Đặt vấn đề
Viêm loét đại trực tràng chảy máu (VLĐTT chảy máu) là bệnh mạn
tính, kéo dài, hay tái phát, gây nhiều biến chứng và có tỷ lệ tử vong cao. Bệnh
được biết đến từ lâu nhưng nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh hiện nay vẫn
chưa rõ ràng.
VLĐTT chảy máu phân bè thay đổi theo chủng tộc người và từng vùng
địa lý khác nhau. Bệnh hay gặp ở người da trắng, người Do thái. Bệnh khá
phổ biến ở các nước châu Âu và châu Mỹ nhưng hiếm gặp ở châu Phi, châu
Á. VLĐTT chảy máu khá phổ biến ở Mỹ với tỷ lệ mới mắc là 15/100.000
dân/năm và tỷ lệ mắc là 200/100.000 dân. [58]. Tại khu vực châu Á mặc dù tỷ
lệ mới mắc và tỷ lệ mắc bệnh VLĐTT chảy máu có thấp hơn so với châu Âu
và Bắc Mỹ, nhưng gần đây có xu hướng tăng dần. Ở Trung Quốc từ năm 1981
– 1990 có 2506 trường hợp. Sau 10 năm (1991 – 2000) tỷ lệ này tăng gấp 3
lần (7512 trường hợp)[34]. Ở Nhật Bản, tỷ lệ mới mắc năm 1975 là
5,5/100.000, đến năm 2001 là 57,1/100.000. [4]
Tại Việt Nam, trong thập kỷ 70 - 80, bệnh VLĐTT chảy máu là một
bệnh hiếm gặp, nhưng các gần đây bệnh đang có xu hướng gia tăng [27].
Trong nghiên cứu của La Văn Phương năm 2001, VLĐTT chảy máu chiếm
khoảng 1,7% trong sè các bệnh nhân được soi đại tràng [6]. Chẩn đoán đúng
bệnh là rất quan trọng trong việc tiên lượng và điều trị, cũng như giảm các
biến chứng nặng nề do bệnh gây ra. Tuy nhiên, việc chẩn đoán xác định
VLĐTT chảy máu vẫn là chẩn đoán loại trừ dựa trên các đặc điểm lâm sàng,
nội soi và mô bệnh học. Đa sè BN có đợt tái phát trong vòng 1 năm kể từ khi
được chẩn đoán bệnh [7,14]. Có nhiều yếu tố gây ra những đợt tái phát này
như bệnh nhân bỏ thuốc, dùng liều không thích hợp, tự ý đổi thuốc, nhiễm
trùng, stress… trong đó nhiễm trùng đường ruột là một trong những nguyên
1
nhân thường gặp nhất[45]. Hơn nữa, nhiễm trùng đường ruột còn làm cho các
triệu chứng của bệnh nặng hơn. [45] Việc tìm ra loại vi khuẩn gây nên các đợt
tiến triển và điều trị kháng sinh góp phần tăng tỷ lệ điều trị thành công, cũng
như tránh phải dùng corticoid hoặc thuốc ức chế miễn dịch không thích
Ở Mỹ, năm 1960 cứ 100.000 dân thì có 3 người mới mắc bệnh VLĐTT
chảy máu. [42]. Đến năm 1980 cứ 100.000 dân thì có 11 người mới mắc bệnh
[48,57]. Hiện nay con số này đã tăng lên rất nhiều, cứ 100.000 dân thì có tới
100 người mắc bệnh với 20 người mới mắc bệnh hàng năm. [58]
3
Ở Bắc Âu, từ 1991 – 1993 tỷ lệ mới mắc là 11.8 [48]
Tỷ lệ mắc bệnh ở châu Á là thấp hơn so với châu Âu, nhưng gần đây tỷ
lệ mắc bệnh cũng đang tăng lên. Điều này thể hiện trong bảng 1.1
Bảng 1.1: Tỷ lệ mắc bệnh VLĐTT chảy máu ở các quốc gia châu Á [4]
Khu vực Năm VLĐT
Nhật Bản
1975
1985
1991
2001
5,5/100.000
7,85/100.000
18,2/100.000
57,1/100.000
Seoul (Hàn Quốc)
1997
2001
7,57/100.000
14,5/100.000
- Tỷ lệ mắc bệnh nam/nữ xấp xỉ bằng 1 [7].
