Chuyên đề tốt nghiệp “Giải pháp tăng cường huy động tiền gửi tiết kiệm tại NH Á Châu Đà Nẵng – Cầu vồng” pot - Pdf 19


TRƯỜNG …………………
KHOA………………………
[\[\

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP

Đề tài: Giải pháp tăng cường huy
động tiền gửi tiết kiệm tại NH
Á Châu Đà Nẵng – Cầu vồng
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
Thabunsuc Thalongsin 1
LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan những nội dung, số liệu được trình bày trong chuyên đề này
là đúng sự thật. Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung của chuyên đề này. Sinh viên thực hiện

Tuy nhien, do là lưu học sinh còn hạn chế về ngôn ngữ cũng như sự hiểu biết
về tiếng việt và do hạn chế về thời gian nghiên cứu và thực tập, nên cắc chắn chyên
đêd này sẽ có những khiêm khuyết và không tránh khỏi sự sai sót nhất định . Em
rất mong ngận được sự quan tâm xem xét và những ý khiến đóng góp quý báu của
các thấy cô giáo, các anh chị tại Ngân hàng và các bạn Việt Nam.

Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
Thabunsuc Thalongsin 3 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

NHTM Ngân hàng thương mại
TCKT Tổ chức kinh tế
TCTD Tổ chức tín dụng
TGTK Tiền gửi tiết kiệm
NH Ngân hàng
KH Khách hàng

Cầu Vồng qua 2 năm 2007-2008
Bảng 4: Tình hình huy động tiền gửi dân cư tại NH ACB Đà Nẵng – PGD
Cầu Vồng qua 2 năm 2007-2008
Bảng 5: Biến động tiền gửi tiết kiệm theo loại tiền huy động tại NH ACB Đà
Nẵng – PGD Cầu Vồng qua 2 năm 2007-2008
Bảng 6: Biến động tiền gửi tiết kiệm theo thời gian gửi tại NH ACB Đà Nẵng
– PGD Cầu Vồng qua 2 năm 2007-2008
Bảng 7: Biến động tiền gửi tiết kiệm theo kỳ hạn tại NH ACB Đà Nẵng –
PGD Cầu Vồng qua 2 năm 2007-2008
Bảng 8: Biến động tiền gửi tiết kiệm theo loại hình sản phẩm tại NH ACB
Đà Nẵng – PGD Cầu Vồng qua 2 năm 2007-2008

Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
Thabunsuc Thalongsin 5

LỜI MỞ ĐẦU

Cũng như nhiều tổ chức kinh doanh khác, nguồn vốn đóng một vai trò quan
trọng trong hoạt động kinh doanh của NH, trong đó nguồn vốn huy động có ý
nghĩa quyết định, là cơ sở để NH tiến hành các hoạt động cho vay, đầu tư, dự trữ…
mang lại lợi nhuận cho NH. Để có được nguồn vốn này, NH cần phải tiến hành các

Chương III: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh huy động tiền gửi tiết
kiệm tại NH Á Châu ĐN
Mặc dù đã có nhiều cố gắng học hỏi các cô chú, anh chị ở ngân hàng cùng
với sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo, thạc sĩ Hồ Hữu Tiến và sự cố gắng của
bản thân nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiết sót, rất mong sự góp ý
của các anh chị, cô chú ở ngân hàng và bạn đọc để chuyên đề này được hoàn thiện
hơn.

