Nghiên cứu kết quả điều trị sỏi niệu quản 13 dưới bằng phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể trên máy HK ESWL v tại bệnh viện việt nam thụy điển uông bí - Pdf 19

1
đặt vấn đề
Sỏi tiết niệu là mét bệnh phổ biến trên thế giới, đứng hàng đầu trong các
bệnh tiết niệu. Việt nam là một nước nằm ở vùng có mật độ sỏi cao [13].
Theo thống kê tại bệnh viện Việt Đức thì tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh sỏi tiết
niệu chiếm 30%- 40% tổng số bệnh nhân đến khám bệnh về tiết niệu. Theo
Ngô Gia Hy [13], trong số sỏi tiết niệu, sỏi thận chiếm tỷ lệ 40%, sỏi niệu
quản chiếm 28,27%, sỏi bàng quang chiếm 28,31% và sỏi niệu đạo chiếm
5,43%. Sỏi niệu quản đứng hàng thứ 2 sau sỏi thận, 80% sỏi niệu quản là sỏi
từ thận di chuyển xuống, còn lại là sỏi sinh ra tại chỗ do dị dạng, hẹp niệu
quản. Sỏi niệu quản có thể gặp ở 1/3 trên, 1/3 giữa, và sỏi niệu quản 1/3 dưới.
Sỏi niệu quản 1/3 dưới cũng như ở vị trí khác của niệu quản đều gây ra
những biến chứng nguy hiểm như ứ nước, ứ mủ thận đặc biệt là khi gây tắc
niệu quản trên bệnh nhân sỏi nệu quản hai bên hoặc sỏỉ niệu quản trên thận
đơn độc thì gây vô niệu, suy thận cấp, đồng thời gây viêm xơ chít hẹp niệu
quản ở vị trí sỏi. Sỏi niệu quản nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời
đúng phương pháp thường đưa đến kết quả khả quan. Điều trị sỏi niệu quản
nói chung và sỏi niệu quản 1/3 dưới nói riêng có nhiều phương pháp, trong đó
điều trị nội khoa và bằng phẫu thuật được tiến hành từ rất lâu. Ngày nay nhờ sự
phát triển của khoa học công nghệ mà việc điều trị sỏi niệu quản đã áp dụng
các phương pháp điều trị Ýt sang chấn như: phẫu thuật nội soi qua ổ bụng
hoặc sau phúc mạc lấy sỏi và phương pháp tán sỏi niệu quản nội soi ngược
dòng đã thu được những thành công nhất định rút ngắn thời gian nằm viện.
Hiện nay tán sỏi ngoài cơ thể còng là phương pháp điều trị Ýt sang
chấn, được ưa chuộng do nó có nhiều ưu điểm, phương pháp này điều trị cho
khoảng 70-75% bệnh nhân sỏi tiết niệu[34]. Phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể
được thực hiện lần đầu vào năm 1980 tại Cộng Hoà Liên Bang Đức, sau đó
phương pháp này đã được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Cho tới nay
2
trong số các trường hợp sỏi tiết niệu phải can thiệp ngoại khoa, nếu kết hợp
phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể với các phương pháp khác như tán sỏi qua

khác của niệu quản có đường kính lớn hơn [31].
1.1.1.2. Liên quan.
Niệu quản được chia làm 4 đoạn, mỗi đoạn có liên quan đến các cơ
quan lân cận.
* Đoạn thắt lưng: dài 9 - 11 cm, nằm trước cơ đái chậu, có các dây
thần kinh đám rối thắt lưng (thần kinh sinh dục đùi). Phía trong bên trái là
động mạch chủ, bên phải là tĩnh mạch chủ.
Niệu quản nằm sau phúc mạc, cùng đi song song với niệu quản xuống
hố chậu có tĩnh mạch sinh dục, trong phúc mạc là đại tràng [32] .
* Đoạn chậu: dài 3 – 4 cm, có liên quan với:
- Động mạch chậu: bên trái, niệu quản bắt chéo động mạch chậu gốc trên
chỗ phân nhánh 1,5 cm; bên phải, niệu quản bắt chéo động mạch chậu dưới chỗ
phân nhánh 1,5 cm. Cả hai niệu quản chỗ bắt chéo động mạch chậu gốc và động
mạch chậu ngoài đều cách đường giữa khoảng 4,5 cm. Khi tìm niệu quản thì tìm
bắt chéo động mạch tương đương 4,5 cm cách đường giữa hay ụ nhô.