- Bệnh hay gặp ở lứa tuổi trẻ dưới 40, đôi khi có tính chất gia đình [2].
Thời điểm khởi phát bệnh hay gặp nhất là từ 15 – 40 tuổi [48] Tuy nhiên,
bệnh có thể xảy ra ở bất kỳ tuổi nào, có khoảng > 15% ở thời điểm chẩn đoán
là trên 60 tuổi [14].
- Tỷ lệ tử vong ngày nay đã giảm đi nhiều so với trước đây do có nhiều
số lượng với tỷ lệ VK ái khí/ kỵ khí là 1/100. E.coli chiếm 80% sè VK ái khí,
các VK khác bao gồm trực khuẩn sữa, liên cầu, tụ cầu, đôi khi còn gặp TK
Citrobacter, Arizona, Klebsiella, Proteus, Shigella, TK Enterobacter
(aerogenes, cloacae) VK kỵ khí chủ yếu là các loại Gram âm. Các loại VK
kỵ khí Gram (+) Ýt gặp hơn (trực khuẩn sữa kỵ khí, tụ cầu kỵ khí, liên cầu kỵ
khí, Clostridium ). Ngoài ra còn cả nấm men với số lượng bình thường <
10.000/ 1g phân.
5
Cân bằng VK có thể bị phá vỡ do nhiễm VK gây bệnh, hoặc do một
loại VK thường trú hay nấm men phát triển mạnh lấn át các loại VK thường
trú khác gây ra tình trạng loạn khuẩn. Mét trong những nguyên nhân gây ra
tình trạng này là việc sử dụng kháng sinh phối hợp liều cao và kéo dài làm
tiêu diệt mất nhiều loại VK thường trú, một vài loại còn sống sót phát triển
mạnh hơn và gây bệnh [3].
Escherichia coli (E. Coli) là vi khuẩn sống ở phần thấp ống tiêu hãa,
gây nhiễm trùng ống tiêu hoá như ỉa chảy và nhiễm trùng ngoài ống tiêu hoá
như nhiễm trùng tiết niệu, viêm màng não, viêm phúc mạc, nhiễm khuÈn
huyết, viêm tuyến vú. Klebsiella pneumoniae là trực khuẩn hình gậy, không
di động, có vỏ, lên men lactose, có thể tìm thấy ở niêm mạc miệng, da, ống
tiêu hoá, là thành phần quan trọng nhất của giống Klebsiella. K. Pneumoniae
thường gây nhiễm khuẩn tiết niệu ở bệnh nhân nằm viện và nhiễm trùng vết
thương. K.pneumoniae xếp hàng thứ hai sau E.coli trong căn nguyên gây
nhiễm khuẩn tiết niệu ở người già, là vi khuẩn cơ hội trong bệnh nhân bị bệnh
phổi mạn tính, phì đại niêm mạc mũi, xơ hoá cuốn mũi.
Enterococus faecalis (E. Faecalis) là vi khuẩn cộng sinh cư trú ở ống
tiêu hoá của người và động vật có vú khác. E. Faecalis có thể gây nhiễm trùng
nguy hiểm đe doạ tính mạng của người đặc biệt là nhiễm trùng bệnh viện với
tỷ lệ kháng kháng sinh cao. Vi khuẩn này kháng nhiều loại kháng sinh như
nhóm aminoglycoside, aztreonam, cephalosporin, clindamycin, penicillin bán
tổng hợp, biseptol.
triệu chứng.
7
Sinh lý bệnh
Trong VLĐTT chảy máu có phản ứng viêm liên quan chủ yếu đến niêm
mạc đại tràng.
