1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC THÁI NGUYÊN
NGÔ THÚY HÀ
TÊN SEMINAR:
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CẬN LÂM SÀNG VÀ
MỘT SỐ CYTOKINE Ở BỆNH NHÂN VIÊM LOÉT ĐẠI
TRỰC TRÀNG CHẢY MÁU
TÊN LUẬN ÁN:
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CẬN LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ
CYTOKINE Ở BỆNH NHÂN VIÊM LOÉT ĐẠI TRỰC TRÀNG CHẢY MÁU
SEMINAR TỔNG THỂ
THÁI NGUYÊN - 2017
2
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC THÁI NGUYÊN
NGÔ THÚY HÀ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CẬN LÂM SÀNG
VÀ MỘT SỐ CYTOKINE Ở BỆNH NHÂN VIÊM LOÉT
Cyclosporine
Inflammatory bowel disease - viêm ruột mạn tính tự phát
Infliximab
Interleukin
Interferon
Lactate dehydrogenase
Hemoglobin
Hematocrid
Human Immunodeficiency Virus infection - Hội chứng suy giảm
TAC
TGF
Th
TNF-α
VLĐTTCM
miễn dịch mắc phải.
Tacrolimus
Transforming growth factor - yếu tố phát triển chuyển dạng
tế bào T hỗ trợ
Tumor necrosis factor alpha - yếu tố hoại tử u alpha
Viêm loét đại trực tràng chảy máu
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ............................................................................................................1
Chương 1. TỔNG QUAN...........................................................................................3
1.1. Đặc điểm dịch tễ bệnh viêm loét đại trực tràng chảy máu............................ 3
1.1.1. Trên thế giới............................................................................................3
1.1.2. Tại Việt Nam...........................................................................................5
3.3. Mối liên quan giữa nồng đọ một số cytokine trong huyết thanh với một số
đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng.................................................................54
Chương IV. BÀN LUẬN...........................................................................................63
4.1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân viêm loét đại trực tràng chảy
máu...............................................................................................................63
4.1.1. Đặc điểm chung...................................................................................63
4.1.2. Đặc điểm cận lâm sàng.........................................................................63
KẾT LUẬN..............................................................................................................86
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................89
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Các nghiên cứu tư Châu Âu về tỷ lệ mắc bệnh VLĐTTCM.............................3
Bảng 1.2: Tỷ lệ mắc bệnh VLĐTTCM ở các quốc gia Châu Á........................................4
Bảng 1.3. Tỷ lệ giới tính và độ tuổi mắc bệnh VLĐTTCM ở một số nghiên cứu...............5
Bảng 1.4. Biểu hiện triệu chứng lâm sàng qua nghiên cứu của một số tác giả...................7
Bảng 1.5. Biểu hiện mức độ bệnh qua một số nghiên cứu.................................................
Bảng 1.6. Tổng protein huyết thanh khi điện di ở nhóm bệnh và nhóm chứng................14
Bảng 1.7. Tỷ lệ mắc bệnh trung bình theo tuổi và giới qua một số nghiên cứu....................
Bảng 1.8. Biểu hiện triệu chứng lâm sàng qua một số nghiên cứu......................................
Bảng 1.9. Phạm vi tổn thương và mức độ bệnh qua một số nghiên cứu
Bảng 1.10. Kết quả một số xét nghiệm qua một số nghiên cứu
Bảng 1.11.Tỷ lệ hình ảnh tổn thương trên nội soi qua một số nghiên cứu...........................
Bảng 1.12. Bảng phân loại giai đoạn theo Baron..........................................................24
Bảng 1.13. Phân loại mức độ bệnh theo Troulove và Witts............................................25
Bảng 1.14. Phân loại mức độ theo Robert C. Langan....................................................26
Bảng 1.15. Phân loại mức độ theo Surtheland..............................................................26
Bảng 1.16. Phân loại mức độ theo Bret A. Lashner.......................................................27
Bảng 1.17. Phân loại thể bệnh và đánh giá mức độ theo Montreal.....................................
Bảng 1.18. Phân loại mức độ hoạt động của viêm trên mô bệnh họcError! Bookmark not
Bảng 3.22. Nồng độ một số cytokine với thời gian mắc bệnh............................................