4
- Phúc mạc: niệu quản nằm ngay sau phúc mạc, dính vào mặt sau phúc
mạc, nên khi đẩy phúc mạc thường đẩy theo niệu quản, bên trong phúc mạc là
đại tràng.
* Đoạn chậu hông: dài 12- 14 cm. Niệu quản chậu hông nằm sát vào
thành bên chậu hông, chia làm hai khúc: khúc thành và khúc tạng. Sự liên
quan có khác nhau giữa nam và nữ [32].
- Khúc thành: niệu quản thường chạy dọc theo động mạch chậu trong
và liên quan với mặt bên trực tràng.
- Khúc tạng:
+ Ở nam: niệu quản chạy vào trước trực tràng, lách giữa bàng quang
và túi tinh. Niệu quản bắt chéo ống tinh ở phiá sau. Ngoài ra, còn hệ thống
mạch máu tiểu khung rất phong phó.
+ Ở nữ: sau khi rời thành chậu hông, niệu quản đi vào đáy của dây
chằng rộng tới mặt bên của âm đạo, rồi đổ ra phía trước âm đạo và sau bàng

đẩy từ bể thận xuống niệu quản, đoạn tiếp nối bể thận – niệu quản đóng lại,
sóng nhu động đẩy giọt nước tiểu đi, nhưng luôn tạo ra một đoạn lòng niệu
quản khép lại ở phía trước để ngăn cản nước tiểu trào ngược lại và cứ thế một
nhu động khác đưa tiếp giọt nước tiểu khác xuống dưới ( hình 1.2)
Hình 1.2. Sù di chuyển của giọt nước tiểu.
A Giọt nước tiểu di chuyển bình thường.
B. Giọt nước tiểu liền nhau.
C. Giọt nước tiểu gần liên tục khi lợi tiểu.
Co bóp của niệu quản là động lực đẩy nứơc tiểu từ bể thận xuống bàng
quang. Đồng thời có tác dụng chống trào ngược nước tiểu từ bàng quang lên
thận. áp lực bên trong niệu quản lúc co bóp tăng dần chênh lệch nhau khá rõ:
từ 20 – 30 cm H
2
0 ở đoạn thắt lưng đến 30-40 cm H
2
0 ở đoạn chậu và đến 40-
50 cm H
2
0 ở đoạn chậu hông.
Sự hoạt động nhịp nhàng di chuyển nước tiểu trong từng đoạn niệu
quản là nhê sự vận động của hệ thống cơ thắt và các thớ cơ tạo thành ống niệu
quản. Trong điều kiện bình thường, tần số co bóp của từng đoạn trên đường
7
tiết niệu giảm dần từ đài thận đến niệu quản. Hoạt động co bóp này phụ thuộc
vào sự bài tiết và áp lực trong bàng quang. Tần số co bóp của bể thận có thể
tăng gấp 2- 3 lần, di chuyển từ đài bể thận tới niệu quản, nhưng nhịp độ co
bóp của niệu quản vẫn giữ nguyên. Riêng thể tích giọt nước tiểu thì ngay sau
khi tần số co bóp tăng, khối lượng giọt nước tiểu tăng và như vậy mỗi nhu
động co bóp thêm một lượng nước tiểu, trong khi tốc độ di chuyển không thay
đổi. Các giọt nước tiểu sẽ dài hơn, rộng hơn nhưng vẫn cách nhau, giữ cho

Gasman D và cs. Khi áp lực trong bể thận và đài thận tăng tới ngưỡng 65 mm
nước, khi đó thận tiết ra prostaglandin E2 gây đau.
Gree và Kiviat (1975) quan sát thấy sau 3 ngày niệu quản bị tắc, lớp cơ
của niệu quản phì đại giãn và nhẽo. Nếu sỏi vẫn nằm ở vị trí cũ và tiếp tục tắc
tiếp hai tuần nữa thì có sự lắng đọng tổ chức liên kết giữa các bó cơ và rõ rệt
nhất là tuần thứ 8. Nếu có sự nhiễm khuẩn thì chức năng của thận càng bị suy
giảm nhanh.
