tử trùng Cryptosporidium, Cyclospora
và một số đơn bào khác.
c) Xét nghiệm cho 900 mẫu nước thải sử dụng để nuôi thủy sản và tưới rau (tại 3 vị
trí: nước bề mặt, nước ở đáy và bùn) tại 6 điểm ở thành phố và nông thôn kết quả
cho thấy:
Trong nước thải cả ở nông thôn và thành phố cũng đều bị ô nhiễm bới mầm bệ
nh ký
sinh trùng gây bệnh nguy hiểm cho người. Thành phần loài mầm bệnh ký sinh trùng
trong nước được xác định là trứng giun đũa Ascaris lumbricoides, giun tóc Trichuris

Phươ
ng pháp chuẩn quốc gia và quốc tế đảm bảo độ chính xác cao.
8.3/ Những đóng góp mới khác:
- Một số loài ký sinh trùng đã được xác định bằng sinh học phân tử so sánh với
chủng chuẩn quốc tế với độ chính xác cao.
- Đóng góp cho khoa học và cho đào tạo, trong đó có 4 khóa luân tốt nghiệp cử
nhân (2 đã bảo vệ và 2 chuẩn bị bảo vệ năm 2010) và 3 bài báo khoa học đã đăng
trên tạp chí quốc gia có uy tín.

Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2009
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
(Họ, tên và chữ ký) PGS.TS Nguyễn Văn Đề

10
XÁC ĐỊNH MẦM BỆNH KÝ SINH TRÙNG GÂY BỆNH CHO
NGƯỜI TRONG RAU VÀ THỦY SẢN ĐƯỢC NUÔI TRỒNG TỪ
NGUỒN NƯỚC THẢI TẠI MỘT SỐ THÀNH PHỐ VÀ NÔNG
THÔN MIỀN BẮC

Chương 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Môi trường sống luôn luôn tác động đến cuộc sống con người ở nhiều khía
cạnh và mức độ khác nhau. Môi trường tồn tại vô số những tác nhân gây bệnh tác
động lên con người, làm con người nhiễm bệnh và gây ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ,
thậm chí còn gây tử vong. Trong những tác nhân gây bệnh đó có mầm bệnh ký sinh
trùng.
Các tác nhân gây bệnh này có thể tồn tại ở mọi nơi như

mầm bệnh ký sinh trùng từ môi trường tác động lên sức khoẻ con người.
Giun sán truyền qua động vật thuỷ sinh (cá, cua, tôm, lươn, ếch) gây bệnh
cho người bao gồm chủ yếu là sán lá gan nhỏ, sán lá ruột nhỏ, giun đầu gai, sán
nhái Bệnh có liên quan đến tập quán sử dụng thuỷ sản sống như ă
n gỏi cá, cá
nấu chưa kỹ hoặc đắp nhái vào mắt Sán lá truyền qua cá chủ yếu gồm 7 loài
sán lá gan nhỏ thuộc họ Opisthorchidae (gồm Clonorchis sinensis, Opisthorchis
felineus, Opisthorchis viverrini, Amphimerus norverca, Amphimerus
pseudofelineus, Metorchis conjunctus và Pseudamphistomum trancatum) và 69
loài sán lá ruột nhỏ (gồm có 31 loài thuộc họ Heterophyidae, 21 loài thuộc họ
Echinostomatidae, 5 loài thuộc họ Leicithodendriidae, 4 loài thuộc họ
Plagiorchiidae, họ Diplostomidae, Nanophyetidae và Paramphistomatidae mỗi
họ có 2 loài, họ Gastrodiscidae, Gymnophallidae, Microphllidae và Strigeidae
mỗi họ có 1 loài). Ngoài ra, lươn và cá có thể nhiễm giun đầu gai Gnathostoma
(có trên 10 loài ký sinh ở động vật, trong đó đã xác đị
nh 4 loài ký sinh ở người
như Gnathostoma spinigerum, G. hispidum, G.doloresi và G. niponicum; ba loài
G. spinigerum, G. hispidum và G.doloresi đã được xác định có mặt ở Việt Nam.
Ếch có thể bị nhiễm ấu trùng sán nhái Spirometra erinacei.
Tại Việt Nam, bệnh ký sinh trùng chung giữa người và động vật phổ biến
trong toàn quốc. Tình hình nhiễm giun đũa và giun tóc ở miền Bắc cao hơn miền
Nam, có nơi ở miền Bắc tỷ lệ nhiễm 2 loại giun này là 80-90%. Tình hình nhiễm
giun móc cao trên phạm vi cả nước, có nơ
i 70-80%. Sán lá gan nhỏ phân bố ở ít
nhất 32 tỉnh, có địa phương tỷ lệ nhiễm trên 30% như Nam Định, Ninh Bình, Hà
Tây, Thanh Hoá, Phú Yên, Bình Định; có nơi bệnh lưu hành trên toàn tỉnh như Hoà