Bảng 3.23. Nồng độ một số cytokine với triệu chứng lâm sàng......................................54
Bảng 3.24. Nồng độ một số cytokine với số lần đại tiện trong ngày
Bảng 3.25. Nồng độ một số cytokine với đặc điểm hồng cầu, Hb và HCT......................55
Bảng 3.26. Nồng độ một số cytokine với đặc điểm bạch cầu, CRP, máu lắng.................59
Bảng 3.27. Nồng độ một số cytokine với kali máu, albumin..............................................
Bảng 3.28. Nồng độ một số cytokine với các phần protein khi điện di............................60
Bảng 3.29. Nồng độ một số cytokine với các globulin miễn dịch...................................60
Bảng 3.30. Nồng độ một số cytokine với giai đoạn tổn thương trên nội soi theo Baron....55
Bảng 3.31. Nồng độ cytokine với phân loại mức độ theo Avuduk C...............................55
Bảng 3.32. Nồng độ một số cytokine với hình ảnh nội soi.............................................56
Bảng 3.33. Nồng độ một số cytokine theo mức độ mất máu..........................................57
Bảng 3.34. Nồng độ một số cytokine với mức độ bệnh theo Sutherland.........................57
Bảng 3.35. Nồng độ một số cytokine với đặc điểm hồng cầu.........................................62
Bảng 3.36. Nồng độ một số cytokine với đặc điểm huyết sắc tố.....................................62
Bảng 3.37. Mối tương quan giữa nồng độ một số cytokine với một số yếu tố.................62
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm loét đại trực tràng chảy máu (VLĐTTCM) là bệnh viêm mạn tính, có tính
chất tự miễn, gây loét và chảy máu đại trực tràng, gây tổn thương lan tỏa lớp niêm mạc
và dưới niêm mạc, vị trí tổn thương chủ yếu ở trực tràng và giảm dần cho đến đại tràng
phải. Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng lứa tuổi thường gặp là 15 - 30 hoặc ít gặp hơn
ở tuổi tư 50 - 70. Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh hiện nay chưa rõ và chưa có thuốc
điều trị đặc hiệu chữa khỏi căn bệnh này. Diễn biến bệnh phức tạp, hay tái phát, khó
điều trị và để lại nhiều biến chứng có thể dẫn đến tử vong , .
Trước đây, bệnh VLĐTTCM được coi hiếm gặp, gần đây được chẩn đoán ngày
xuất IL-8 (là cytokine có vai trò huy động mạnh các bạch cầu đa nhân trung tính về ổ
viêm, tăng bám dính vào tế bào nội mô). IL-1, IL-6 và TNF-α tác động lên vùng dưới
đồi gây tăng thân nhiệt, tăng sản xuất CRP tại gan .
Tại Việt Nam, trước đây chưa có báo cáo công bố về nồng độ cytokine ở bệnh
VLĐTTCM. Trong thời gian gần đây mới có một nghiên cứu bước đầu khảo sát nồng
độ TNF-α. Kết quả cho thấy có tăng nồng độ TNF-α nhưng không liên quan với mức
độ nặng của bệnh, nên việc nghiên cứu thêm nhiều các cytokine khác ở bệnh nhân
VLĐTTCM nếu có thể, sẽ rất hữu ích khi áp dụng trong thực hành lâm sàng hàng ngày
tại các Bệnh viện để tiên lượng cũng như áp dụng các phương pháp điều trị thích hợp
dựa trên cơ chế tác động của cytokine với mục đích giảm các biến chứng và tỷ lệ tử
vong do bệnh gây ra. Vì vậy trong công trình nghiên cứu này chúng tôi tiến hành đề
tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số cytokine ở bệnh
nhân viêm loét đại trực tràng chảy máu” với hai mục tiêu sau:
1. Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và nồng độ một số cytokine ở
bệnh nhân viêm loét đại trực tràng chảy máu.
2. Xác định mối liên quan giữa nồng độ một số cytokine trong huyết thanh
với mức độ nặng của bệnh nhân viêm loét đại trực tràng chảy máu.