Về vị trí thấy 70 – 75% sỏi niệu quản nằm ở 1/3 dưói, 25% nằm ở 1/3
trên, và 1/3 giữa. Lamotte F. và cs. [83] theo dõi 137 bệnh nhân sỏi niệu quản
(152 viên sỏi) thấy rằng 44% trường hợp sỏi nằm ở niệu quản đoạn thắt lưng,
10 nằm ở đoạn chậu, 46% nằm ở đoạn chậu hông.
Đa sè sỏi có hình bầu dục nhẵn hoặc xù xì, đường kính trên dưới 1 cm.
Sái oxalat canxi có mầu đen, rắn, sỏi phosphat canxi có mầu trắng ngà.
Sỏi niệu quản thường chỉ có 1 viên, đôi khi có 2 viên, có trường hợp
xếp thành chuỗi gọi là “chuỗi sỏi niệu quản”.
1.2.2. Nguyên nhân cơ chế hình thành sỏi
Có nhiều yếu tố liên quan đến sự hình thành sỏi đã được nêu lên: địa dư
và khí hậu, dân tộc, điều kiện làm việc, chế độ ăn uống Những vùng có nhiều
sỏi nhất là Ên Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Ai Cập, Hy Lạp , Anh
9
Hiện nay cơ chế hình thành sỏi chưa được xác định rõ ràng, có rất nhiều
thuyết được các tác giả đưa ra như một số thuyết sau:
Kết thể Carr: Carr nhận thấy rằng ở một số người hay bị sỏi thận tái phát,
ở đầu của những ống góp, ở quanh các gai thận tạo thành sỏi nhỏ, tròn cứng. Các
thể này được cấu tạo bởi calcium phosphat và mucoprotein [15], [20]
Đám Randall: khi niêm mạc bị viêm mãn tính, niêm mạc trở lên sần
sùi(mảng Randall) nên các tinh thể dễ gắn vào và kết tụ lại thành các đám vôi
hoá sau đó sẽ bong ra rơi xuống đài thận tạo thành sỏi nhỏ và niêm mạc ở nơi
sỏi bong ra sần sùi và đó lại là nơi hình thành sỏi
Thuyết “keo- tinh thể”: trong nước tiểu nhiều chất muối tồn tại dưới

Vệ [23] là 38,62%.
1.2.3.2. Suy thận cấp và mãn tính:
Suy thận là biến chứng nặng và hay gặp ở sỏi niệu quản hai bên hoặc trên
thận đơn độc. Biểu hiện là vô niệu và thiểu niệu là một biến chứng rất nặng,
cần được xử trí cấp cứu, gặp trong thận đơn độc, sỏi thận hai bên hoặc sỏi
niệu quản hai bên mà viên sỏi rơi xuống gây tắc đường bài niệu cấp tính. Hiện
nay, các tác giả cho rằng khi lượng nứơc tiểu ≤ 20 ml/ giờ được coi là vô
niệu, thiểu niệu khi lượng nước tiểu / 24h < 500 ml. Joual A. và cs. (1997)
thấy tỷ lệ vô niệu do sỏi niệu quản là 52%, sỏi thận, sỏi cả hai bên là 54%.
Nghiên cứu của Dương Đăng Hỷ (1985) cho thấy tỷ lệ vô niệu do sỏi niệu
quản hai bên là 12/37 trường hợp (32,5%).
Fenlly R. C đã gặp 75/209 trường hợp (35,88) sỏi niệu quản gây tắc niệu
quản, suy thận mạn. Về lâm sàng, do thận đã bị mất chức năng hoặc thương
tổn nên khả năng bài tiết của thận suy giảm nhiều hoặc hoàn toàn. Các chất
độc không được đào thải ra ngoài gây nhiễm độc cơ thể, hậu quả là tử vong.
11
Các tác giả Nguyễn Bửu Triều [28], [29], Ngô Gia Hy [13], Trần Quán
Anh [3], đều nhấn mạnh đến biến chứng này và nhắc nhở phải loại bỏ sớm
sỏi, nguyên nhân gây tắc nghẽn, nhiễm khuẩn niệu và suy thận.
1.2.3.3.Viêm thận - bể thận do sái:
Do tình trạng ứ đọng nước tiểu lâu ngày dẫn đến tình trạng viêm nhiễm đài
bể thận. Biểu hiện đau vùng thận, sốt cao rét run, có thể có đái đục.
