Thực trạng tăng cường huy động tiền gửi tiết kiệm tại NH Á Châu ĐN phòng
giao dịch Cầu Vồng
2.1 Khái quát về NH Á Châu ĐN – phòng giao dịch Cầu Vồng
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của NH Á Châu ĐN – phòng giao dịch
Cầu Vồng
Nhằm mở rộng quy mô hoạt động và thực hiện những dự kiến, kế hoạch phát triển
của Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu, theo quyết định số 212/QĐ-NH15 ký ngày
13/08/1996, Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu Đà Nẵng đã được thành lập và đã
chính thức đi vào hoạt động vào ngày 08/01/1997, trụ sở chính được đặt tại 16 Thái Phiên
– Đà Nẵng. Cùng với sự phát triển của các ngân hàng thương mại và các ngân hàng quốc
doanh trên cùng điạ bàn, Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu mở thêm PDG Cầu Vồng
vào ngày 16/08/2005 để mở rộng thị phần của ngân hàng Á Châu và phát triển kênh phân
phối để đáp ứng một cách nhanh nhất nhu cầu các khách hàng. Ngân hàng thương mại cổ
phần Á Châu PGD Cầu Vồng từ khi thành lập đến nay đã không ngừng đổi mới, nâng cấp
cơ sở vật chất kỹ thuật, gia tăng số lượng nhân viên về số lượng và chất lượng phục vụ với
mục đích cuồi cùng là tạo sự thoả mãn tối đa cho khách hàng khi tiếp cận với hệ thống
ngân hàng.
− Hiện nay, PGD ACB ở Cầu Vồng có 26 nhân viên nghiệp vụ, 04 nhân viên bảo vệ và 01
nhân viên tạp vụ.
2.1.2 Chức năng và nghiệp vụ của NH Á Châu ĐN – PGD Cầu Vồng
- Huy động vốn ngắn hạn, trung và dài hạn dưới hình thức tiền gửi của các pháp nhân,
cá nhân trong nước và ngoài nước bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ, vàng theo quy định
Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu .
- Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn bằng đồng Viêt Nam và ngoại tệ, vàng đối với
các tổ chức kinh tế và cá nhân trên địa bàn theo sự uỷ nhiệm của giám đốc Ngân hàng
thương mại cổ phần Á Châu Đà Nẵng.
- Được phép vay, cho vay đối với các định chế tài chính trong nước, thực hiện và
quản lý các nghiệp vụ bảo lãnh, thanh toán quốc tế, nghiệp vụ mua bán, chiết khấu các
chứng từ có giá theo đúng quy định của Ngân hàng nhà nước
- Thực hiện quản lý mua bán ngoại tệ, chi trả kiều hối, chuyển tiền nhanh, thẻ thanh
toán quốc tế và nội địa. Khi có nhu cầu, Ngân hàng thực hiện mua bán vàng- đồng thời
PGD, chịu trách nhiệm trước tổng giám đốc, giám đốc và trước pháp luật về các hoạt động
của PGD .
- Phòng kinh doanh: có chức năng kinh doanh, phát triển các dịch vụ ngân hàng gồm
+ Bộ phận tín dụng: thực hiện các nghiệp vụ cho vay, thẩm định và tổ chức theo dõi
các khoản vay, đề xuất các phương án giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động tín
dụng và bảo lãnh của PGD.
+ Pháp lý chứng từ và thẩm định tài sản: nhiệm vụ kiểm tra tính pháp lý của bộ hồ sơ,
soạn thảo hợp đồng, đi công chứng với khách hàng, đăng ký thế chấp theo quy định.
+ Loan CSR (quản lý tài khoản và dịch vụ khách hàng): mở tài khoản cho khách
hàng, tìm kiếm thông tin khách hàng, thực hiện việc giải ngân, thanh lý hợp đồng, quản lí
nhắc nợ và theo dõi khoản vay.
- Bộ phận giao dịch (gồm Teller, ngân quỹ và CSR): Hướng dẫn thủ tục mở và sử
dụng tài khoản, thực hiện và quản lý các nghiệp vụ liên quan đến các loại tài khoản của
khách hàng, thực hiện các giao dịch và dịch vụ khách hàng, có nhiệm vụ quản lý các tài
khoản tiền gửi của khách hàng, nắm tình hình nguồn vốn và sử dụng vốn, quản lý, kiểm tra
và tổ chức hạch toán thu nhập, chi phí cũng như tài sản khác của PGD.
- Phòng hành chính : phụ trách phân phối công văn tài liệu đến và đi, nhận đề xuất và
giải quyết nhu cầu về văn phòng phẩm và thực hiện các nghiệp vụ hành chính khác.
2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh tại NH Á Châu ĐN
2.2.1 Tình hình về nguồn vốn và sử dụng vốn
2.2.1.1 Tình hình chung về nguồn vốn
Nguồn vốn là cái ban đầu mà bất cứ một nhà kinh doanh nào cũng cần phải có để
thực hiện những ý đồ mà mình muốn thực hiện. Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị
trường thì yếu tố cạnh tranh là một trong những yếu tố hàng đầu không thể thiếu được.