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Đặc điểm dịch tễ học bệnh viêm loét đại trực tràng chảy máu
1.1.1. Trên Thế giới
Hiện nay, tỷ lệ mắc bệnh VLĐTTCM tăng theo thời gian, khác nhau tuỳ
tưng vùng địa lý và thay đổi theo chủng tộc người. Bệnh phổ biến ở các nước
châu Âu và châu Mỹ. Tỷ lệ ở người da trắng mắc bệnh cao hơn người da mầu và
người Do Thái mắc bệnh gấp 3 đến 6 lần so với các chủng tộc khác . Ngoài độ
chênh lệch về tần xuất mắc bệnh ở châu Âu và châu Á người ta còn thấy ở châu
2007
Wilson
Lakatos
2010
2011
Canada
Newzealan
d
USA
France
Corsica,
France
Australia
Hungary
Năm nghiên
cứu
1998 - 2000
Tỷ lệ mắc
9,9 - 19,2
2004
7,6
1990 - 2000
một số nghiên cứu ở bắc Mỹ đã xác định tỷ lệ hiện mắc cao đến 200/100.000
người .
Tại châu Á, tỷ lệ mắc bệnh VLĐTTCM là thấp hơn so với châu Âu và tỷ
lệ bệnh đang tăng lên rất nhanh tại Nhật Bản, Bắc Triều Tiên, Singapore, Hong
Kong, bắc Ấn độ những vùng mà trước đây cho rằng có tỷ lệ bệnh thấp. Tại
Hong Kong, tỷ lệ tăng gấp 6 lần trong hai thập kỷ qua . Điều này, cho thấy tỷ lệ
mắc bệnh tăng dần và khác nhau theo mỗi quốc gia, phụ thuộc vào chủng tộc
người và được minh hoạ trong bảng dưới đây:
Bảng 1.2: Tỷ lệ mắc bệnh ở các quốc gia châu Á .
Khu vực
Nhật Bản
Hàn Quốc
Năm
1975
1985
1991
2001
1997
2001
Tỷ lệ mắc VLĐTTCM
5,5/100.000
7,85/100.000
18,2/100.000
57,1/100.000
7,57/100.000
14,5/100.000
Daniel S. Pearl và CS
Elver Dolar
Biljana Radovanović-Dinić
Sadiqul Islam và CS
Mustafa Qureshi và CS
Ali Jabbar Eidan và CS
Tuổi trung
bình
Tỷ lệ
nam/nữ
44 ± 15,1
40,0 ± 12,1
41,5 ± 12
40,0 ± 2,0
40,7
45,6 ± 17,5
45,6 ± 1,6
39,0 ± 18,0
41,25
1,09
1,2
38,7 ± 11,8
41,0 ± 15,475
Tỷ lệ
gia tăng. Năm 2010, nghiên cứu của Hoàng Đăng Mịch, Lê Văn Thiệu đánh
giá trên 1402 bệnh nhân đến khám và nội soi đại tràng cho thấy bệnh
VLĐTTCM chiếm 1,9% trong tổng số bệnh nhân được khám và nội soi đại
tràng . Nhưng hiện nay vẫn chưa có tài liệu nào công bố có tính hệ thống.
Điều này, cho thấy việc nghiên cứu bệnh VLĐTTCM tại Việt Nam chưa được
quan tâm nhiều và vấn đề dịch tễ học về bệnh VLĐTTCM cần phải được điều
tra nghiên cứu cụ thể về tỷ lệ hiện mắc trong những năm tới.
Về lứa tuổi mắc bệnh và giới tính, các nghiên cứu cho thấy bệnh thường
gặp ở lứa tuổi trẻ (Nguyễn Văn Thắng cho thấy lứa tuổi dao động tư 20 -75 ,
nghiên cứu của Nguyễn Văn Dũng là 32 - 74 ). Một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ
6
nam nữ mắc bệnh là tương đương , . Tuy nhiên, cũng có nghiên cứu ghi nhận nữ
mắc bệnh chiếm ưu thế hơn nam (Mai Đình Minh là nữ/nam = 1,55 , Nguyễn
Văn Hưng là 1,4 ). Kết quả nghiên cứu về tuổi và giới của một số nghiên cứu
bệnh VLĐTTCM được trình bày ở bảng sau:
Bảng 1.7. Tỷ lệ tuổi và giới mắc bệnh qua một số nghiên cứu
Khúc Đình Minh
Nguyễn Thị Thu Hiền
Vũ Văn Khiên và cs
Nguyễn Văn Thắng
Lê Thị Kim Liên
Phạm Văn Dũng
Mai Đình Minh
Năm
Năm
công bố nghiên cứu
1/1,29
1/1,2
1.2. Đặc điểm lâm sàng bệnh viêm loét đại trực tràng chảy máu
Viêm loét đại tràng chảy máu là một bệnh mạn tính được đặc trưng bởi
tình trạng viêm lan tỏa niêm mạc đại tràng và luôn liên quan đến trực tràng (tức
là viêm trực tràng) và nó có thể viêm mở rộng đến đại tràng sigma, đại tràng
xuống (tức viêm đại tràng bên trái) hoặc viêm toàn bộ đại tràng (tức là viêm đại
tràng nặng) . Hiện nay, chẩn đoán VLĐTTCM được dựa trên sự kết hợp lâm
sàng, nội soi và mô bệnh học , .