Tình trạng sỏi ở càng lâu, càng gây tỷ lệ nhiễm khuẩn cao, nhất là viêm đài
bể thận, niệu quản trên chỗ tắc.
Theo Nguyễn Kỳ [15], tỷ lệ nhiễm khuẩn niệu do sỏi trước mổ chiếm tới
61,96%. Qua nghiên cứu 112 ca sỏi niệu quản, Hoàng Tạo [23] cũng thấy tỷ
lệ nhiễm khuẩn trước mổ là 63,34%.
Nhìn chung, các nghiên cứu đều cho rằng sỏi niệu quản gây tổn thương
sớm thận và niệu quản. Do đó, muốn ngăn ngừa tổn thương cần phải điều trị
sỏi sớm trước khi có biến chứng nhiễm khuẩn [81].

khuẩn, xét nghiệm ure, creatinin máu để đánh giá chức năng thận.
1.3.2.2. Xét nghiệm nước tiểu: có thể thấy hồng cầu và bạch cầu, protein, cấy
nước tiểu có thể thấy vi khuẩn.
1.3.2.3. Chụp Xquang hệ tiết niệu không chuẩn bị: 90% các trường hợp sỏi
có cản quang, chó ý sỏi ở vùng tiểu khung dễ nhầm với vôi hoá tĩnh mạch
chậu ( thường nhỏ và tròn). Sỏi phosphat calci cản quang đậm, sỏi oxalat calci
có dạng xù xì, nhiều gai, cản quang đậm. Sỏi amoni- magie- phosphat cản
quang kém, sỏi cystein cản quang mờ nhạt, còn sỏi acid uric có bờ tròn, nhẵn
không cản quang, có hình khuyết trên UIV [3]
1.3.2.4. Chụp niệu đồ tĩnh mạch (UIV): nhằm xác định vị trí sỏi, đánh giá
chức năng thận, mức độ giãn của niệu quản, đài bể thận. Ngoài ra, còn phát
hiện được các dị dạng của thận và niệu quản.
- Nếu chụp niệu đồ tĩnh mạch trong trường hợp sỏi niệu quản mà
thấy thận không bài tiết, không có hình ảnh đài bể thận thì tiến hành chụp
chậm hệ tiết niệu trong 60 – 120 phót.
13
1.3.2.5. Chụp niệu quản, bể thận ngược dòng (UPR): có giá trị phát hiện
hình sỏi, đặc biệt là sỏi không cản quang, tắc niệu quản, những sỏi niệu quản
làm thận giãn to đẩy niệu quản nằm trùng trước cột sống.
1.3.2.6. Siêu âm: giúp phát hiện sỏi, siêu âm đo được kích thước sỏi cũng
như mức độ giãn các đài bể thận [3],[1]
1.3.2.7. Nội soi bàng quang - niệu quản: giúp phát hiện các sỏi niệu quản ở
nội thành bàng quang, nhất là sỏi nằm ngay lỗ niệu quản hoặc sỏi không cản
quang [2].
Nhìn chung, việc chẩn đoán sỏi niệu quản thường dựa vào cận lâm
sàng, đặc biệt là chụp X quang hệ tiết niệu không chuẩn bị và chụp UIV.
1.4. Các phương pháp điều trị sỏi niệu quản.
1.4.1. Điều trị nội khoa.
Sỏi niệu quản là loại sỏi phá huỷ thận nặng và nhanh nhất, nên chỉ điều
trị sỏi khi còn bé, đường kính dưới 7 mm, sỏi nhẵn, bờ rõ nét, chức năng hình

rãi. Phương pháp này điều trị được khoảng 10% số bệnh nhân sỏi tiết niệu cần
được can thiệp (chủ yếu là sỏi niệu quản 1/3 dưới) [43], [48].
Tán sỏi niệu quản nội soi ngược dòng được áp dụng cho các trường hợp:
sỏi bể thận rơi xuống niệu quản (đặc biệt là sỏi niệu quản 1/3 dưới), chống chỉ
định của phương pháp này là khi có nhiễm khuẩn niệu, đường niệu bên dưới
bị chít hẹp. Thủ thuật này có thể gặp biến chứng chảy máu, thủng niệu quản,
hoặc sỏi có thể chạy lên thận khi đang làm thủ thuật. [48], [50].