12
Bình. Sán lá gan lớn phân bố ở ít nhất trên 47 tỉnh với số lượng bệnh nhân trên
5.000 người, có nơi tỷ lệ nhiễm 11,1% như ở Khánh Hoà. Sán lá ruột lớn lưu hành ở

bằng phương pháp nào, truyền thống hay hiện đại hay phối hợp để xác định chính
xác tác nhân gây bệnh? iv) đề xuất giải pháp nào khống chế hay xoá bỏ được mầm

13
bệnh đó trong điều kiện Việt Nam? Từ đó góp phần đưa ra được kế hoạch phòng
chống hiệu quả cho nhiều địa phương trong toàn quốc để đảm bảo sức khoẻ cộng
đồng, đặc biệt phối hợp với các ngành thuỷ sản, nông nghiệp, thú y để sản xuất
thực phẩm sạch phục vụ đời sống dân sinh.
Sử dụng nước thả
i để tưới rau và nuôi cá là phổ biến ở Việt Nam, cả ở
thành phố và nông thôn. Vì vậy, cần tiến hành đánh giá ô nhiễm mầm bệnh ký
sinh trùng trên rau và thuỷ sản nuôi trồng bằng nước thải ở thành phố và nông
thôn miền Bắc và đề xuất giải pháp nuôi trồng rau và thuỷ sản sạch phục vụ
người tiêu dùng, bảo vệ sức khỏe.

MỤC TIÊU
- Xác định các mầm bệnh ký sinh trùng (giun, sán và đơn bào) trong sản ph
ẩm phục
vụ con người (rau, thuỷ sản) được nuôi trồng bằng nước thải tại một số thành phố và
nông thôn miền Bắc.
- Định loại các mầm bệnh ký sinh trùng này bằng hình thái học và sinh học
phân tử.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ người sử dụng một số thực phẩm có nguy cơ
nhiễm ký sinh trùng.

ruột nhỏ (Heterophyiasis, Echinostomiasis); bệnh sán lá Alariasis, Fibricoliasis;
bệnh sán nhái Sparganosis; bệnh sán dây chó Diphyllobothriasis, Mesocestoidiasis;
bệnh giun lươn não Angiostrongyliasis; bệnh giun dạ dày Anisakiasis, bệnh giun

15
Gnathostomiasis, Dioctophymiasis.
1.3. Bệnh ký sinh trùng truyền qua đường miệng nhưng không phải thức ăn
(Parasitic diseases transmitted through the mouth with non-food).
Nhóm này có bệnh Eurytreniasis; sán lá gan nhỏ truyền qua kiến Dicrocoeliasis;
bệnh sán dây chó Dipylidiasis; Rodentolepiasis; sán dây chuột Hymenolepiasis
diminuta; Pseudanoplocephaliasis crawfordi; bệnh sán dây truyền qua kiến
Rainllietiniasis celebensis; Bertielloesis; bệnh giun Acanthocephaliasis;
Gongylonemiasis; Dracunculiasis.
1.4. Bệnh ký sinh trùng truyền qua thực vật (Plantborne Parasite).
Nhóm này có bệnh sán lá ruột lớn Fasciolopsiasis; sán lá gan lớn Fascioliasis;
Paramphistomeiasis; Philophthalmiasis.
1.5. Bệnh ký sinh trùng truyền qua đất (Soil-transmitted Parasite).
Nhóm này chủ yếu là giun sán truyền qua đất (Soil-transmitted Helminthiasis) và
đơn bào (Protozoa) gồm bệnh giun đũa người Ascariasis, bệ
nh giun tóc Trichuriasis,
bệnh ấu trùng sán lợn Cysticercosis cellulosae; Bệnh ấu trùng sán chó
Echinococcosis (Hydratidosis), Coenurosis; bệnh ấu trùng sán dây của lợn
Cysticercosis tenuicollis; bệnh giun phổi cáo Capillariasis; bệnh giun lươn
Trichostrongyliasis; Oesophagostomiasis; Rhabditiasis; Linguatuliasis; bệnh trùng
roi đường tiêu hoá Giardiasis; bệnh đơn bào Cryptosporidiasis; bệnh amíp
Amebiasis, bệnh trùng lông Balantidiasis.
1.6. Bệnh ký sinh trùng truyền qua da (Parasitic diseases transmitted through the
skin).
Nhóm này gồm 2 nhóm nhỏ:
1.6.1. Bệnh ký sinh trùng truyền qua da trong môi trường nước và đất bao gồm:

dây
c) Người và động vật bị nhiễm bệ
nh ký sinh trùng thải mầm bệnh ra môi trường,
mầm bệnh nhiễm vào vật chủ trung gian và người (động vật) ăn vật chủ trung gian
sẽ bị nhiễm bệnh. Ví dụ: sán lá và một số loài giun. Đôi khi động vật là vật chủ
Người Động vật
Môi trường
Người
Động vật
Môi trường