Bệnh có thể ở giai đoạn ổn định hoặc giai đoạn hoạt động. Các triệu
chứng bệnh đi tư mức độ nhẹ, trung bình và đến nặng. Các triệu chứng
thường nghèo nàn và không điển hình ở mức độ nhẹ. Ngược lại, ở mức độ
nặng thì các dấu hiệu lâm sàng biểu hiện rõ. Nói chung mức độ nặng của triệu
chứng phản ánh mức độ lan rộng của tổn thương và cường độ viêm hay các
biểu hiện lâm sàng nặng thường gắn liền với tổn thương viêm đại tràng nặng , .
Về mặt lâm sàng, trong giai đoạn tiến triển hay giai đoạn hoạt động, diễn
biến bệnh được biểu hiện chủ yếu qua các triệu chứng toàn thân và cơ năng, còn
các triệu chứng thực thể là không đặc hiệu .
Các triệu chứng toàn thân thường gặp là sốt, sút cân, thiếu máu. Bệnh
nhân có thể có sốt nhẹ hoặc sốt cao tùy thuộc vào mức độ của bệnh. Dấu hiệu
sút cân xuất hiện tùy thuộc vào tình trạng của bệnh, nguyên nhân là do tình trạng
suy dinh dưỡng kéo dài và thường xảy ra ở những bệnh nhân có tổn thương lan
7
rộng. Tình trạng thiếu máu phụ thuộc vào mức độ mất máu theo phân, số lượng
máu, thời gian mất máu và thiếu máu là triệu chứng có thể phản ánh là bệnh mạn
tính cũng như thiếu hụt sắt do mất máu mạn , hoặc do một số cytokine viêm có
thể ức chế tổng hợp erythropoietin .
2,2
0,0
25,0
30,0
10,3
39,3
47,1
Sút
cân
6,0
27,7
18,52
32,5
55,0
51,3
92,9
54,9
Đau
bụng
14,0
74,1
77,78
82,5
80,0
64,1
85,7
66,7
Mức độ (%)
Tác giả
Mustafa Qureshi và CS
Sadiqul Islam và CS
Yasemin Ozin và CS
Gabriela Fonseca-Camarillo
XueLiang Jiang
Daniel S. Pearl và CS
Vũ Văn Khiên và CS
Khúc Đình Minh
Nguyễn Thị Thu Hiền
Lê Thị Kim Liên
Phạm Văn Dũng
Mai Đình Minh
Nhẹ
Vưa
Nặng
9,2
0,0
31,7
3,0
70,2
56,3
50,5
42,5
30,0
Ngoài các triệu chứng được trình bày ở trên, thì ở bệnh nhân VLĐTTCM
có thể có phối hợp với bệnh lý của một số cơ quan khácđược gọi là các triệu
chứng ngoài ruột, tần số biểu hiện lâm sàng ngoài ruột tư 6 - 47% , . Các bệnh lý
ngoài ruột bao gồm: viêm khớp, loét miệng,loãng xương, viêm xơ đường mật
tiên phát, viêm màng bồ đào, viêm mủ da hoại thư, huyết khối tĩnh mạch sâu,...
Việc phát hiện các triệu chứng ngoài ruột có thể theo dõi tiến trình lâm sàng của
bệnh và đáp ứng tốt với liệu pháp điều trị bệnh .
Năm 2009, Yasemin Ozin và CS nghiên cứu trên bệnh nhân VLĐTTCM
tại Thổ Nhĩ Kỳ. Kết quả cho thấy bệnh khớp cấp tính gặp 3,0%, viêm khớp cùng
chậu 1,2%, Bệnh cột sống cứng khớp 1,0%, ban đỏ nút 0,2% và không gặp viêm
màng mạch nhỏ.