Tán sỏi nội soi ra đời vào những năm 1980 và điều trị có hiệu quả đối
với những sỏi niệu quản đoạn thấp. Ở Việt nam, tán sỏi qua nội soi bắt đầu
được thực hiện trong vòng 10 năm trở lại đây. Trong 3 năm (1988 – 2000),
bệnh viện đa khoa Cần Thơ đã thực hiện tán sỏi niệu quản nội soi ngược
15
dòng với tỷ lệ thành công là 62%, còn ở bệnh viện Bưu Điện trong 1 năm đã
tán sỏi qua nội soi cho 210 bệnh nhân, đạt kết quả là 91,4% [5], [26].
1.4.4. Phẫu thuật nội soi lấy sỏi.
Nhờ ứng dụng nội soi qua ổ bụng, qua các trocard có thể bóc tách niệu
quản tìm vị trí sỏi, lấy sỏi niệu quản ra, đặt ống thông niệu quản và khâu lại,
phương pháp này thường ứng dụng lấy sỏi niệu quản ở đoạn thắt lưng.
Nhờ sự phát triển của khoa học công nghệ, tỷ lệ điều trị ngoại khoa sỏi
tiết niệu bằng phẫu thuật mở ngày càng giảm, còn tỷ lệ tán sỏi ngoài cơ thể
ngày càng gia tăng. Hiện nay ở các nước phát triển tỷ lệ điều trị sỏi tiết niệu
bằng tán sỏi ngoài cơ thể khoảng 70%; lấy sỏi thận qua da khoảng 15%; tán
sỏi nội soi ngược dòng 10% và tỷ lệ mổ lấy sỏi chỉ còn khoảng 5% [84].
1.5. Phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể.
Tán sỏi ngoài cơ thể (ESWL) được đánh giá là một trong những thành
tựu rất quan trọng vào những năm cuối của thế kỷ 20. Nếu kết hợp với tán sỏi
qua da (Percutaneous lithotripsy, PCNL) và tán sỏi qua nội soi niệu quản
(Intra Ureteral Nephrolithotripsy) thì phần lớn sỏi tiết niệu đều có thể điều trị
khỏi, mà không cần đến phẫu thuật. Các chỉ định phẫu thuật theo các phương
pháp kinh điển chỉ còn được sử dông trong các trường hợp:

sóng xung được truyền và phản chiếu tuỳ thuộc vào trở kháng âm thânh.
Trở kháng âm thanh của một môi trường bằng tích của tỷ trọng và tốc
độ của âm vang. Nước và mô mề sinh vật đều có trổ kháng âm thanh gần
giống nhau, vì vậy có thể sử dụng nước làm môi trường trung gian.
Khi sóng xung đi qua các mô của cơ thể trong môi trường đồng nhất thì
năng lượng sóng hầu như không bị mất đi, nhưng gặp vật cản là môi trường
rắn (viên sỏi) thì sức công phá của sóng xung là rất lớn. Do lực căng của
luồng sóng xung lớn hơn lực liên kết của viên sỏi thì sỏi sẽ vỡ ra và sau nhiều
đợt sóng xung liên tiếp tác động, sỏi sẽ vỡ vụn thành những mảnh rất nhỏ.
Ngoài việc công phá trực tiếp của sóng xung, còn có hiện tượng hình thành
các bong bóng do thay đổi áp lực âm và dương một cách liên tục trong quá
trình hoạt động của sóng xung. Sự hình thành và vỡ các bóng gây nên một áp
lực lớn có khả năng làm vỡ vụn các viên sỏi [54], [45].
Nhiều nghiên cứu về kỹ thuật tán sỏi ngoài cơ thể đã chứng minh rằng
nếu dùng năng lượng quá cao, sỏi vỡ nhanh nhưng tạo nên nhiều mảnh vỡ
lớn. Ngược lại, nếu dùng năng lượng vừa phải và nhịp độ phát sóng xung
được tăng cường thì viên sỏi sẽ vỡ vụn và thoát ra qua niệu quản dễ dàng hơn.