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2009
Sinh viên thực hiện
Thabunsuc Thalongsin Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
Thabunsuc Thalongsin 7

Chương I: NHTM và hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm
1.1 NHTM

ngân hàng là các tài sản tài chính hay còn gọi là các hình thức trái quyền (như cổ
phiếu, trái phiếu và các khoản cho vay), thay vì tài sản thực như nhà cửa, công cụ
và nguyên vật liệu.
Huy động vốn được rồi, NHTM phải làm thể nào để hiệu quả hoá những
nguồn tài sản này. Hầu như tất cả các khoản mục bên tài sản nợ của ngân hàng đều
là vốn vay, nghĩa là ngân hàng phải trả lãi suất cho nó đến từng giờ. Do đó để khỏi
bị thiệt hại, ngân hàng luôn luôn phải cho vay hoặc đầu tư ngay số tài sản ấy vào
những dịch vụ sinh lãi. Từ lãi thu được, ngân hàng sẽ dùng nó để trả lãi suất cho
vốn đã vay, thanh toán các chi phí trong hoạt động, phần còn lại sẽ là lợi nhuận của
ngân hàng. Nói cách khác, nghiệp vụ có của ngân hàng là những nghiệp vụ thực
hiện sử dụng những khoản vốn đã huy động (tập trung ở nghiệp vụ nợ) nhằm mục
đích sinh lợi.
1.1.3.3 Các hoạt động khác
Các hoạt động này không thể hiện trên bảng cân đối tài sản. Các hoạt động
này ít rủi ro hay không có rủi ro nhưng mang lại cho NH thu nhập cao và tạo điều
kiện cho hoạt động nhận tiền ký thác và cho vay của NH
1.2 Vốn và hoạt động huy động vốn của NHTM
1.2.1 Khái niệm về nguồn vốn huy động của NHTM
Nguồn vốn huy động là những khoản tiền và tài sản của các chủ sở hưũ khác
nhau trong xã hội mà ngân hàng được phép thu hút và sử dụng với trách nhiệm
hoàn trả đầy đủ và đúng hạn cả gốc và lãi. Nguồn vốn huy động là nguồn tài
nguyên to lớn nhất và bao gồm tiền gởi không kì hạn của đơn vị, cá nhân ; tiền gởi
tiết kiệm không kỳ hạn ; tiền gởi tiết kiệm có kỳ hạn ; tiền phát hành kỳ phiếu và
trái phiếu ; các khoản tiền gởi khác.
1.2.2 Cơ cấu nguồn vốn huy động của NHTM
1.2.2.1 Tiền gửi (ký thác)
Muốn làm ngân hàng cần có vốn riêng. Tuy nhiên số vốn riêng chỉ là một tỉ lệ
nhỏ so với số tiền mà ngân hàng cho vay. Số vốn riêng của ngân hàng thường chỉ
để mua sắm, trang bị trụ sở ngân hàng. Trong thực tế, số tiền mà ngân hàng cho
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng

thích thanh toán bằng các phương thức không dùng tiền mặt hơn là bằng tiền mặt.
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
Thabunsuc Thalongsin 10

Ở Việt Nam, tiền gửi không kỳ hạn được hiểu là loại tiền gửi mà khách hàng
có thể rút ra bất cứ lúc nào và ngân hàng phải thực hiện theo yêu cầu này. Tiền gửi
không kỳ hạn bao gồm:
+ Tiền gửi thanh toán.
Là loại tiền gửi được ký thác vào ngân hàng để thực hiện các khoản chi trả
trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Đây là một bộ phận tiền đang
chờ thanh toán mà không phải là tiền để dành, do vậy khách hàng gửi tiền không
mất quyền sử dụng số tiền này. Họ có thể rút ra, chuyển nhượng hoặc chi trả trong
thanh toán bất kỳ lúc nào theo yêu cầu.
+ Tiền gửi không kỳ hạn (thuần tuý).
Đây là loại tiền gửi thể hiện khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của khách hàng, họ
gửi tiền vào ngân hàng không mang tính chất để thanh toán mà nhằm mục đích an
toàn tài sản, khi cần khách hàng đến ngân hàng rút tiền để chi tiêu.
- Tiền gửi có kỳ hạn
Là loại tiền gửi được uỷ thác vào ngân hàng mà có sự thoả thuận về thời gian
rút tiền giữa khách hàng và ngân hàng. Như vậy về nguyên tắc khách hàng gửi tiền
chỉ được rút tiền ra, khi đến hạn đã thoả thuận.
Nó có dạng như một khoản tiền vay của ngân hàng nhưng không thể hiện
bằng một phiếu khoán. Nó là một ngoại lệ của quy tắc khả dụng, bởi vì ngân hàng
chỉ phải hoàn lại số tiền ký thác vào ngày đáo hạn ghi trên hợp đồng.
Hiện nay các NHTM Việt Nam đang áp dụng hai loại tiền gửi định kỳ:
+ Tiền gửi định kỳ theo tài khoản.
+ Tiền gửi định kỳ dưới hình thức phát hành kỳ phiếu ngân hàng.
1.2.2.2 Phát hành chứng từ
Đặc điểm của nguồn vốn này là lãi suất rất cao nhưng tính chất ổn định cũng
khá cao, không được rút trước hạn với bất kỳ lý do nào, muốn rút vốn chỉ có thể