9
Năm 2002, XueLiang Jiang phân tích đặc điểm bệnh VLĐTTCM trên
tổng số 10218 bệnh nhân được báo cáo trong các tài liệu y văn Trung Quốc. Kết
quả cho thấy gặp 6,1% bệnh nhân có triệu chứng ngoài ruột .
Năm 2015, Gabriela Fonseca-Camarillo nghiên cứu 40 bệnh nhân
VLĐTTCM. Tác giả thấy 73,0% bệnh khớp, 13,0% sưng ống gan xơ hóa
nguyên phát, 6,7% ban đỏ nút, 20,0% viêm khớp cùng chậu, 6,7% viêm da mủ
hoại thư .
Năm 2015, Mustafa Qureshi và CS nghiên cứu 54 bệnh nhân VLĐTTCM
gặp viêm khớp gặp là 5 bệnh nhân, viêm màng mạch nhỏ là 2 bệnh nhân, viêm
khớp cùng chậu gặp 2 bệnh nhân, viêm khớp 1 bên và các vị trí bị bệnh là khớp
gối gặp 3 bệnh nhân và không gặp bệnh nhân viêm cột sống cứng khớp .
Tại Việt Nam, các triệu chứng ngoài đường tiêu hóa đã có hai nghiên cứu
đề cập đến, nghiên cứu của Vũ Văn Khiên và CS gặp 7,5% bệnh nhân có viêm
khớp và 5% bệnh nhân có viêm niêm mạc miệng . Nghiên cứu của Lê Thị Kim
Liên không gặp trường hợp nào có biểu hiện các tổn thương ngoài đường tiêu
hóa .
mạnh thì tốc độ máu lắng càng tăng . CRPhs là một trong những xét nghiệm có
giá trị trong giai đoạn viêm cấp tính. Tuy xét nghiệm này không đủ tính đặc hiệu
để chẩn đoán một bệnh lý nào đó nhưng nó có thể giúp ích với vai trò là một chỉ
điểm tổng quát cho viêm nhiễm. Trong cơ thể, CRP được gan bài tiết để đáp ứng
với tình trạng viêm và các cytokine và nó được điều hoà bởi IL-6, tăng mạnh khi
kết hợp với IL-1β. Hiện tượng hiệp lực này xảy ra do điều hòa tổng hợp CRP ở
mức độ tịnh tiến bởi IL-1β. CRP có tương quan thuận rất chặt chẽ giữa thời gian,
cường độ kích thích và nồng độ của nó đạt đỉnh cao nhất là do sự kích hoạt tế
bào gan theo hướng dòng máu: đầu tiên cytokine đến tế bào gan ở gần khoang
cửa và kích hoạt thêm các tế bào gan. Người ta thấy, CRP tăng trong huyết thanh
ở bệnh VLĐTTCM là do các bạch cầu đơn nhân, đại thực bào và các cytokine
tác động hợp đồng bài tiết. Do đó, trên lâm sàng ứng dụng xét nghiệm CRPhs để
đánh giá mức độ tiến triển của phản ứng viêm nhất là đối với các bệnh mạn tính
như bệnh lý viêm ruột, viêm khớp và các bệnh tự miễn…, .
Nghiên cứu của Enver Dolar (1998) cho thấy số lượng trung bình của bạch
cầu trong 1mm3 máu, CRP và máu lắng tăng trong giai đoạn hoạt động của bệnh
lần lượt là 8894 ± 4467, 37,2 ± 55,3 và 71,0 ± 34,6 với p
Albumin
≥ 35
(g/l)
< 35
Khúc Đình Nguyễn
Lê
Thị Mai
Đình
Minh
Thị Thu Kim Liên Minh
Hiền
90,0
65
52,9
35,9
10,0
35
47,1
64,1
35
30,8
17,7
65
69,2
3.5
35
53,8
31,4
2.6 - 3,4
55,0
10,0
46,2
2,6
62,7
2.5
5,9
Gần đây, sự tiến bộ của miễn dịch người ta thấy vai trò của các kháng thể
trong sinh bệnh học về viêm và vai trò đáp ứng miễn dịch của cơ thể vật chủ .
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy bệnh VLĐTTCM có liên quan đến cơ chế
miễn dịch thông qua các nghiên cứu về cytokine và globulin miễn dịch.