Hiện nay trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có rất nhiều ngân hàng đang hoạt động, chưa kể
đến sự sắp ra đời một số các ngân hàng sẽ được hoạt động tại đây khi Việt Nam thực hiện
các cam kết như đã kí kết theo các hiệp định thương mại. Như vậy hoạt động kinh doanh
của NH Á Châu Đà Nẵng – Cầu vồng trong thời gian tới cũng gặp không ít khó khăn, để
tăng cường năng lực cạnh tranh của mình thì ngân hàng cần có một nguồn vốn ổn định để
mở rộng qui mô kinh doanh của mình, đây là nhiệm vụ quan trọng mà ngân hàng sẽ thực
Năm 2007 qui mô của các khoản vay tại ngân hàng là 10.711 triệu đồng chiếm
5,28%, sang năm 2008 thì khoản vốn vay này giảm xuống còn 4,8% ứng với số tiền là
12699 triệu đồng với tốc độ tăng so với năm 2007 là 18,56%. Qua đây cho thấy ngoài
nguồn vốn huy động thì ngân hàng còn cần có nguồn khác nữa để đảm bảo cho khả năng
mở rộng nguồn vốn đáp ứng cho hoạt động cho vay của mình.
Trong năm 2007 thanh toán vốn tại NH chiếm 15,79% trong tổng nguồn vốn tại ngân
hàng tương ứng với số tiền là 32.012 triệu đồng. Sang năm 2008 thì chỉ tiêu này giảm
xuống mức 25.890 triệu đồng chiếm 9,79%, như vậy có thể thấy trong năm 2008 vừa qua
lượng vốn do NH mẹ chuyển về cho NH đã ít đi. Điều đó phản ánh được thực trạng của
NH đã dần dần làm chủ được nguồn vốn của mình, tiến tới sử dụng nguồn vốn huy động
để đáp ứng các hoạt động của NH.
2.2.1.2 Tình hình huy động vốn
Bảng 2: Tình hình huy động vốn tại NH ACB Đà Nẵng – PGD Cầu Vồng qua 2 năm
2007-2008
Đvt: triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008
Chênh lệch (%)
Số tiền Tỷ lệ (%)
Nguồn vốn huy động 144937 208721 63784 44,01
Tiền gửi thanh toán
Tiền gửi tiết kiệm
Ký quỹ
11755,63
131751,37
1430
12520,47
195699,22
501,3
764,84
63947,85
cũng cần phải chú trọng để nâng cao lượng tiền ký quỹ, tạo một nguồn huy động lâu dài
cho chi nhánh.
2.2.1.3 Tình hình chung về hoạt động tín dụng
Hiện nay hoạt động tín dụng vẫn là một trong những hoạt động chủ yếu của các
NHTM nói chung và NH ACB-PGD Cầu vồng nói riêng. Vì vậy dựa vào kết quả của hoạt
động cấp tín dụng, ta có thể phần nào đánh giá được hoạt động của NH trong thời gian qua
và nhận ra một số xu hướng phát triển cho những năm sắp tới. Dựa vào bảng tình hình cấp
tín dụng qua 2 năm 2007-2008, chúng ta có thể thấy được phần nào những điều đó.
Bảng 3: Tình hình chung về hoạt động tín dụng tại NH ACB Đà Nẵng – PGD Cầu
Vồng qua 2 năm 2007-2008
Đvt: triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm 2007 Năm 2008 Chênh lệch
Số tiền
Tỷ trọng
(%)
Số tiền
Tỷ trọng
(%)
Số tiền
Tỷ lệ
(%)
Tổng dư nợ cho
vay
150975,8 100
158150,
4
100 7174,6 4,75
Trong đó:
-Ngắn hạn
hạn(%)
- 0,094 0,094
Qua bảng số liệu trên ta thấy, tổng dư nợ cho vay của chi nhánh năm 2008 đạt
158150,4 triệu đồng, tăng về tuyệt đối là 7174,6 triệu đồng, tương đương tăng 4,75% so
với năm 2007. Trong đó, dư nợ cho vay ngắn hạn năm 2008 đạt 88089,8 triệu đồng, chiếm
55,7% trong tổng dư nợ cho vay của chi nhánh, tăng về tuyệt đối là 5053,08 triệu đồng,
tương đương tỷ lệ tăng là 6,08% so với năm 2007. Dư nợ cho vay trung dài hạn năm 2008
đạt 70060,65 triệu đồng, chiếm 44,3% trong tổng dư nợ cho vay, tăng về tuyệt đối là
2121,52 triệu đồng, tương ứng tăng 3,12% so với năm 2007. Mặc dù tổng dư nợ cho vay
năm 2008 tăng không nhiều so với năm 2007, tuy nhiên, trong tình hình kinh tế xã hội khó
khăn như vừa qua thì có được kết quả này là thành tựu đáng khích lệ, đó là nhờ sự nổ lực
phấn đấu của Ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ nhân viên toàn chi nhánh.
Về dư nợ quá hạn : năm 2008 dư nợ quá hạn tăng so với năm 2007. Năm 2007, chi
nhánh không có dư nợ quá hạn nhưng đến cuối năm 2008, dư nợ qúa hạn là 149 triệu
đồng, trong đó dư nợ qúa hạn cho vay ngắn hạn là 125 triệu đồng, chiếm 83,9% trong tổng
dư nợ qúa hạn của chi nhánh; dư nợ qúa hạn cho vay trung dài hạn là 26 triệu đồng, chiếm
16,1% tổng dư nợ qúa hạn của chi nhánh năm 2008. Sở dĩ dư nợ qúa hạn của chi nhánh
năm 2008 tăng cũng là điều dễ hiểu. Trong năm qua, tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam
biến động phức tạp, ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cũng
như đời sống dân cư. Chính điều này đã làm cho hoạt động thu nợ của chi nhánh gặp nhiều
khó khăn, khả năng trả nợ của khách hàng giảm, do đó dư nợ qúa hạn của chi nhánh gia
tăng. Vì vậy trong thời gian tới chi nhánh cần chú trọng hơn nữa đến chất lượng công tác
thẩm định cũng như đẩy mạnh các biện pháp thu nợ để giảm thiểu dư nợ qúa hạn đến mức
thấp nhất có thể.