17
chứa, người ăn phải ký sinh trùng trong vật chủ chứa sẽ bị nhiễm bệnh. Ví dụ: ăn
thịt lợn rừng sống bị nhiễm sán lá phổi.
Vật chủ chứa
d) Người và động vật bị nhiễm bệnh ký sinh trùng thải mầm bệnh ra môi
trường, mầm bệnh nhiễm vào vật chủ trung gian rồi giải phóng vào môi
trường và ấu trùng xâm nhập vào ng

sẽ bị nhiễm bệnh. Ví dụ bệnh giun Gnathostoma g) Một số ký sinh trùng lây truyền trực tiếp giữa người và người. Ví dụ bệnh
ghẻ, bệnh trùng roi âm đạo. 2. Thực trạng về bệnh ký sinh trùng lây từ môi trường vào con người
2.1. Tình hình bệnh trên thế giới
Bệnh ký sinh trùng truyền lây từ môi trường vào con người phân bố rộng rãi
trên thế giới, thường phân bố theo điạ lý, khí hậu và điều kiện kinh tế-xã hội của con
người. Hầu hết bệnh ký sinh trùng phổ biến ở vùng nhiệt đới, có tập quán lạc hậu và
kinh tế kém phát triển, đó là các vùng châu Á, châu Phi, châu Mỹ la tinh. Tại các
khu vực này, khu hệ ký sinh trùng hết sức đa dạng và phong phú cùng với thảm thực
vật và khu hệ động vật phát triển. Có những loài ký sinh trùng phân bố rộng khắp
trên toàn thế giới, nhưng cũng có loài chỉ phân bố trong những khu vực nhất định.
Người Người
Người

móc cao trên phạm vi cả nước, có nơi 70-80%, tuy vậy, đồng bằng sông Cửu Long
có tỷ lệ nhiễm thấp nhất (dưới 10%). Từ trước đến nay, đã ghi nhận 14 tỉnh có b
ệnh
giun chỉ bạch huyết với 6.339 người nhiễm như Hà Nam Ninh tỷ lệ nhiễm 13,37%,
Hải Hưng 9,94%, Quảng Bình 11,70%, Hà Nội 5,40%, Thái Bình 4,90%, Quảng
Ninh 2,50%, Hà Bắc 2,30%, Hà Sơn Bình 2,01%, Bắc Thái 1,50%, Nghệ Tĩnh
1,10%, Vĩnh Phú 0,30%, Hà Tuyên 0,13%, Khánh Hoà 9,3-13,3%, Ninh Thuận 2%
(Nguyễn Duy Toàn, 2000). Sán lá gan nhỏ phân bố ở ít nhất 24 tỉnh, có địa phương
tỷ lệ nhiễm trên 30% như Nam Định, Ninh Bình, Hà Tây, Thanh Hoá, Phú Yên,
Bình Định; có nơi bệnh lưu hành trên toàn tỉnh như Hoà Bình (Nguyễn Văn Đề và

20
cs, 2005). Sán lá gan lớn phân bố ở ít nhất trên 47 tỉnh với số lượng bệnh nhân trên
5.000 người, có nơi tỷ lệ nhiễm 11,1% như ở Khánh Hoà ( Nguyễn Văn Đề và cs,
2002, 2006). Sán lá ruột lớn lưu hành ở ít nhất 16 tỉnh, có nơi tỷ lệ nhiễm 3,8% như
Đăc Lăc (Nguyễn Văn Đề và cs, 1998, 2006). Sán lá ruột nhỏ đã xác định lưu hành
ở ít nhất 18 tỉnh với 5 loài, có nơi tỷ lệ nhiễm tớ
i 52,4% như Nam Định (Nguyễn
Văn Đề và cs, 2006). Sán dây/ấu trùng sán lợn lưu hành ở ít nhất 50 tỉnh, có nơi tỷ
lệ nhiễm sán dây 12% và nhiễm ấu trùng sán lợn 7,2% (Nguyễn Văn Đề và cs,
2001). Có 43,4 triệu người sống trong vùng sốt rét, trong đó có 15 triệu người sống
trong vùng sốt rét nặng; từ năm 1991-2000 có 10.184 người chết vì sốt rét với 309
vụ dịch sốt rét (Lê Xuân Hùng và cs, 2005). Bệnh Leishmaniasis đã phát hiện 3
trường hợp ở Quảng Ninh n
ăm 2001 (Nguyễn Ngọc Hàm và cs, 2001), đã phát hiện
ốc trung gian truyền bệnh sán máng ở Việt Nam (Nguyễn Văn Đề và cs, 2000).
Bệnh giun xoắn trichinelliasis đã gây ra 4 vụ dịch: tại Mù Căng Chải (Yên Bái) năm
1970 có 26 người mắc và chết 4 người (Kiều Tùng Lâm, 1973); tại Tuần Giáo (Điện
Biên) năm 2002 có 22 người mắc và chết 2 người, năm 2004 có 20 người mắc
(Nguyễn Văn Đề và cs, 2004, 2006), tại Bắc Yên (Sơn La) năm 2008 có 22 người