Globulin huyết thanh là kháng thể dịch thể được tạo ra do quá trình đáp
ứng miễn dịch nên còn được gọi là globulin miễn dịch . Dựa vào cấu trúc và tính
khác biệt kháng nguyên của các phân tử globulin miễn dịch người ta phân chúng
thành các lớp sau:
IL-13. Vì vậy, người ta đã sử dụng kháng thể đơn clon kháng IL-4 để nhằm ức
chế sản xuất IgE , .
Năm 1986, Levo Y và CS nghiên cứu đánh giá nồng độ IgE trong huyết
thanh và các globulin miễn dịch ở bệnh nhân IBD. Các tác giả thấy có tăng nồng
độ IgG và IgM trong huyết thanh khi IgA ở mức bình thường. Nồng độ IgE
trong huyết thanh tăng đáng kể ở VLĐTTCM và Crohn. Các bệnh nhân IBD tái
phát bệnh là có mức IgE cao nhất .
Về điện di protein, đã được nghiên cứu trong bệnh VLĐTTCM tư những
năm 1950. Các kết quả cho thấy có sự thay đổi các phần protein.
Năm 1971, B. Weeke và CS nghiên cứu nồng độ 19 protein huyết thanh
bằng phương pháp điện di ở 42 bệnh nhân Crohn và 36 bệnh nhân VLĐTTCM.
Các kết quả được so sánh ghép cặp với 78 người khỏe mạnh. Kết quả cho thấy
có sự gia tăng rõ rệt của α1 và α2 được trình bày trong bảng dưới đây.
Bảng 1.6. Kết quả điện di protein huyết thanh ở bệnh IBD
Nhóm
n
Người khỏe mạnh
Crohn
VLĐTTCM
78
42
36
α1
4.7
6.6
6.9
điểm phổ biến nhất trên nội soi đại tràng ở nhóm bệnh có ban đỏ (100%), tiếp
theo là mất mạng máu dưới niêm mạc (85,19%) . Ngoài các tổn thương mất
mạng máu bình thường và xuất hiện các ban đỏ còn có các biểu hiện tiếp theo
nếu tổn thương nặng hơn là niêm mạc phù nề, sung huyết, mủn, có thể chảy máu
niêm mạc tự phát. Các ổ loét nông hoặc sâu tập trung thành tưng đám hoặc rải
rác và có thể thấy ở đại tràng sigma, đại tràng xuống hoặc lan tỏa khắp đại tràng.
Trên ổ loét có nhày trắng hoặc mủ, máu bầm tím hoặc máu tươi. Có thể gặp hình
ảnh giả polyp gồ lên vào trong lòng đại tràng .
Nội soi đại tràng đóng vai trò quan trọng và chủ yếu trong chẩn đoán xác
định bệnh VLĐTTCM . Quá trình nội soi không chỉ nhận định tính chất tổn
thương mà còn biết được vị trí tổn thương. Các tổn thương thường mang tính
chất liên tục không có vùng niêm mạc lành xen kẽ và thường được bắt đầu tư
trực tràng sau đó lan dần lên đại tràng sigma, đại tràng lên. Như vậy, các tổn
thương thường xuất hiện ở đại tràng trái nhiều hơn so với đại tràng phải .
Hình ảnh tổn thương niêm mạc đại tràng trên nội soi qua một số nghiên
cứu cho thấy mất các mạng máu dưới niêm mạc; niêm mạc mất rãnh ngang, phù
nề, sung huyết kèm theo ổ loét nông có giả mạc bám chiếm tỷ lệ khá cao. Các
hình thái tổn thương đại tràng được trình bày trong bảng dưới đây:
Bảng 1.11.Tỷ lệ tổn thương đại tràng thông qua một số nghiên cứu
Tác giả
Hình ảnh tổn thương (%)
Mất hình ảnh bình thường của
mạch máu dưới niêm mạc.
Niêm mạc phù nề xung huyết.
Loét nông
Có giả polyp
Có giả mạc
Có máu
Nguyễn
Mai
Đình
Minh
92,2
78,4
52,9
60,8
31,4
Ưu điểm của nội soi đại tràng là quan sát, đánh giá các tổn thương về mặt
đại thể cũng như theo dõi hiệu quả của quá trình điều trị và qua nội soi có thể
sinh thiết làm xét nghiệm mô bệnh học. Trong giai đoạn hoạt động bệnh
VLĐTTCM được xác định bằng sự hiện diện của bạch cầu đa nhân trung tính
15
liên quan đến tổn thương tế bào biểu mô và trong giai đoạn không hoạt động
được xác định là sự thay đổi cấu trúc và tăng bạch cầu đơn nhân trong biểu mô
liên kết .