mức lãi suất chiết khấu hoặc lãi suất phạt cao hay thấp thế nào đi nữa, nó vẫn phải
cho các NHTG vay khi họ kẹt thanh khoản để tránh những khủng hoảng tài chính
không đáng xảy ra.
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
Thabunsuc Thalongsin 12

Dù vay ít hay nhiều, vay thường xuyên hay chỉ thỉnh thoảng một năm đôi ba
lần, dịch vụ vay từ NHTW vẫn là một khoản mục hiển nhiên trong tài sản nợ, vì
không có NHTG nào mà chưa hề vay của NHTW bao giờ kể từ khi thành lập. thời
gian vay ngắn hay dài, hiệu quả của tiền vay cao hay thấp là phụ thuộc vào lãi suất
chiết khấu của NHTW và mức tiền vay của các NHTG.
Như vậy NHTW luôn luôn là chủ nợ của hệ thống ngân hàng. Nhưng đây
cũng là vấn đề dễ bị nhầm lẫn. Vị trí chủ nợ này là cần thiết để NHTW có thể điều
tiết việc mở rộng khối lượng tiền tệ và giám sát hệ thống NHTG. Chính vì vậy các
NHTM không bao giờ được phép gửi tiền có lãi tại NHTW, vì điều đó sẽ chôn vùi
vị trí chủ nợ của NHTW. Nếu các ngân hàng gửi tiền tại NHTW thì đó chỉ thuần
tuý là việc dự trữ không có lãi. Nếu NHTW là người nợ trực tiếp của hệ thống
NHTM thì khi đó nó không còn có khả năng tác động trực tiếp vào sự gia tăng khối
lượng tiền tệ bằng chính sách tiền tệ của mình, vì bất cứ lúc nào các NHTM cũng
có thể rút tiền của họ. Mối quan hệ hữu cơ giữa thị trường tiền tệ và thị trường tín
dụng bị phá vỡ và NHTW bị mất đi khả năng điều tiết của mình.
NHTW cấp tín dụng cho NHTG qua hai hình thức chính:
- Tái chiết khấu (hoặc chiết khấu) hay còn gọi là tái cấp vốn.
- Thế chấp (prisen en pesion) hay ứng trước (advances) có bảo đảm hay
không bảo đảm.
Ở Việt Nam hiện nay, có các loại cho vay của NHNN đối với NHTM như sau:
- Cho vay bổ sung nguồn vốn tín dụng ngắn hạn: là hình thức tài trợ vốn theo
kế hoạch, chỉ phân phối cho các NHTM quốc doanh.
- Chiết khấu và tái chiết khấu trái phiếu kho bạc, khế ước mà các ngân hàng
đã cho các khách hàng vay chưa đáo hạn và các thương phiếu.

rộng hoạt động kinh doanh của ngân hàng, tăng khả năng cạnh tranh cho ngân
hàng. Ngoài ra việc huy động vốn sẽ kiểm soát được khối lượng tiền gửi vào ngân
hàng góp phần ổn định tiền tệ.
Vì vây, tăng cường huy động vốn có một ý nghĩa quan trọng trong sự phát
triển của các NH hiện nay. Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
Thabunsuc Thalongsin 14