Các mô mềm có thể dẫn truyền sóng xung, nhưng có thể bị tổn thương nặng
18
hay nhẹ tuỳ theo vị trí của chúng so với tiêu điểm F2 lớn hơn, có thể xuất hiện
tổn thương ở các ống thận hoặc các mạch máu gây ổ tụ máu nhá trong nhu mô
thận (tĩnh mạch cung) hoặc tụ máu quanh thận (động mạch liên thuỳ). Vì vậy,
việc định vị rất quan trọng để tránh tổn thương nhu mô thận hoặc các cơ quan
khác (phổi, tụy, rột, gan…) [51], [58], [80] .
Hình 1.3. Sơ đồ công phá sỏi bằng sóng xung.
1.5.2.2. Các nguồn phát sóng xung.
Các nguồn phát sóng xung dựa trên nguyên tắc biến năng lượng điện
thành những loạt sóng xung âm thanh để phá vì sỏi [37], [73], [79]
Hiện nay trên thế giới có 3 phương pháp tạo sóng xung :
- Tạo sóng xung bằng phương pháp điện thuỷ lực.

bằng siêu âm. Nếu sử dụng X quang trong một phút với 90 KV và 3.0 mA có
thể chịu được 3 rad. Nhưng một pha chụp nhanh (500 mili giây) với 60 KV,
160 mA thì chỉ chịu 0,5 rad.
20
1.5.3. Chỉ định và chống chỉ định tán sỏi niệu quản ngoài cơ thể [44], [45],
[75].
1.5.3.1. Chỉ định.
- Kích thước viên sỏi từ 5- 20 mm
- Số lượng viên sỏi < 2 viên ở một bên niệu quản và phải ở 2 vị trí khác
nhau
- Chức năng thận còn tốt, còn bài tiết nước tiểu đÓ tạo áp lực đẩy vụn
sỏi xuống bàng quang.
- Không có dấu hiệu tắc nghẽn đường bài tiết nước tiểu phía dưới viên
sỏi định tán.
- Không có nhiễm khuẩn đường niệu
- Viên sỏi không nằm chồng lên xương.
- Sỏi có độ cản quang phát hiện được trên phim X quang
Kết quả tán sỏi ngoài cơ thể phụ thuộc rất nhiều vào thành phần hoá học
của sỏi, những sỏi quá rắn (cystin) hay mềm như sỏi (calculmus) nói chung là
khó tán vì không vỡ hoặc vỡ lại quánh lại với nhau không đào thải được.
1.5.3.2. Chống chỉ định:
- Sỏi có đường kính > 2 cm
- Sỏi quá rắn như sỏi cystin, sái acid uric hoặc sỏi mềm (calculmus).
- Sỏi nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn niệu.
- Trẻ em nhỏ tuổi
- Phụ nữ có thai.
- Bệnh nhân đang mang máy tạo nhịp tim.
- Bệnh nhân suy thận
- Bệnh nhân có rối loạn đông máu
- Bệnh nhân có rối loạn về chỉnh hình xương

Cùng với việc phát triển của kỹ thuật y học, các công trình nghiên cứu
về ứng dụng và kết quả điều trị của phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể đối với
sỏi tiết niệu nói chung và sỏi niệu quản nói riêng cũng ngày càng phong phó
[42], [65],
Tại Pháp, trong 7 năm (1990 – 1997), Lamotte F. và cs. [63] phân tích
kết quả điều trị sỏi niệu quản ở 137 bệnh nhân (152 viên sỏi), trong đó có 103
bệnh nhân được tán sỏi ngoài cơ thể 1 lần và 31 bệnh nhân được tán sỏi ngoài
cơ thể 2 lần. Kết quả điều trị đạt 97%, trong đó 91% đối với sỏi niệu quản
đoạn chậu, đạt 100% là sỏi niệu quản vùng thắt lưng và chậu hông. Tác giả
cho rằng tán sỏi ngoài cơ thể áp dụng tốt cho các trường hợp sỏi niệu quản.
Tại Anh, Gnanpragasam V. J. và cs. [47] tán sỏi ngoài cơ thể cho 180
bệnh nhân sỏi niệu quản (196 viên sỏi), theo dõi 3 tháng thấy tỷ lệ hết sỏi là
88%, có 21 bệnh nhân tán sỏi ngoài cơ thể thất bại phải chuyển sang tán sỏi
qua niệu quản. Các tác giả thấy rằng tỷ lệ hết sỏi là 90% đối với sỏi niệu quản
trên, 89% với sỏi niệu quản 1/3 giữa và 86% với sỏi niệu quản ở đoạn 1/3
dưới. Những trường hợp thất bại thường có kích thước sỏi lớn hơn 1,3 cm.