Biểu hiện bệnh là kết quả của sự tác động qua lại giữa các yếu tố gen,
môi trường và quá trình hoạt hóa liên tục của hệ miễn dịch niêm mạc ruột.
[18] Nhiều tác giả cho rằng, niêm mạc của bệnh nhân Crohn bị chi phối bởi
TB lympho CD4 với phenotyp Th1 mà sản phẩm đặc trưng là Interferon ү
và IL-2. Ngược lại, niêm mạc của bệnh nhân VLĐTT chảy máu được chi
phối bởi TB lympho CD4 với phenotyp Th2 mà sản phẩm đặc trưng là yếu
tố tăng trưởng ò (TGF-ò) và IL-5, nhưng không có IL-4. [18]
Bình thường các TB biểu mô xếp khít nhau, không để các TB, VK đi
qua. Các TB hình đài tiết ra các sản phẩm hầu hết là peptid và các
glycoprotein nhày, tạo ra sự cân bằng rất có hiệu quả chống lại các tác nhân
gây bệnh. Quá trình viêm ruột mạn tính xuất hiện là kết quả của quá trình kích
thích liên tục hệ thống miễn dịch của niêm mạc ruột bởi các sản phẩm của VK
hội sinh trong lòng ruột hoặc cũng có thể do kháng nguyên từ nguồn thức ăn
đưa vào. Sù kích thích xảy ra khi các sản phẩm của VK xâm nhập qua hàng
rào niêm mạc, tác động trực tiếp đến các TB miễn dịch, đặc biệt là các TB
lympho và TB đuôi gai, xúc tiến quá trình đáp ứng miễn dịch. Các ĐTB trình
diện kháng nguyên với các TB Th1 ở bệnh Crohn, hoặc Th2 ở bệnh VLĐTT
chảy máu gây hoạt hoá các Th1 hoặc Th2. Các Th hoạt hoá sẽ giải phóng ra
các cytokin khác nhau tác động đến các TB đích khác nhau mà kết quả là quá
trình viêm và phá huỷ tổ chức dẫn đến biểu hiện bệnh. [18]
8
Chẩn đoán xác định VLĐTT chảy máu
Bệnh thường trải qua 2 giai đoạn: giai đoạn bệnh ổn định và giai đoạn bệnh
tiến triển. Thông thường bệnh nhân đến viện vì đợt khởi phát đầu tiên hoặc đợt
tiến triển của bệnh.
Rối loạn nước và điện giải: đại tiện phân lỏng hoặc phân nhày máu với
số lượng nhiều có thể gây nên tình trạng mất nước hoặc giảm kali máu. Đây
là những dấu hiệu phản ánh tình trạng nặng của bệnh. Giảm kali máu có thể
làm gây chướng bụng, liệt ruột cơ năng và có thể tăng nguy cơ phình giãn đại
tràng nhiễm độc
Thiếu máu: là dấu hiệu hay gặp ở bệnh nhân VLĐTT chảy máu. Có
khoảng 1/3 số bệnh nhân VLĐTT chảy máu có huyết sắc tố < 120 g/dL. Tình
trạng thiếu máu có liên quan mật thiết đến chất lượng sống và là vấn đề quan
10
trọng trong quá trình điều trị những bệnh nhân mạn tính. Có rất nhiều nguyên
nhân dẫn đến tình trạng thiếu máu ở bệnh nhân VLĐTT chảy máu. MÊt máu
mạn tính qua đường tiêu hoá dẫn tới thiếu máu thiếu sắt. Một số các cytokines
viêm có thể ức chế tổng hợp erythropoietin cũng dẫn tới tình trạng thiếu máu.
Thiếu hụt axit folic do chế độ ăn kiêng, do tác dụng phụ của sulfasalazine và
methotrexat. Trong bệnh Crohn, tình trạng thiếu máu còn do giảm hấp thu
vitamin B 12 và a. folic ở đoạn cuối hồi tràng, tá tràng, giảm hấp thu sắt ở tá
tràng. [17] Trong những trường hợp bệnh nặng, có thể mất máu ồ ạt qua
đường tiêu hoá dẫn tới tình trạng thiếu máu nặng.