1.3 Huy động tiền gửi tiết kiệm của NHTM
1.3.1 Khái niệm và ý nghĩa tiền gửi, tiết kiệm
NHTM là trung gian tín dụng nhưng không đơn thuần là trung gian giữa
người gửi tiền và người vay tiền; nghĩa là dùng tiền của người gửi chuyển sang
người vay mà hoạt động của nó còn phức tạp hơn thế nhiều.
Tiền gởi chính là toàn bộ khoản tiền mà khách hàng gởi vào trong NH để
hưởng lãi hay sử dụng các dịch vụ tiện ích của NH.
Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi
tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ
chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo
hiểm tiền gửi.
Nếu căn cứ vào mục đích của người gởi chia thành:
+ An toàn, tích lũy
+ Hưởng lãi
Nếu căn cứ vào thời hạn chia thành:
+ Tiền gửi không kỳ hạn
+ Tiền gửi có kỳ hạn
1.3.2 Phân loại tiền gửi tiết kiệm
1.3.2.1 Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
Mục đích của loại tiền gửi này là nhằm nhờ NH cất trữ, bảo quản hộ tài sản,

Ngược lại nếu lạm phát cao, kinh tế suy thoái, chính trị xã hội có sự biến động
chắc sẽ gây khó khăn cho việc thu hút vốn của ngân hàng.
1.4.2 Nhóm nhân tố thuộc chính sách Nhà nước
- Chính sách về thu nhập: chính phủ cần có một chính sách thu nhập hợp lý
như về chính sách tiền lương, chính sách trợ cấp, sẽ tạo thu nhập ổn định cho
người lao động thì người dân sẽ có phần tiết kiệm gởi vào ngân hàng
- Chính sách về lãi suất: nếu NHTW đưa ra một mức lãi suất cùng với biên độ
biến động phù hợp với tình hình kinh tế thì các NHTM trên cơ sở đó sẽ đưa ra mức
lãi suất linh hoạt hấp dẫn thu hút nhiều khách hàng hơn.
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
Thabunsuc Thalongsin 16

- Chính sách tiết kiệm: Khuyến khiïch các đơn vị kinh tế và các nhân dân cư
thực hiện tiết kiệm tránh lãng phí để dùng vốn nhàn rỗi đầu tư phát triển kinh tế
- Chính sách thuế Chính sách thuế ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và tiết
kiệm của dân cư, tổ chức kinh tế vì vậy ảnh hưởng đến việc gởi tiền và ngân hàng
của các đối tượng này.
- Chính sách đầu tư : Chính phủ cần có chính sách khuyến khích đầu tư, mở
rộng sản xuất kinh doanh tạo điều kiện để kinh tế phát triển, tạo điều kiện cho hoạt
động thu hút vốn của các ngân hàng cho đầu tư phát triển kinh tế.
1.4.3 Nhóm nhân tố thuộc khách hàng
Tâm lý của khách hàng là một nhân tố ảnh hưởng lớn đến việc gởi tiền của
khách hàng vào ngân hàng vì nếu khách hàng tin tưởng vào ngân hàng an tâm hơn
để ở nhà. Nếu khách hàng không tin vào ngân hàng, hoặc họ sợ lạm phát, chiến
tranh xảy ra thì thì điều này chắc chắn h ọ sẽ không gởi tiền vào ngân hàng
Thu nhập của dân cư cũng ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu gởi tiền vì khi thu
nhập của người dân đã đủ chi tiêu hằng ngày, phần còn lại để dành. Do vậy nếu
thu nhập của dân cư cao thì nhu cầu gởi tiết kiệm sẽ cao hơn nếu ngân hàng có
những chính sách huy động hấp dẫn.
Thói quen gởi tiền ở nhà của người dân như thích sử dụng tiền mặt hoặc để