3.9. Phối hợp phòng chống ký sinh trùng trong y tế với các ngành liên quan như Thú
Y, Thuỷ sản, Nông nghiệp và các ngành liên quan khác.
3.10. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học về dịch tễ, chẩn đoán, điề
u trị và
phòng chống
3.11. Tạo nguồn lực cho hoạt động phòng chống bệnh ký sinh trùng trong nước và
mở rộng từng bước hợp tác quốc tế.
3.12. Kiểm tra và giám sát các hoạt động phòng chống ký sinh trùng từ trung ương
đến địa phương.
3.13. Quản lý chương trình hoạt động có hiệu quả: Có hệ thống thống nhất từ trung
ương đến tận cơ sở để nắm bắt những kết quả
cập nhật, kịp thời bổ sung những bất
cập, nhằm nâng cao hiệu quả phòng chống. Đồng thời đề cập chiến lược một cách
tổng hợp và có phân tích về dịch tễ học, cơ hội, vật lực hiện có và các yếu tố ảnh
hưởng đến tính bền vững của hoạt động phòng chống để quản lý chương trình có
hiệu quả nhất.
22
Chương 3
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Địa điểm thực hiện:
Ba thành phố:
- Thành phố đồng bằng: TP. Hà Nội
- Thành phố đồng bằng ven biển: TP. Nam Định
- Thành phố miền núi: TP. Hoà Bình

1-α/2
x P (1-P)/d
2

Trong đó, n = cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được
P = Tỷ lệ nhiễm dự kiến
Z
2
1-α/2
= hệ số tin cậy 95%, có giá trị 1,96
d = sai số tuyệt đối = 0,05
Tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán trên cá khoảng 20% = P (Nguyễn Văn Đề, 2005) và tỷ lệ
trứng giun trên rau khoảng 30% = P (Nguyễn Thuỳ Trâm, 2007). Ta có số mẫu cá n
= 246, quy tròn 250 mẫu cho 5 loài, mỗi loài 50 cá thể /ao (5 loài x 2 nhóm x 50
mẫu x 6 ao = 3.000 mẫu). Cỡ mẫu rau n = 323, quy tròn 330 mẫu cho 6 loài rau,
mỗi loài 55 mẫu/ruộng (6 loài x 55 mẫu x 6 điểm = 1.980 mẫu). Cỡ mẫu nước thải
tại bề mặt, nước
ở đáy và bùn, mỗi vị trí 50 mẫu (3 vị trí x 50 mẫu x 6 điểm = 900
mẫu).
+ Chọn hồ/ao nuôi cá sử dụng nước thải:
Tại thành phố: Hà Nội chọn hồ Tây sử dụng nước thải thành phố; tại thành
phố Nam Định chọn hồ Lộc Vượng, sử dụng nước thải thành phố; tại thành phố
Hoà Bình chọn hồ Trung Tâm, sử dụng nước thải thành phố. Nước th
ải thành phố
được đổ xuống hồ bao gồm nguồn nước thải sinh hoạt, nước thải nhà máy, bệnh
viện và nước mưa tự nhiên.
Tại nông thôn chọn 3 ao ở Đông Anh -Hà Nội (đồng bằng); Hải Hậu -Nam
Định (ven biển) và Kỳ Sơn -Hoà Bình (miền núi) là những ao sử dụng nước thải
sinh hoạt nông thôn có cả nguồn nước mưa tự nhiên. Đây là những xã thuần nông,
trồng lúa, rau màu và có chăn nuôi gia súc, gia cầ

5. Các phương pháp và kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu
Trong nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp chuẩn quốc gia và quốc tế
như sau:
5.1. Kỹ thuật tiêu cơ cá và thu thập ấu trùng:
- Đo kích thước cá

- Mỗi cá đo chiều dài L
o
và L: (L
o
-L)
L
o
: từ mõm cá đến ranh giới cơ-vây ở đuôi cá

Trích đoạn nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng trên thủy sản và rau nuôi trồng sử dụng nguồn nước thải tại nông thôn nhiễm rau bởi mầm bệnh ký sinh trùng nhiễm nước thải bởi mầm bệnh ký sinh trùng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status