Biểu hiện ngoài đường tiêu hoá:
- Biểu hiện ở khớp: viêm khớp hoặc đau khớp, khoảng 25% BN bị
bệnh IBD. Viêm khớp không biến dạng ở một hoặc nhiều khớp và có tính
chất di chuyển. Khớp đầu gối, cổ chân, cổ tay là hay gặp nhất, nhưng cũng có
thể tổn thương bất cứ khớp nào. Viêm khớp ngoại vi hay gặp ở BN VLĐTT
chảy máu hơn là Crohn, và thường xuất hiện sau các triệu chứng ở ruột.
Trong khi viêm khớp trung tâm hoặc viêm cột sống dính khớp thì không liên
quan đến hoạt động bệnh ở ruột, có thể xuất hiện trước tổn thương ruột vài
năm và dai dẳng sau khi bệnh đã thoái lui sau điều trị phẫu thuật hoặc nội
khoa. [7,17]
- Biểu hiện ở da, niêm mạc: 15% BN, mức độ nặng tương quan với
mức độ hoạt động của bệnh
Ngoài ra, bệnh có thể còn kèm theo các bệnh và hội chứng liên quan
đến miễn dịch hệ thống khác như: viêm tuỵ tự miễn, bệnh lý tuyến giáp, hội
chứng Raynaud,
Đa sè BN bị tái phát trong vòng 1 năm kể từ đợt chẩn đoán bệnh đầu
tiên, phản ánh tình trạng hay tái phát của bệnh [7,14]
• VLĐTT chảy máu và thai nghén: trong giai đoạn tiến triển của bệnh sẽ
làm tăng khả năng sảy thai tự phát và đẻ non. Tuy nhiên tình trạng thai
sản không làm bệnh có biểu hiện nặng lên. Corticoid và sulfasalazin
không gây quái thai nên vẫn có thể dùng trong giai đoạn mang thai.
• VLĐTT chảy máu ở trẻ em: khoảng 30 % số bệnh nhân được chẩn
đoán trong giai đoạn thiếu niên. [59] Triệu chứng bệnh ở trẻ em thường
nặng hơn. Theo tác giả Ponsky thì có tới 90 % trẻ em VLĐTT chảy
máu có tổn thương tòan bộ đại tràng khi mới được chẩn đoán lần đầu.
Trong khi ở người lớn tỷ lệ này là 30 % [36,24]
1.5.2. Xét nghiệm máu
* Công thức máu:
- Thường gặp thiếu máu nhược sắc do tình trạng mất máu rỉ rả kéo dài.
Trong những đợt tiến triển của bệnh, có thể mất máu ồ ạt gây thiếu máu nặng.
- Bạch cầu và máu lắng tăng trong các đợt tiến triển
* Sinh hoá máu:
- Rối loạn điện giải: giảm Natri, Kali máu xảy ra khi có tình trạng đại
tiện phân lỏng hoặc nhày số lượng lớn và kéo dài.
- CRP tăng cao trong các đợt cấp.
13
- Giảm albumin huyết thanh: có thể do tình trạng mất máu, mất albumin
qua niêm mạc ruột tổn thương, đặc biệt là với những trường hợp có tổn
thương lan rộng .[7]
- Phosphatase kiềm cao chứng tỏ có thể có bệnh gan mật kết hợp.[7]
1.5.3. X- Quang
Trong VLĐTT chảy máu thường là tổn thương loét nông, vì vậy tốt
hiện bệnh qua nội soi lần đầu. Nội soi đại tràng toàn bộ có ý nghĩa rất quan
trọng trong chẩn đoán xác định, đánh giá mức độ và phạm vi tổn thương, giúp
15
phát hiện các tổn thương ác tính hoặc biến chứng, giúp tiên lượng và theo dõi
bệnh.