của mọi cá nhân theo các loại kỳ hạn khác nhau.
Tổ chức tín dụng phi ngân hàng được nhận tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn từ một
năm trở lên của mọi cá nhân.
Đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, tổ chức tín
dụng 100% vốn nước ngoài, phạm vi nhận tiền gửi tiết kiệm được thực hiện theo
quy định hiện hành của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về đối tượng gửi tiền, kỳ
hạn và mức huy động tối đa.
Các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng được nhận tiền gửi tiết kiệm theo
quy định tại giấy phép hoạt động và các văn bản pháp luật khác có liên quan về tiền
gửi tiết kiệm.
Việc nhận tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ chỉ áp dụng đối với các tổ chức
nhận tiền gửi tiết kiệm được phép hoạt động ngoại hối và phải phù hợp với quy
định hiện hành của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về quản lý ngoại hối.
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
Thabunsuc Thalongsin 18

1.5.3 Quy chế bảo hiểm tiền gửi
Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có trách nhiệm nộp cho tổ chức bảo hiểm
tiền gửi các báo cáo theo quy định của tổ chức bảo hiểm tiền gửi.
Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phải báo cáo ngay với tổ chức bảo hiểm
tiền gửi trong những trường hợp sau đây:
a) Gặp khó khăn về khả năng chi trả;
b) Khi thay đổi các thành viên Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Tổng Giám
đốc (Giám đốc).
Trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày kết thúc năm tài chính, tổ chức tham gia
bảo hiểm tiền gửi có trách nhiệm gửi cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi các báo cáo tài
chính năm.
Khi phát hiện tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi vi phạm các quy định về an
toàn trong hoạt động ngân hàng, tổ chức bảo hiểm tiền gửi có quyền yêu cầu tổ
chức tham gia bảo hiểm tiền gửi thực hiện các biện pháp chấn chỉnh, đồng thời báo

định.
Tổ chức bảo hiểm tiền gửi chỉ tiến hành các biện pháp hỗ trợ sau khi xác định
rằng việc tiếp tục hoạt động của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đang gặp
khó khăn có vai trò quan trọng đối với sự bảo đảm an toàn của toàn hệ thống và sự
ổn định chính trị, kinh tế và xã hội.
Khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền có
văn bản chấm dứt hoạt động và tổ chức đó mất khả năng thanh toán, tổ chức bảo
hiểm tiền gửi có trách nhiệm chi trả tiền gửi được bảo hiểm của người gửi tiền tại
tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo nguyên tắc được qui định tại Điều 4 của
Nghị định này.
Số tiền gửi (gồm gốc và lãi) vượt quá mức tối đa được tổ chức bảo hiểm tiền
gửi chi trả sẽ được trả cho người gửi tiền trong quá trình thanh lý tài sản của tổ
chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phù hợp với qui định của Luật Phá sản.
Việc chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền được thực hiện thông qua các
ngân hàng, hoặc theo thoả thuận với người gửi tiền.
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
Thabunsuc Thalongsin 20

Việc chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền hoặc người được ủy quyền hợp
pháp, được thực hiện căn cứ vào danh sách những người gửi tiền do tổ chức bảo
hiểm tiền gửi phối hợp với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lập và căn cứ vào
các chứng từ hợp lệ.
Trong trường hợp vốn hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi tạm thời
không đủ để hỗ trợ các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi gặp khó khăn về khả
năng chi trả hoặc để chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền tại tổ chức tham gia
bảo hiểm tiền gửi bị phá sản, tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải báo cáo Ngân hàng
Nhà nước để Ngân hàng Nhà nước trình Thủ tướng Chính phủ xem xét cho phép tổ
chức bảo hiểm tiền gửi được vay của tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác có bảo
lãnh của Chính phủ.
Trường hợp tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị phá sản, thì tổ chức bảo