Giá trị và lý do sinh thiết làm mô bệnh học đối với bệnh VLĐTTCM gồm
có: xác định chẩn đoán, phân biệt VLĐTTCM và bệnh Crohn , , loại trư loạn
sản , loại trư bệnh lý kết hợp hoặc biến chứng . Tư đó có thể đánh giá được
mức độ hoạt động của bệnh và có thể dự báo tái phát bệnh , , và phạm vi lan
rộng của tổn thương , .
Trên Thế giới, Seldenrijk(1991) dựa trên tập hợp 41 tiêu chuẩn mô
bệnh học để đưa ra chẩn đoán phân biệt VLĐTTCM, Crohn và các bệnh viêm
đại tràng cấp do vi khuẩn. Seldenrijk nhận thấy rằng dựa trên sự kết hợp ba
đặc điểm: tăng lympho bào và tương bào ở mô đệm, khe hốc chia nhánh, bạch
cầu đa nhân trung tính trong mô khe hốc (apxe khe hốc) cho phép chẩn đoán
vưa là 60%, 12% mức độ nặng .
Ngoài đánh giá lâm sàng và nội soi thì mô bệnh học cũng là một trong
những tiêu chuẩn quan trọng để chẩn đoán bệnh. Giới hạn tổn thương trên mô
bệnh học là chỉ tổn thương ở lớp niêm mạc, dưới niêm mạc, không tổn thương
đến lớp cơ; biểu mô phủ bong tróc, mất bằng phẳng; cấu trúc khe tuyến bất
thường (ngắn lại, mất song song, chia nhánh, giảm số lượng tế bào hình đài
hoặc tế bào hình đài cạn kiệt chất nhày); tương bào thâm nhập xuống mô
đệm; áp xe khe hốc; xuất huyết niêm mạc, các mạch máu sung huyết .
Trên thực tế, trong nước đã có một số nghiên cứu đánh giá tổn thương mô
bệnh học ở bệnh nhân VLĐTTCM. Kết quả cho thấy tổn thương thương mô bệnh
học chiếm tỷ lệ cao là các tuyến không đều chia nhánh hình ảnh lan tỏa. Nghiên
cứu của Lê Thị Kim Liên cho thấy tổn thương này chiếm tỷ lệ 83,7%; nghiên cứu
của Mai Đình Minh(2016) là 94,1% và Nguyễn Văn Hưng là 97,1%. Tiếp theo là
sự hiện diện và xâm nhập của tương bào và lympho bào ở vùng đáy của các khe
tuyến. Nghiên cứu của Lê Thị Kim Liên cho thấy có 91,9%; Mai Đình Minh và
Nguyễn Văn Hưng cho thấy tỷ lệ 100%. Và trong các nghiên cứu cũng cho thấy sự
thay đổi của các tế bào bề mặt biểu mô và mất chất nhày mucin. Nghiên cứu của Lê
Thị Kim Liên biểu mô bề mặt bị bào mòn/loét chiếm tỷ lệ 89,2%, tiếp đến là
nghiên cứu Mai Đình Minh, Nguyễn Văn Hưng cũng chiếm tỷ khá cao lần lượt là
90,2% và 100%. Tiếp đến là tổn thương mất chất nhày mucin theo nghiên cứu của
Lê Thị Kim Liên là 89,2% và nghiên cứu Mai Đình Minh, Nguyễn Văn Hưng là
98,0% và 72% , , .
Qua xét nghiệm mô bệnh học, người ta có thể đánh giá mức độ hoạt động của
viêm trên mô bệnh học. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hưng (7,3% ca độ 1;
11,8% ca độ 2; 8,8% ca độ 3; 2,9% ca độ 4 và độ 5; 1,4 ca độ 6 và 1,6 ca độ 7) ; Mai
Đình Minh (2016) là 33,3% ca độ nhẹ; 39,2% ca độ vưa và 27,5% ca độ nặng ; Lê
Thị Kim Liên là 10,3% ca độ nhẹ 51,2% ca mức độ vưa, 38,5% ca độ nặng .
17