Kupeli B. và cs. [54] ở trường Đại học Y khoa Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ
cũng thông báo rằng trong 4 năm (1993 – 1997) đã tiến hành tán sỏi ngoài cơ
thể cho 165 bệnh nhân với kích thước từ 4 đến 42 mm. Tác giả cho rằng tán
sỏi ngoài cơ thể là phương pháp điều trị hợp lý và có hiệu quả. Còn ở trường
Đại học Y khoa Istanbul trong 3 năm (1990 – 1993) cũng đã có 2680 trường
hợp được tán sỏi ngoài cơ thể.
Ở Nhật Bản, tác giả Inaba Y. [39] từ năm 1986 đến 1993 đã tán sỏi
ngoài cơ thể cho 238 bệnh nhân sỏi niệu quản thấy đạt kết quả 91,9% trong
đó sỏi niệu quản 1/ 3 giữa và 1/3 dưới là 86,2% - 85,2%.
23
Matsuoka Y. và cs. [59] đã tiến hành tán sỏi ngoài cơ thể bằng phương
pháp áp sứ điện trên máy ESL – 500 A cho 2019 bệnh nhân sỏi tiết niệu (815
bệnh nhân sỏi thận và 1.204 bệnh nhân sỏi niệu quản). Trong đó số lần tán
trung bình là 1,49 lần với sỏi thận và 1,16 lần với sỏi niệu quản. Số trường

1994- 2/1995, và cũng đã thu được những thành công nhất định [9].
Năm 1996, tại bệnh viện Việt - Đức đã được trang bị máy STORZ
Modulith của CHLB Đức và trong 5 năm (1996-2000) đã tán sỏi ngoài cơ thể
cho 687 bệnh nhân, với 700 sỏi tiết niệu, bao gồm 467 sỏi thận và 224 sỏi
niệu quản. Số bệnh nhân tán vụn sỏi và hết sỏi (stonefree) sau 2 ngày là 325
(46,4%) và sau 3 tháng là 569 (89,3%). Không có trường hợp tử vong và biến
chứng nặng nào [28], [29],
Nguyễn Bửu Triều và cs. [29] đánh giá hiệu quả của 296 lần tán sỏi
niệu quản ngoài cơ thể thấy kết quả điều trị đối với sỏi niệu quản trên (216
trường hợp) và dưới (80 trường hợp) như sau: vỡ vụn (50,0% và 37,0%), vỡ
thành mảnh khoảng 2 mm (12,0% và 9,0%), vì > 5 mm (16% và 27%) và
không vỡ (22% và 7%). Tại trung tâm tán sỏi Quy Nhơn từ tháng 6/1998 đến
tháng 12/2000 đã điều trị cho 1136 bệnh nhân, còn ở trường Đại học Y khoa
Huế từ tháng 5/2001 đã điều trị cho 170 bệnh nhân và cũng không có trường
hợp nào có biến chứng nặng [16], [16].
Từ tháng1/2001 đến tháng 6/2002, tại bệnh viện C Thái Nguyên cũng
đã tán sỏi ngoài cơ thể cho 105 bệnh nhân sỏi thận, không gặp trường hợp nào
có biến chứng nặng. Tỷ lệ hết sỏi sau 1 lần tán là 42,98% và sau 3 lần tán là
86,84% [22].
Ngày nay hầu hết các tỉnh thành phố lớn trong cả nước đều có máy tán
sỏi ngoài cơ thể như Quảng Ninh, Thái Bình, Đà Nẵng, Cần Thơ, Bệnh viện
25
108, Bệnh viện 103… và đã có hàng nghìn bệnh nhân được điều trị với tỷ lệ
thành công cao và không có biến chứng nguy hiểm.
Tóm lại, sỏi tiết niệu nói chung và sỏi niệu quản nói riêng là bệnh hay
gặp và có nhiều phương pháp điều trị. Hiện nay, tán sỏi ngoài cơ thể là
phương pháp thường được lựa chọn hàng đầu, nhưng hiệu quả tán sỏi phụ
thuộc vào nhiều yếu tố như: máy tán sỏi, hòn sỏi (thành phần hoá học, kích
thước, vị trí), kinh nghiệm của chuyên gia tán sỏi.
Chương 2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status