- Vị trí tổn thương:
Trong VLĐTT chảy máu chỉ có tổn thương ở đại tràng, không có tổn
thương ở ruột non. Trực tràng là nơi thường gặp và tổn thương nặng nề nhất,
càng lên cao đến ĐT phải thì tổn thương càng nhẹ. [7,16] Theo A. Tromm và
B. May thì 95,6% có tổn thương ở trực tràng, 80.1% có tổn thương ở ĐT
sigma, 46.6% có tổn thương ở ĐT xuống, 33.1% có tổn thương ĐT ngang,
27.1% có tổn thương ĐT lên, 15.5% có tổn thương manh tràng. [60]
Trong VLĐTT chảy máu rÊt Ýt gặp tổn thương ở hậu môn (dò, tổn
thương da quanh hậu môn ). Không có tổn thương ở hồi tràng. Trừ trường
hợp viêm đoạn cuối hồi tràng “viêm hồi tràng xoáy ngược” trong bệnh cảnh
VLĐTT chảy máu có tổn thương toàn bộ đại tràng.[40]
- Đặc điểm tổn thương: có một số đặc điểm tổn thương đặc trưng:
+ Xung huyết
+ Phù nề
+ Mủn
+ Không còn nhìn rõ các mạch máu dưới niêm mạc, mất các rãnh
ngang của đại tràng.
+ BÒ mặt niêm mạc lần sần mà trên nội soi khi nghiêng đèn sẽ thấy
hình ảnh niêm mạc như “giấy giáp Èm” .
+ Giả polyp: không đặc hiệu, nhưng hay gặp trong VLĐTT chảy máu
(khoảng 20% trường hợp). Các giả polyp có kích thước từ vài mm đến vài
cm. Chúng có xu hướng dài hơn chiều rộng, có thể giống hệt nh khối u,
16
nhưng sinh thiết làm MBH chỉ là tổn thương viêm mạn tính. Giả polyp có liên
quan đến mức độ nặng và phạm vi tổn thương rộng của bệnh. [7]
ĐT bình thường VLĐTT chảy máu mức độ nhẹ
VLĐTT chảy máu mức độ vừa VLĐTT chảy máu mức độ nặng
1.5.6. Mô b nh h cệ ọ [2, 7, 28, 49,33]
18
Đã có rất nhiều nghiên cứu khác nhau để tìm ra các tiêu chuẩn chính
chẩn đoán VLĐTT chảy máu trên mô bệnh học. Năm 1991, Seldenrijk dựa
trên tập hợp 41 tiêu chuẩn MBH để đưa ra chẩn đoán phân biệt VLĐTT chảy
máu, Crohn và các bệnh viêm đại tràng cấp do vi khuẩn. Qua kết quả nghiên
cứu, Seldenrijk nhận thấy rằng để phân biệt IBD và viêm đại tràng cấp do vi
khuẩn dựa trên sự kết hợp ba đặc điểm: tăng lympho bào và tương bào ở mô
đệm, khe hốc chia nhánh, BCĐNTT trong TB biểu mô khe hốc (apxe khe
hốc) cho phép chẩn đoán chính xác tới 89% trường hợp IBD. Để phân biệt
Crohn và VLĐTT chảy máu thì kết hợp 3 đặc điểm cơ bản nhất là: u hạt, tổn
thương bề mặt niêm mạc và sù lan tràn các mô bào huyết cho phép chẩn đoán
chính xác 75% trường hợp.[53] Đến năm 1997, Hội tiêu hoá Anh đã đưa ra
guidline về giải phẫu bệnh cho việc chẩn đoán IBD. [33] Theo guideline trên
thì chẩn đoán VLĐTT chảy máu trên MBH dựa vào các tiêu chuẩn sau:
- Bất thường về cấu trúc niêm mạc:
+ Biểu mô phủ bong tróc, mÊt sự bằng phẳng của bề mặt niêm mạc
+ Phá huỷ cấu trúc khe tuyến: Bình thường các khe tuyến xếp song song
và nằm sát nhau, chạy thẳng từ lớp cơ niêm đến bề mặt. Trong VLĐTT chảy
máu, các tuyến ngắn lại, giãn rộng, mất sự song song và chia nhánh. Khoảng
cách giữa các tuyến giãn rộng không còn nằm sát nhau.