hàng thương mại và các ngân hàng quốc doanh trên cùng điạ bàn, Ngân hàng
thương mại cổ phần Á Châu mở thêm PDG Cầu Vồng vào ngày 16/08/2005 để mở
rộng thị phần của ngân hàng Á Châu và phát triển kênh phân phối để đáp ứng một
cách nhanh nhất nhu cầu các khách hàng. Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
PGD Cầu Vồng từ khi thành lập đến nay đã không ngừng đổi mới, nâng cấp cơ sở
vật chất kỹ thuật, gia tăng số lượng nhân viên về số lượng và chất lượng phục vụ
với mục đích cuồi cùng là tạo sự thoả mãn tối đa cho khách hàng khi tiếp cận với
hệ thống ngân hàng.
 Hiện nay, PGD ACB ở Cầu Vồng có 26 nhân viên nghiệp vụ, 04 nhân viên
bảo vệ và 01 nhân viên tạp vụ.
2.1.2 Chức năng và nghiệp vụ của NH Á Châu ĐN – PGD Cầu Vồng
- Huy động vốn ngắn hạn, trung và dài hạn dưới hình thức tiền gửi của các
pháp nhân, cá nhân trong nước và ngoài nước bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ,
vàng theo quy định Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng thương mại cổ phần Á
Châu .
- Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn bằng đồng Viêt Nam và ngoại tệ, vàng
đối với các tổ chức kinh tế và cá nhân trên địa bàn theo sự uỷ nhiệm của giám đốc
Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu Đà Nẵng.
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
Thabunsuc Thalongsin 22

- Được phép vay, cho vay đối với các định chế tài chính trong nước, thực hiện
và quản lý các nghiệp vụ bảo lãnh, thanh toán quốc tế, nghiệp vụ mua bán, chiết
khấu các chứng từ có giá theo đúng quy định của Ngân hàng nhà nước
- Thực hiện quản lý mua bán ngoại tệ, chi trả kiều hối, chuyển tiền nhanh, thẻ
thanh toán quốc tế và nội địa. Khi có nhu cầu, Ngân hàng thực hiện mua bán vàng-
đồng thời thực hiện công tác hoạch toán kế toán theo đúng chế độ của Nhà nước,
Ngân hàng Nhà nước và của Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu.
- Chấp hành tốt chế độ quản lý tiền tệ, kho quỹ của Ngân hàng Nhà nước và
của các Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu. Bảo quản các chứng từ có giá,

- Phòng kinh doanh: có chức năng kinh doanh, phát triển các dịch vụ ngân hàng
gồm
+ Bộ phận tín dụng: thực hiện các nghiệp vụ cho vay, thẩm định và tổ chức
theo dõi các khoản vay, đề xuất các phương án giải quyết các vấn đề liên quan đến
hoạt động tín dụng và bảo lãnh của PGD.
+ Pháp lý chứng từ và thẩm định tài sản: nhiệm vụ kiểm tra tính pháp lý của
bộ hồ sơ, soạn thảo hợp đồng, đi công chứng với khách hàng, đăng ký thế chấp
theo quy định.
Trưởng phòng

Hành chính
BP
Kinh doanh

BP
Giao dịch

Pháp lý
chứng từ
& Thẩm
định tài
sản
Loan
CSR

Teller
Ngân
Quỹ
CSR
Phân

của mình thì ngân hàng cần có một nguồn vốn ổn định để mở rộng qui mô kinh
doanh của mình, đây là nhiệm vụ quan trọng mà ngân hàng sẽ thực hiện trong thời
gian tới. Trước tiên ta sẽ xem xét diễn biến của nguồn vốn tại NH Á Châu Đà Nẵng
– Cầu vồng trong thời gian qua đã có những biến động gì theo sự phát triển của xã
hội.

Trích đoạn Tích cực tìm kiếm nguồn tiền gửi nhàn rỗi từ công chúng Cải tiến và đổi mới công nghệ ngân hàng Đa dạng hoá cách ình thức tiền gửi tiết kiệm trong dân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status