+ Giảm mật độ tuyến: Trung bình có từ 7 - 8 tuyến/mm chiều dài niêm
mạc và các tuyến xếp khít nhau, trong VLĐTT chảy máu do quá trình viêm
mạn tính kéo dài dẵn tới số lượng tuyến giảm còn 4 – 5 tuyến/mm chiều dài
niêm mạc.
+ Các TB hình đài giảm số lượng và cạn kiệt chất nhày trong lòng chính
những TB tiết nhày này [33].
song giữa các khe rãnh, trong trường hợp này chưa được phép kết luận là
VLĐTT chảy máu.
* Giai đoạn viêm cấp, giai đoạn bệnh hoạt động:
+ Tổn thương lan toả (có sù thay đổi là tương tự nhau ở tất cả các mảnh
sinh thiết). Biểu mô phủ niêm mạc bong tróc, bề mặt niêm mạc mất sự bằng
phẳng.
+ Tăng số lượng TB viêm mạn trên mô đệm và có thể xâm nhập qua bề
mặt vào lớp dưới niêm mạc.
+ Giảm số lượng TB hình đài, kèm theo TB hình đài trống rỗng cạn
kiệt hết chất nhày do bài tiết quá mức.
+ Nổi bật là hình ảnh apxe khe hốc (BCĐNTT nằm trong lòng khe
tuyến), viêm khe tuyến (BCĐNTT nằm trong TB biểu mô tuyến), các tuyến
chia nhánh. Khe tuyến biến dạng, méo mó cùng với tăng số lượng tương bào
ở phần đáy của niêm mạc được coi là tiêu chuẩn rất có Ých để phân biệt
VLĐTT chảy máu với các viêm ĐT mạn khác (VĐT do nhiễm trùng,….).
Cũng có thể thấy hình ảnh trên trong viêm ĐT liên quan đến bệnh lý túi
thừa, nhưng khác là tổn thương ở trực tràng rất sơ sài và thường chỉ tổn
thương tập trung ở vùng có túi thừa.
+ Dị sản, loạn sản: sau quá trình viêm mạn tính lâu ngày, xuất hiện loạn
sản, dị sản TB Paneth, dị sản TB giả môn vị.
Bảng 1.2: Một số đặc điểm MBH giúp phân biệt VLĐTT chảy máu với
Crohn, viêm ĐT do nhiễm khuẩn:
21
Đặc điểm
VLĐTT
chảy máu
VLĐTT
chảy máu
giai đoạn
ổn định
BCĐNTT trên mô đệm Không Không Không Có
U hạt Không Không Có >28% Hiếm có
Viêm dưới niêm mạc Hiếm có Hiếm có Có/không Hiếm có
Tổn thương lớp cơ Không Không Có Không
Các TB niêm mạc bề mặt cũng nh biểu mô khe hốc và dưới niêm mạc
bị phản ứng viêm có thâm nhiễm bạch cầu đa nhân trung tính. Quá trình viêm
tiến triển dẫn tới tổn thương biểu mô và mất các tế bào biểu mô bề mặt gây ra
loét nông trên bề mặt. Thâm nhiễm bạch cầu đa nhân trung tính các khe, hốc
dẫn đến các apxe nhá khe hốc (nhưng không đặc hiệu) và cuối cùng là phá
huỷ chúng. Cũng có thể mất biểu mô khe hốc với mất các TB hình đài (có vai
trò sản xuất chất nhày) và phù dưới niêm mạc.
22
Cùng với chu trình viêm lặp đi lặp lại, phát triển xơ hoá nhẹ dưới niêm
mạc. Hoạt động tái sinh được thể hiện bằng biểu mô khe hốc không đều
thường chia 2 nhánh ở đáy các khe hốc.
Khi viêm loét ĐT kéo dài lâu ngày, biểu mô bề mặt có thể cho thấy các
nét đặc trưng của loạn sản. Các biến đổi không điển hình về nhân và TB được
nghĩ là biểu hiện biến đổi tiền ác tính xảy ra trong bệnh viêm loét ĐT lâu
ngày có kết hợp với nguy cơ đáng kể bị ung thư biểu mô cùng tồn tại ở đâu đó
trong ĐT và có thể ảnh hưởng đến quyết định khuyên cắt bỏ ĐT.[7]
1.5.7. Biến chứng của VLĐTT chảy máu
- Ung thư hoá: trong 1 phân tích meta của J A Eaden, K R Abrams and
J F Mayberry năm 2001 thì có khoảng 3,7% sè BN VLĐTT chảy máu có
nguy cơ bị ung thư. Nguy cơ ung thư hoá ở bệnh nhân VLĐTT chảy máu tăng
lên theo thời gian bị bệnh. Tỷ lệ mắc ung thư đại trực tràng trong 10 năm đầu
của bệnh là 2%, sau 20 năm bị bệnh là 8% và sau 30 năm là 18%. Ở Mỹ, tỷ lệ
BN bị ung thư hoá là 5/1000, ở Anh là 4/1000 và các nước khác là 2/1000
[22]
- Phình giãn đại tràng nhiễm độc: khi đại tràng ngang có đường kính
> 6 cm, xuất hiện các triệu chứng nhiễm trùng, nhiễm độc. Chẩn đoán phình
Charcot Leyden với hình ảnh tổn thương viêm cấp tính.
+ Viêm ĐT giả màng do độc tố Clostridium dificile: trên hình ảnh nội
soi thường chỉ có tổn thương ở ĐT sigma và rất đặc trưng bởi các mảng màu
vàng nhạt, kín đáo, bám rất chặt vào bề mặt niêm mạc. MBH cho thấy các dấu
hiệu của viêm cấp và loét có giả mạc fibrin và chất hoại tử. Thường có tiền sử
dùng kháng sinh trước đó (trừ metronidazol và quinolon) hoặc nhiễm trùng
bệnh viện.
24
- Viêm đại tràng thiếu máu: Thường khởi phát đột ngột, bệnh nhân
đau nhiều, hay gặp ở bệnh nhân nhiều tuổi, kèm theo bệnh lý mạch máu
- Hội chứng ruột kích thích: Chẩn đoán theo tiêu chuẩn Rome II
- Lao ruột: vị trí tổn thương thường ở phần cuối hồi tràng, cũng có thể
gây tổn thương ở manh tràng kề bên và ĐT lên. Hình ảnh tổn thương có thể
có loét lớn, hẹp, dò. Viêm u hạt trong lao ruột có thể không phân biệt được
với Crohn, cần phải nuôi cấy tìm vi khuẩn lao và nhuộm tìm trực khuẩn
kháng cồn toan. Mô bệnh học có thể thấy hình ảnh nang lao điển hình với
chất hoại tử bã đậu, tế bào bán liên.
- Crohn:
Có khoảng 10 – 20 % không phân biệt được giữa Crohn và VLĐTT
chảy máu [8]
Trong bệnh Crohn, thường là tổn thương ổ, gián đoạn, tổn thương sâu
đến lớp cơ, tổn thương cả ở đại tràng và ruột non, dạ dày, tá tràng. Trong khi
VLĐTT chảy máu có đặc điểm là tổn thương nông không xâm lấn đến lớp cơ,
lan toả, liên tục, chỉ tổn thương ở đại tràng.
Trên hình ảnh nội soi: đặc điểm đặc trưng là loét không liên tục. Giai
đoạn sớm có hình ảnh loét áptơ trên nền niêm mạc bình thường, giai đoạn sau
có hình ảnh loét sâu nham nhở hình bản đồ, hoặc loét vòng, ranh giới rõ ràng,
có thể có hình ảnh hẹp, dò. Hình ảnh sỏi cuội chứng tỏ quá trình loét và hoại
tử tái phát nhiều lần và kéo dài.[51] VLĐTT chảy máu thường không bao giờ
dẫn đến tổn thương hẹp và dò như Crohn. [7]